Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế tại NHCT khu vực ba đình
I/ Tình hình hoạt động kinh doanh của NHCT Ba Đình
1. Một số nét về NHCT Ba Đình
NHCT khu vực Ba Đình được thành lập năm 1961 với tư cách là 1 chi
nhánh của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quận Ba Đình. Vì vậy NH hoạt động
với 2 chức năng là quản lý nhà nước và kinh doanh tiền tệ.
Nghị định 53/HĐBT ban hành ngày 26/03/1988 đã tạo tiền đề cho quá
trình đổi mới hoạt động Ngân hàng
Sau quyết định 402/CT của Chủ tịch HĐBT ngày 14/11/1993 về việc
thành lập NHCT Việt Nam, Ngân hàng Ba Đình trở thành chi nhánh của NHCT
Hà Nội. Theo quyết định số 93/NHCT-TCCB của Tổng giám đốc NHCT Việt Nam
(1/4/1996), NHCT Ba Đình hoạt động với tư cách là chi nhánh của NHCT Việt
Nam, có trách nhiệm tiến hành các hoạt động kinh doanh theo các quyết định
mà NHCT Việt Nam ban hành về việc áp dụng các hình thức huy động vốn, cho
vay, thanh toán, áp dụng biểu lãi suất như đã quy định và tiến hành các dịch vụ
Ngân hàng khác.
Từ đó đến nay, hoạt động kinh doanh của NHCT Ba Đình được ổn định và
phát triển theo 4 định hướng lớn của ngành, góp phần thúc đẩy tăng trưởng
kinh tế, kiềm chế lạm phát, thực hiện có hiệu quả chính sách tiền tệ, đưa lại
hiệu quả kinh doanh cao hơn so với những năm trước.
Theo quy định mới đây NHCT khu vực Ba Đình là một chi nhánh Ngân
hàng phụ thuộc NHCT Việt Nam chứ không phải là trực thuộc.
2 Cơ cấu, tổ chức của NHCT khu vực Ba Đình
Chi nhánh NHCT khu vực Ba Đình là chi nhánh khá lớn mạnh với số cán
bộ, công nhân viên hơn 300 người, trong đó hơn 60% có trình độ cao đẳng, đại
học và trên đại học.
Chi nhánh có Ban giám đốc gồm 5 người:
- 1 giám đốc phụ trách chung và đồng thời trực tiếp chỉ đạo hoạt động
tín dụng
- 4 phó giám đốc phụ trách riêng từng phòng ban và những lĩnh vực cụ
thể
+ Vốn huy động ngoại tệ quy VND đạt 183 tỷ tăng 3% so cuối năm 2000
*) Tổng nguồn vốn huy động bình quân năm 2001 đạt 1149 tỷ tăng
18,17% so bình quân của năm 2000. Trong đó:
+ Vốn huy động bình quân VND đạt 975 tỷ tăng 18,17%
+ Vốn huy động bình quân ngoại tệ quy VND đạt 174 tỷ tăng 16%
*) Về cơ cấu huy động vốn đến cuối năm 2001:
+ Tiền gửi của các tổ chức kinh tế đạt gần 454 tỷ chiếm 35,7%
+ Tiền gửi tiết kiệm của dân cư và huy động bằng kỳ phiếu đạt gần 817,6
tỷ chiếm 64,31%, trong đó kỳ phiếu đạt 73,32 tỷ chiếm 5,76%
3.2 Về công tác sử dụng vốn
*) Tổng dư nợ và đầu tư kinh doanh bình quân của năm 2001 đạt 593 tỷ
tăng 18,6% so với sử dụng vốn bình quân năm 2000. Trong đó:
+ Cho vay ngắn hạn bình quân đạt 472 tỷ tăng 19,54%
+ Cho vay trung dài hạn bình quân đạt 104 tỷ tăng 17,31%
*) Tổng dư nợ cuối năm 2001 đạt 552 tỷ so với cuối năm 2000 giảm 4 tỷ.
Trong đó:
+ Dư nợ ngắn hạn 444 tỷ giảm 12 tỷ
+ Dư nợ trung dài hạn 108 tỷ tăng 8 tỷ
+ Nợ quá hạn 15,286 tỷ, chiếm tỷ trọng 2,7% tổng dư nợ, giảm 0,6% so
năm 2000
Nhìn chung năm 2001 tốc độ cho vay cả ngắn hạn và trung dài hạn đều
tăng từ 17 đến xấp xỉ 20%, song dư nợ cuối năm giảm 0,72% so với dư nợ cuối
năm 2000. Lý do là các doanh nghiệp bị tác động tâm lý về thuế giá trị gia tăng
nên trong quý 4 năm 2001 tập trung tiêu thụ hàng tồn kho, đặc biệt là các
doanh nghiệp kinh doanh hàng nhập khẩu và nguyên liệu ngoại nhập.
