Thực trạng hoạt động thanh toán quốc tế theo phương thức tín
dụng chứng từ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
(Vietcombank)
I. TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG NGOẠI THƯƠNG VIỆT NAM
(NHNTVN)
1. Lịch sử hình thành NHNTVN
NHNTVN được thành lập vào ngày 1/4/1963, đến 1/4/2003 tới đây
NHNTVN đã có tròn 40 năm xây dựng và phát triển, so với tuổi đời một con
người thì đây chính là thời kỳ chín muồi về tri thức cũng như nở rộ về tài năng.
Trước đây, NHNTVN là Cục ngoại hối của NHNN VN. Ngay từ khi mới chào
đời, NHNT VN đã phải đối mặt với các thử thách to lớn của công cuộc xây dựng
miền Bắc XHCN và công cuộc đấu tranh gian khổ của đồng bào miền Nam
nhằm thống nhất hoàn toàn nước nhà. Là ngân hàng chuyên doanh đối ngoại
duy nhất thời bấy giờ của Việt Nam, NHNTVN đã có những bước tiến thần kỳ,
góp phần hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ phục vụ cho việc mở rộng các quan hệ
kinh tế đối ngoại, làm thất bại hoàn toàn âm mưu phong toả kinh tế của các
lực lượng thù địch, trực tiếp tham gia chi viện một số lượng lớn ngoại tệ và vật
tư kỹ thuật cho chiến trường. Năm 1975, miền Nam được hoàn toàn giảI phóng
đã mở ra một trang sử mới cho đất nước. Trong bao nhiêu bộn bề của thời kỳ
kiến thiết đất nước, NHNTVN vẫn giữ được vai trò quan trọng của một ngân
hàng chuyên doanh đối ngoại, phục vụ cho việc tăng cường quan hệ kinh tế
quốc tế, thương mại quốc tế, thực hiện nhiệm vụ khôI phục và xây dựng lại nền
kinh tế đất nước theo con đường XHCN (1975- 1986). Những thành công và
thất bại trong thời cơ chế quản lý tập trung quan liêu bao cấp đã trở thành
những bàI học, kinh nghiệm quý báu cho NHNTVN khi bước vào thời kỳ mở
cửa, nền kinh tế chuyển sang kinh tế thị trường có sự quản lý và điều tiết của
Nhà nước.(1986 đến nay).
Trong bối cảnh đó, NHNTVN đã từng bước thay đổi, thích nghi dần với cơ
chế thị trường và có những đóng góp tích cực cho việc phát triển nền kinh tế,
thông qua việc huy động một nguồn vốn lớn trong xã hội để đầu tư phục vụ
mục tiêu tăng trưởng kinh tế và thực thi chính sách tiền tệ theo định hướng
diện,đơn vị sự nghiệp, công ty trực thuộc NHNTVN.
Các chi nhánh phụ thuộc chi nhánh cấp I (gọi là chi nhánh cấp II).
Các phòng giao dịch, quỹ tiết kiệm phụ thuộc sở giao dịch, chi nhánh cấp
I, chi nhánh cấp II
SƠ ĐỒ TỔ CHỨC
Hội
đồng
Quản trị
Sở giao dịch 23 chi nhánh
Các công ty con
Mạng lưới trong nước
Hội
đồng
Tín dụng
Ban
tổng
Giám đốc
Công ty tài chính Vinafico
Tại Hồng Kông
Văn phòng đại diện tại
Paris, Moscow, Singapore
Mạng lưới ngo i nà ước
Phòng kế toán tài chính
Phòng vốn
Ban kiểm
Soát
Trụ sở chính
quyết định những vấn đề thuộc thẩm quyền và trách nhiệm của mình.
+ Ban kiểm soát:
Nhiệm vụ và quyền hạn của Ban kiểm soát:
Kiểm tra hoạt động tài chính của NHNTVN, giám sát việc chấp hành
chế độ hạch toán, hoạt động của hệ thống kiểm tra, kiểm toán nội bộ
của NHNT.
Thẩm định báo cáo tài chính hàng năm của NHNT, thường xuyên
thông báo với HĐQT về kết quả hoạt động tài chính.
Kiến nghị biện pháp bổ sung, sửa đổi, cải tiến hoạt động tài chính
củaNHNT.
Kiểm tra, giám sát hoạt động điều hành của Tổng giám đốc.
Được yêu cầu các cá nhân và đơn vị phụ thuộc, trực thuộc giải trình,
xuất trình các hồ sơ liên quan đến công việc để phục vụ kiểm tra, kiểm
soát, thẩm định.
- Tổng giám đốc :
Tổng giám đốc NHNT là người điều hành NHNT, là đại diện pháp nhân của
NHNT, là người chịu trách nhiệm trước HĐQT, trước pháp luật về điều hành
hoạt động của NHNT.
Giúp việc cho TGĐ có 5 Phó TGĐ, Kế toán trưởng và bộ máy các phòng ban
chuyên môn, nghiệp vụ.
2.2.Cơ cấu tổ chức bộ máy giúp việc:
-Trụ sở chính NHNT có khoảng 50 phòng ban được chia thành 2 khối:
+Khối trung ương thực hiện công tác vỉ mô, điều hành quản lý chế độ chung
toàn hệ thống ngân hàng, gồm các phòng như phòng Tổ chức cán bộ, phòng
Nguồn vốn, phòng Quản lý tín dụng…
+Khối thứ hai là sở giao dịch gồm các phòng thực hiện nghiệp vụ ngân
hàng như phòng Thanh toán xuất khẩu, phòng Thanh toán nhập khẩu, phòng
Tín dụng ngắn hạn, phòng Dự án, phòng Thẩm định đầu tư và chứng khoán,
phòng Thanh toán thẻ, phòng Khách hàng…
-NHNT hiện có 23 chi nhánh trên toàn quốc.
n ă m 2 0 1 n ă m 2 0 2
Chỉ tiêu VND USD Quy VND VND USD Quy VND
NV ước
2001
% so
2000
NV ước
2001
% so
2000
NV ước
2001
% so
2000
NV ước
2002
% so
2001
Nv ước
2002
% so
2001
Nv ước
2002
% so
2001
Tổng nguồn vốn
18360 15,6% 3249 5,67% 67232 10,9% 25119 36,8% 3485 7% 78659 17%
I. Vốn điều lệ và các
quỹ
Đóng góp vào mức độ tăng nay chủ yếu là do tăng nguồn vốn bằng VND, với tốc độ tăng 36,8% so
với năm 2001, đạt 25.119 tỷ VND. Nguồn vốn ngoại tệ tăng trong vòng 6 tháng đầu năm nhưng 6
tháng cuối năm giảm nên cả năm chỉ tăng 7% so với năm 2001, đạt 3485 Tr.USD. Tỷ trọng ngoại tệ
đã bị thu hẹp hơn và VND được nâng lên trong tổng nguồn vốn.
Để nâng cao nguồn vốn, Vietcombank một mặt vẫn tiếp tục các giải pháp đa dạng hoá các hình
thức huy động vốn, áp dụng chính sách lãi suất huy động linh hoạt, cạnh tranh, mặt khác đã áp
dụng các biện pháp sử dụng vốn có hiệu quả.
1.2. Công tác huy động vốn
Nguồn vốn huy động của Vietcombank đến 31/12/2002 ước đạt 69.531 tỷ quy VND, chiếm
88,4% tổng nguồn vốn, tăng 16% so với năm 2001. Nhìn chung huy động vốn bằng VND tăng trên cả
2 thị trường, còn huy động vốn bằng ngoại tệ chỉ tăng trên thị trườngI. Tổng số dư huy động vốn
bằng VND đến cuối năm 2002 ước đạt 19.298 tỷ VND, tăng 34% so với năm 2001 (năm 2001 đạt
14.369 tỷ VND), chiếm 27,8% tổng nguồn vốn huy động. Huy động vốn bằng ngoại tệ đến cuối năm
2002 đạt 3270 Tr.USD, tăng 7,8% so với năm 2001.