II/ Thực trạng hoạt động TTQT tại NHCT khu vực Ba Đình
1. Sự ra đời, phát triển và kết quả của hoạt động TTQT tại NHCT
Ba Đình
Kể từ năm 1993 do sự biến động về tình hình kinh tế, chính trị, xã hội
trong nước cũng như trên thế giới đã làm cho hoạt động sản xuất kinh doanh
Ban đầu Chi nhánh có gặp rất nhiều khó khăn do chưa có kinh nghiệm
trong lĩnh vực này, nhưng được sự chỉ đạo sâu sát của các cấp lãnh đạo NHCT
Việt Nam cùng với trình độ chuyên môn và sức sáng tạo của đội ngũ cán bộ
làm công tác kinh doanh đối ngoại, Chi nhánh NHCT Ba Đình đã đạt được rất
nhiều kết quả khả quan trong hoạt động kinh doanh hết sức mới mẻ này
Biểu 1: Bảng báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
năm 1999, 2000, 2001
Đơn vị: 1000
Năm 1999 2000 2001 So sánh
2001/2000
Nội dung
1. Kinh doanh ngoại tệ
USD + Mua
+ Bán
151.333
150.228
43.570
44.410
47.053
44.821
108%
101%
DEM + Mua
+ Bán
2.206
2.202
3.082
3.111
2.257
2.244
4. Thanh toán L/C
L/C nhập khẩu (USD) 43.710 41.655 34.952 84%
L/C xuất khẩu (USD) 621 174 1.100 632%
5. Thanh toán nhờ thu
Nhờ thu đến (USD) 321 774 1.789 231%
Nhờ thu đi (USD) 1.070 1.166 727 62%
6. Phí thu từ hoạt động TTQT
(VND)
3.039.000 3.100.000 3.000.000 98%
7. Tổng thu từ hoạt động kinh
doanh đối ngoại (VND) 4.367.000 5.125.000 7.600.000 148%
8. % trên lợi nhuận ròng 15,9% 16% 34%
Qua bảng số liệu trên ta thấy hoạt động kinh doanh đối ngoại của Chi
nhánh nói chung là có hiệu quả mặc dù phí thu từ hoạt động TTQT đến năm
2001 đạt 3.000.000.000 VND giảm so với các năm trước, cụ thể là giảm -2% so
với năm 2000, giảm -1% so với năm 1999, tuy nhiên tổng thu từ hoạt động
kinh doanh đối ngoại tăng lên đáng kể đạt 7.600.000.000 VND, tăng +48% so
với năm 2000, tăng +74% so với năm 1999. Điều này chứng tỏ NHCT Ba Đình
đã chú trọng vào việc mở rộng và phát triển hơn nữa các loại hình thanh toán
khác, qua đó Chi nhánh đã tạo được uy tín lớn đối với Ngân hàng nước ngoài
và với các khách hàng của mình. Đó cũng chính là hình ảnh của các thanh toán
viên phòng kinh doanh đối ngoại mặc dù khối lượng nghiệp vụ TTQT lớn
nhưng họ luôn đảm bảo chất lượng kinh doanh của ngân hàng, cố gắng không
để sai sót nào làm ảnh hưởng đến quyền lợi của khách hàng cũng như uy tín
của Chi nhánh. Họ tận tuỵ trong công việc sát sao trong từng nghiệp vụ. Họ tư
vấn giúp khách hàng lựa chọn hình thức thanh toán thích hợp, điều tra thông
tin của khách hàng đối tác để tránh rủi ro trong quá trình thực hiện hợp đồng
xuất nhập khẩu. Đây không chỉ là nghiệp vụ mới đối với Chi nhánh NHCT Ba
Đình mà còn đối với nền kinh tế nói chung, nó có ý nghĩa thiết thực đối với
quyền lợi của khách hàng và cũng chính là một trong những mục tiêu của
cho các Chi nhánh theo từng loại ngoại tệ và thực hiện tính lãi cho các Chi
nhánh. Các Chi nhánh được yêu cầu NHCT Việt Nam chuyển đổi từ loại ngoại tệ
này sang loại ngoại tệ khác. Hàng quý, NHCT Việt Nam thông báo hạn mức sử
dụng ngoại tệ cho từng Chi nhánh (bao gồm hạn mức tối thiểu và hạn mức gia
tăng) để Chi nhánh chủ động trong việc giải quyết các mối quan hệ với khách
hàng. Nếu Chi nhánh có nhu cầu tăng thêm phải báo cáo ngay về NHCT Việt
Nam. Việc thanh toán ngoại tệ trong nội bộ hệ thống NHCT Việt Nam, giữa hệ
thống NHCT Việt Nam với các ngân hàng khác hệ thống và các ngân hàng
nước ngoài, việc mở L/C và thông báo L/C đều được thực hiện trên máy vi tính
theo một chương trình phần mềm thống nhất.