1.2.1. Nguồn vốn huy động từ thị trường I
Trong năm qua, công tác vón đã được chú trọng và tăng cường. Bên cạnh việc triển khai Quy
chế quản lý vốn tập trung nhằm điều chỉnh vốn linh hoạt, tăng cường hiệu quả sử dụng vốn,
Vietcombank còn tích cực thực hiện chính sách lãi suất linh hoạt, đa dạng hình thức huy động vốn,
đưa vào các kỳ hạn huy động tiết kiệm ngắn hơn, thực hiện tốt công tác khách hàng. Nhờ đó mà các
chỉ tiêu huy động vốn từ thị trường I đạt được rất khả quan. Thị trường I là thị trường đối với các
tổ chức phi tài chính và dân cư. Trong năm 1999, NHNN đã 5 lần hạ trần lãi suất cho vay nên lãi
suất huy động vốn của Vietcombank cũng liên tiếp hạ thấp nhưng nguồn vốn huy động từ thị trường
I vẫn tăng trưởng liên tục ở mức khá cao. Tổng số nguồn vốn huy động trên thị trường I đến cuối
năm 2002 đạt 60.257 tỷ quy VND, tăng 21% so với năm 2001. So với 31/12/2001 tỷ trọng vốn huy
động từ thị trường I trong tổng nguồn vốn tăng từ 69,2% lên 70%. Nguồn vốn ngoại tệ đạt
2780Tr.USD, tăng13% so với năm 2001 nguồn vốn VND đạt 17.556 tỷVND, tăng 38%so với năm
2001.
1.2.2. Nguồn vốn huy động từ trị trường II
Thị trường II là thị trường có mối quan hệ với các tổ chức tín dụng, Ngân hàng Nhà nước và
Ngân sách Nhà nước. Đặc trưng của tiền gửi huy động ở thị trường này là không ổn định cả về số
Sử dụng vốn trên thị trường II là tỷ quy VND, chiếm tỷ trọng % tổng vốn sử dụng, trong đó tiền
gửi tại các tổ chức nước ngoài là Tr.USD (tương đương tỷ VND) chiếm đến % vốn sử dụng trên thị
trường II.
Sử dụng vốn khác (bao gồm cả tài sản cố định, vốn góp liên doanh mua cổ phần, tài sản xiết
nợ..) là tỷ quy VND, chiếm tỷ trọng % tổng vốn sử dụng.
2.Tình hình hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu tại Vietcombank những năm gần đây
Thanh toán xuất nhập khẩu là một trong những nghiệp vụ truyền thống và cũng là thế mạnh
của Vietcombank. Với mạng lưới đại lý gồm 1.300 ngân hàng tại 85 nước trên thế giới, hoạt động
thanh toán quốc tế không ngừng được củng cố và mở rộng.
Vietcombank đã tham gia vào hệ thống thanh toán toàn cầu, là thành viên của hiệp hội ngân
hàng Châu á, thành viên của Uỷ ban buôn bán Việt- úc, thành viên của tổ chức thẻ quốc tế: VisaCard,
MasterCard, AmericanExpress. Do đó, Vetcombank trên trường quốc tế có vị thế và uy tín rất lớn.
Trong cơ chế mới, tuy thị phần thanh toán xuất nhập khẩu bị giảm sút do có sự cạnh tranh gay
gắt nhưng giá trị tuyệt đối của kim ngạch thanh toán vẫn gia tăng, Vietcombank vẫn luôn duy trì
được vị trí dẫn đầu của mình trong lĩnh vực thanh toán quốc tế. Có được như vậy là do Vietcombank
có cơ sở vật chất, kỹ thuật hoàn thiện và hiện đại, đội ngũ thanh toán viên có trình độ nghiệp vụ
chuyên môn cao, đặc biệt là được bạn hàng tín nhiệm thông qua việc mở các tài khoản tiền gửi,
thanh toán và sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng.
Một số kết quả thanh toán xuất nhập khẩu của Vietcombank trong những năm gần đây.
Bảng 3: Kim ngạch thanh toán xuất nhập khẩu qua Vietcombank so với cả nước.
Đơn vị: Tr.USD
Tổng kim ngạch Thanh toán XNK qua Vietcombank
Năm thanh toán XNK cả
nước
Tổng kim
ngạch
Tốc độ tăng
trưởng (%)
Tỷ trọng so
với cả nước
Tăng
giảm
thị phần
Doanh
số
Thị
phần
Doanh
số
Thị phần
Tổng doanh số
thanh toán XNK
9171 31,1% 9328 30,2% 1,7% -0,9%
Doanh số thanh
toán XK
4161 29,1% 4485 29,9% 7,7% 0,8%
Doanh số thanh
toán NK
5010 33% 4843 30,5% -3,3% -2,5%
(Nguồn : Báo cáo thường niên của Vietcombank năm 2000, 2001)
-Thanh toán xuất khẩu:
Doanh số thanh toán xuất khẩu qua Vietcombank năm 2001 đạt 4485 Tr.USD, tăng 7,8% so với
năm 2000, đưa thị phần của Vietcombank trong tổng kim ngạch thanh toán xuất khẩu của cả nước
đạt đến 29,9% tăng 0,8% so với năm 2000.
Một số mặt hàng xuất khẩu có tỷ trọng cao trong doanh số thanh toán xuất qua Vietcombank
năm 2001 là: dầu thô (đạt 2199 Tr.USD), thuỷ sản (đạt 507 Tr.USD), gạo (đạt 289 Tr,USD), dệt may
(đạt 75 Tr.USD), thủ công mỹ nghệ (đạt 42 Tr.USD), giày dép (đạt 27 Tr.USD).
Hai chi nhánh chiếm tỷ trọng lớn trong hệ thống về thanh toán xuất là: VCB Hồ Chí Minh 49%,
VCB Vũng Tàu 22%.
Đạt được kết quả trên là do Vietcombank đã có những cố gắng trong việc thúc đẩy thanh toán
năm 2001; trong đó doanh số mua vào là 3514 Tr.USD, tăng 13,1% so với năm 2001; doanh số bán
ra là 3528 Tr.USD, tăng 13,4% so với năm 2001.
Ngoại tệ mua vào từ khu vực doanh nghiệp và cá nhân tăng cao 33,2% là kết quả nỗ lực của
Vietcombank trong việc nắm bắt kịp thời diễn biến thị trường, tăng cường nghiên cứu mở rộng
khách hàng.
3.2. Phát hành và thanh toán thẻ tín dụng
Hoạt động đại lý thanh toán cho khách hàng có tài khoản ngoại tệ tại Vietcombank ngày càng
tăng kể cả số lượng và chất lượng. Với tư cách là thành viên của hai tổ chức thẻ quốc tế là Master
Card và Visa Card, Vietcombank đã phát hành hai loại thẻ VCB-Master từ 1995 và VCB-Visa từ 1998.
Mới đây nhất, tháng 4/2002, Vietcombank đã chính thức là ngân hàng phát hành độc quyền thẻ tín
dụng quốc tế AmericanExpress tại Việt Nam.
Năm 2002, Vietcombank phát hành được 27480 thẻ, tăng tới 25034 thẻ so với năm 2001, chủ
yếu là do phát hành thẻ ATM (21600 thẻ).
Doanh số thanh toán thẻ tín dụng quốc tế qua Vietcombank đạt 86 Tr. USD, tăng 17 Tr.USD so
với năm 2001.
Doanh số sử dụng thẻ ATM đạt 296 tỷ VND.
Đạt được kết quả trên là do Vietcombank đã có sự đầu tư hiệu quả vào phát triển kỹ thuật công
nghệ và nguồn nhân lực đào tạo nền tảng cho hoạt động thẻ phát triển.