Mọi quy trình của nghiệp vụ TTQT đều được thực hiện theo quyết định số
26/NHCT - QĐ ngày 1/3/1999 của Tổng giám đốc NHCT Việt Nam, quyết định
số 311/NHCT - KT ngày 23/3/1997 về việc hướng dẫn hạch toán kế toán ngoại
tệ và bản “Quy tắc và thực hành thống nhất về tín dụng chứng từ” của Phòng
thương mại quốc tế năm 1996 số 500 (UCP-500).
Sau một thời gian hoạt động với các nghiệp vụ TTQT, Chi nhánh đã đạt
được một số thành tích đáng khích lệ như sau:
Biểu 2: Tình hình hoạt động TTQT tại NHCT Ba Đình
Đơn vị: 1000USD
Phương thức 1999 2000 2001
1. Thanh toán T/T 4.728 8.556 19.695
2. Thanh toán nhờ
thu
1.391 1.940 2.516
3. Thanh toán L/C 44.331 41.829 36.052
Cộng 50.450 52.325 58.263
NSL: Báo cáo kết quả kinh doanh đối ngoại năm 1999, 2000, 2001
Qua bảng số liệu trên ta thấy mặc dù nghiệp vụ TTQT mới được triển khai
nhưng đã có bước phát triển đáng kể. Năm 1999 doanh số TTQT đạt được
50.450.000 USD thì sang năm 2000 doanh số đã lên tới 52.325.000 USD với tốc
a
a
a
Ghi chú:
Người chuyển tiền, người hưởng có thoả thuận thanh toán
Người chuyển tiền lệnh cho Chi nhánh trả tiền theo thoả thuận
Người chuyển Người hưởng
N.H.C.T Việt Nam
Chi nhánh Ngân h ng à
người hưởng
Ngân h ng à đại lý loại A
a Chi nhánh ghi nợ tài khoản khách hàng
Chi nhánh lệnh cho NHCT Việt Nam thanh toán
a NHCT Việt Nam báo nợ Chi nhánh
NHCT Việt Nam lệnh cho Ngân hàng đại lý thanh toán cho người
hưởng
a Ngân hàng đại lý ghi nợ tài khoản NOSTRO của NHCT Việt Nam
Ngân hàng đại lý A thanh toán cho Ngân hàng của người hưởng
Ngân hàng người hưởng báo có cho người hưởng
Tiếp nhận hồ sơ liên quan đến việc chuyển tiền bao gồm các chứng từ sau:
+ Hợp đồng mua bán ngoại thương
+ Bộ chứng từ gửi hàng của người xuất khẩu gửi đến
+ Giấy phép kinh doanh xuất nhập khẩu
Thanh toán viên kiểm tra thấy phù hợp thì vào tập tin MT100 để chuyển
về Hội sở NHCT chuyển tiếp ra nước ngoài cho người hưởng.
Khách hàng có nhu cầu thanh toán bằng ngoại tệ lập chứng từ gửi đến
Chi nhánh (Ngân hàng khởi tạo lệnh thanh toán), Chi nhánh kiểm tra tính hợp
pháp, hợp lệ của chứng từ, số dư tiền gửi hoặc hạn mức tín dụng của Ngân
Người chuyển tiền, người hưởng có thoả thuận thanh toán
Người chuyển tiền lệnh cho Ngân hàng của mình trả tiền theo thoả
thuận
a Ngân hàng chuyển tiền ghi nợ tài khoản khách hàng
Ngân hàng chuyển tiền thanh toán qua Ngân hàng trung gian
a Ngân hàng trung gian ghi nợ Ngân hàng chuyển
Ngân hàng trung gian chuyển tiền qua NHCT Việt Nam
NHCT Việt Nam báo có cho Chi nhánh
Chi nhánh thanh toán cho người hưởng
Đối với nghiệp vụ này hiện nay NHCT Ba Đình đã hoàn toàn thực hiện
qua mạng máy tính. Khi nhận được lệnh chuyển tiền đến từ các Ngân hàng
nước ngoài hoặc các Ngân hàng khác hệ thống trên lãnh thổ Việt Nam cho
Người chuyển Người hưởng
N.H.C.T Việt Nam
Ngân h ng chuyà ển
Chi nhánh
Ngân h ng à
trung gian
người nhận có giao dịch với Chi nhánh NHCT thì Phòng TTQT hội sở chính căn
cứ vào thanh toán chuyển tiền đến lập lệnh thanh toán, kiểm soát, tính ký hiệu
mật và chuyển bằng Modem về Phòng thông tin điện toán NHCT Việt Nam để
chuyển tiếp cho Chi nhánh nhận. Tại đây sau khi nhận được bức điện, tiến hành
giải mã, kiểm soát, phục hồi chứng từ và hạch toán theo nội dung của bức điện.
Chi nhánh không có trách nhiệm gì giữa các bên liên quan mà chỉ làm trung
gian chuyển tiền và có trách nhiệm pháp lý với Ngân hàng phát lệnh chuyển
tiền.
2.1.3 Kết quả đạt được của nghiệp vụ thanh toán chuyển tiền
Biểu 3: Kết quả TTQT theo phương thức chuyển tiền tại NHCT Ba Đình
Đơn vị: 1000 USD
Năm Tổng kim ngạch
Số món 676 312 410 -54% +31%
Số tiền (1000 USD) 500 1200 2100 +140% +75%
Tỷ trọng trong phương
thức chuyển tiền
10,6% 14% 10,7%
NSL: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh đối ngoại 1999, 2000, 2001
Bảng số liệu cho thấy năm 2000 có sự sụt giảm về số lượng chỉ còn 312
món (giảm -364 món) với tốc độ giảm -54%, tuy nhiên về doanh số thì có sự
gia tăng mạnh gấp hơn 2 lần năm 1999 đạt 1.200.000 USD với tốc độ tăng
+140%. Giải thích về nguyên nhân của sự gia tăng về doanh số và giảm về số
lượng là do diễn biến không ổn định của tỷ giá trong năm 2000, cung cầu
ngoại tệ trên thị trường không cân bằng, nhiều cá nhân và tổ chức có xu
hướng giữ ngoại tệ trong khi đó hầu hết các món là do khách hàng ở nước
ngoài chuyển về trong nước theo dạng kiều hối. Do đó mà số lượng khách hàng
sử dụng phương thức chuyển tiền đến giảm qua đó số lượng cũng giảm theo.
Nhưng cùng với việc phát triển bảo lãnh dự thầu mà các nhà thầu chuyển tiền
qua Chi nhánh với những món tiền khá lớn, do đó mà doanh số chuyển tiền qua
Ngân hàng tăng mạnh.
Đến năm 2001 lại có sự gia tăng mạnh về số lượng và trị giá, số lượng đạt
410 món tăng +98 món với tốc độ tăng +31% so với năm 2000, trị giá của các
món chuyển tiền đến đạt 2.100.000 USD gấp gần 2 lần năm 2000, với tốc độ
tăng +75% chậm hơn so với năm 2000. Sỡ dĩ là vì Ngân hàng luôn là người
bạn đáng tin cậy đối với khách hàng, uy tín của Ngân hàng dần được tạo lập.
Khách hàng nhận ra rằng việc chuyển tiền qua Ngân hàng dễ dàng, an toàn và
nhanh chóng cộng với sự nhiệt tình, ân cần của các thanh toán viên đã làm
tăng nhanh doanh số chuyển tiền. Qua đó phí thu từ hoạt động TTQT tăng qua
các năm và đã góp phần tăng thêm lợi nhuận cho Ngân hàng.
Biểu 3.2: kim ngạch thanh toán chuyển tiền đi ở NHCT Ba Đình
Năm 1999 2000 2001 2000/1999 2001/2000
Số món 94 233 387 +148% +66%
phi mậu dịch, thanh toán các chi phí liên quan đến xuất nhập khẩu, kiều hối,
trả nợ... Nếu áp dụng trong thanh toán xuất nhập khẩu thì chủ yếu là với khách
hàng quen biết có tín nhiệm cao.
2.2 Nghiệp vụ thanh toán nhờ thu
2.2.1 Quy trình thanh toán nhờ thu đi
Quy trình
Thanh toán nhờ thu đi trong hệ thống NHCT Việt Nam
(áp dụng cho tất cả các chi nhánh)
Ghi chú:
Người mua, người bán ký hợp đồng ngoại thương
Người bán thực hiện dịch vụ hoặc giao hàng
Người bán trình chứng từ nhờ thu qua Chi nhánh
Chi nhánh gửi chứng từ nhờ thu (trực tiếp hoặc qua NHCT Việt Nam)
Ngân hàng người mua thông báo nhờ thu cho người mua
Người mua thanh toán hoặc chấp nhận thanh toán đổi chứng từ
Ngân hàng người mua thanh toán cho Chi nhánh qua NHCT Việt Nam
NHCT Việt Nam báo có cho Chi nhánh
Chi nhánh thanh toán cho người bán
Người mua đi nhận hàng
*) Tiếp nhận và xử lý chứng từ
Chi nhánh được phép trực tiếp nhận chứng từ nhờ thu của khách hàng và
trực tiếp gửi bộ chứng từ kèm chỉ dẫn thanh toán đến Ngân hàng của người
trả tiền theo thông lệ Quốc tế, theo phương thức chuyển phát nhanh qua bưu
Người mua