3.3. Công tác đối ngoại
Hoạt động đối ngoại của Vietcombank tiếp tục được củng cố và phát triển phản ánh đúng vị trí của
một ngân hàng có truyền thống kinh nghiệm hàng đầu trong hoạt động kinh tế đối ngoại. Mạng lưới
đại lý đã được mở rộng thêm với trên 30 ngân hàng, tập trung vào các thị trường mới như Đông Âu,
Trung Quốc…
Vietcombank đã ký kết Hiệp định cung cấp tín dụng, bảo lãnh cho một số Ngân hàng thương mại
Nga để nhập khẩu hàng của Việt Nam.
Dự kiến quan hệ thương mại, đầu tư giữa Việt Nam và Mỹ sẽ phát triển trong thời gian tới,
Vietcombank đã ký thoả ước hợp tác với Citibank để tăng cường hợp tác trong hoạt động đầu tư,
thanh toán giữa hai nước.
Vietcombank đã phối hợp chặt chẽ với các ngân hàng đại lý ở châu Âu để chuyển đổi thành công hệ
thông tài khoản Euro và là ngân hàng đầu tiên cung cấp đầy đủ thông tin cho khách hàng về việc
lên của toàn thể đội ngũ cán bộ công nhân viên trong toàn bộ hệ thống.
III. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG THANH TOÁN QUỐC TẾ THEO PHƯƠNG
THỨC TÍN DỤNG CHỨNG TỪ TẠI VCB.
1.Văn bản pháp lý quy định về hoạt động thanh toán quốc tế.
Điều lệ và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ - UCP.
Bản điều lệ và thực hành thống nhất tín dụng chứng từ lần đầu tiên được áp
dụng vào năm 1933 do Phòng Thương mại quốc tế ban hành nhằm thống nhất
những nội dung và sự hiểu biết chung trong giao dịch thương mại quốc tế giữa
các nước trong khu vực, các châu lục. TrảI qua quá trình phát triển của thương
mại quốc tế và thực tiễn giao dịch hàng ngày, bản điều lệ và thực hành thống
nhất tín dụng chứng từ (UCP) đã được sửa đổi bổ sung nhiều lần. Lần gần đây
nhất tháng 11/1989, Uỷ ban kỹ thuật & Nghiệp vụ ngân hàng thuộc Phòng
Thương mại quốc tế (ICC) được phép sửa đổi số xuất bản 400, với yêu cầu của
lần sửa này là nêu bật sự phát triển của nền công nghiệp vận tảI và ứng dụng
công nghệ mới vào các lĩnh vực trên thế giới, đồng thời làm đơn giản hoá điều
lệ để làm tăng hiệu quả tín dụng chứng từ. Đến năm 1993 thì UCP 500 được
phát hành thay thế cho UCP 400.
Một thư tín dụng được mở mà có dẫn chiếu áp dụng theo UCP 500 thì các bên
liên quan đều phảI dựa vào tàI liệu này để thực hiện nghĩa vụ và quyền lợi của
mình.
UCP 500 là cơ sở pháp lý điều chỉnh các mối quan hệ trong quá trình sử dụng
L/C, nó gồm 49 điều. Nội dung chính của UCP 500 bao gồm những vấn đề sau
đây:
-Nguyên tắc chung và định nghĩa về tín dụng chứng từ (điều 1 đến điều 5).
-Hình thức và thông báo thư tín dụng (điều 6 đến điều 12).
-Nghĩa v ụ và trách nhiệm của các ngân hàng tham gia (điều 13 đến điều 19).
-Chứng từ thanh toán (điều 20 đến điều 38).
-Những điều khoản khác như qui định về số lượng và số tiền, giao từng phần,
ngày hết hạn hiệu lực, cách bốc xếp hàng, xuất trình chứng từ thanh toán…
(điều 39 đến điều 47).
hoặc ngân hàng có thể từ chối thông báo L/C . Việc từ chối phải được
thông báo ngay cho ngân hàng mở L/C biết.
- Nếu L/C được mở bằng điện có thư xác nhận gửi sau thì ngân hàng
lấy L/C mở bằng điện có mã khoá làm L/C gốc.
- Nếu nhận được điện mở L/C có tính chất báo trước chưa có điều
khoản chi tiết đầy đủ: