Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang các thị trường chính năm 2009-2011 - Pdf 64

Đề tài: Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang các thị trường chính năm 2009-2011
MỤC LỤC
GVHD: Phùng Nam Phương Trang 1
Đề tài: Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang các thị trường chính năm 2009-2011
LỜI MỞ ĐẦU
Trong bối cảnh toàn cầu hóa diễn ra ngày càng mạnh mẽ trên thế giới, theo đó nền kinh
tế của các quốc gia cũng từng bước phát triển với sự gắn kết mật thiết với nhau. Để cạnh
tranh trên thị trường thế giới, thúc đẩy sự phát triển nền kinh tế quốc dân, một trong những
công cụ chính của mỗi quốc gia đó là tập trung khai thác tối đa những lợi thế so sánh của
mình cũng như quyết định đâu là ngành kinh tế chiến lược để từ đó đưa ra những mục tiêu
và chính sách hợp lí.
Xuất khẩu thủy sản được xem là một trong những ngành then chốt của nền kinh tế nước
ta. Kim ngạch xuất khẩu không ngừng tăng lên qua các năm, hình ảnh thủy sản Việt Nam
ngày càng được nâng cao trên trường thế giới. Bên cạnh những thuận lợi, điểm mạnh mà
ngành thủy sản Việt Nam nói riêng, các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản nói chung đã tận
dụng được thì chúng ta cúng không thể không nhắc đến những khó khăn, trở ngại mà ngành
xuất khẩu thủy sản nước ta gặp phải trong nền kinh tế toàn cầu luôn tồn tại những biến động
bất thường. Vậy làm thế nào để đưa ngành xuất khẩu thủy sản Việt Nam phát triển hơn nữa?
Đâu là những thuận lợi và khó khăn chính mà các doanh nghiệp xuất khẩu thủy sản đang
mắc phải? Và liệu có những giải pháp gì cho những vấn đề này?
Xuất phát từ những câu hỏi trên, em muốn tìm hiểu kĩ hơn, đi sâu nghiên cứu về ngành
xuất khẩu thủy sản Việt Nam nên đã chọn đề tài “ Thực trạng xuất khẩu thủy sản Việt
Nam sang các thị trường chính trong những năm gần đây”.
Trong quá trình tìm hiểu chắc chắn sẽ không tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót, vì thế
em mong nhận được những ý kiến nhận xét của thầy cô để có thể hoàn thiện nội dung nghiên
cứu hơn.
Em xin chân thành cảm ơn!

GVHD: Phùng Nam Phương Trang 2
Đề tài: Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang các thị trường chính năm 2009-2011
Chương I: Lý luận chung về hoạt động xuất khẩu.

Đề tài: Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang các thị trường chính năm 2009-2011
1.2.1 Xuất khẩu tạo nguồn vốn chủ yếu cho nhập khẩu.
Với xu hướng tự do thương mại toàn cầu ngày càng phát triển, ngoại tệ có vai trò quan
trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia, nhất là các ngoại tệ mạnh có khả năng thanh toán
cao . Nhất là đối với các nước đang phát triển, các quốc gia này thường xuyên nhập khẩu
máy móc thiết bị, công nghệ của các nước tiên tiến để tiến hành hoạt động sản xuất làm tiêu
hao lượng ngoại tệ lớn. Để bù đắp cho lượng ngoại tệ này có rất nhiều con đường như: thu
hút vốn đầu tư nước ngoài, vay nợ nước ngoài, thu từ lượng kiều hối từ nước ngoài chuyển
về, nhưng con đường cơ bản và quan trọng nhất là xuất khẩu hàng hoá để thu ngoại tệ.
1.2.2 Xuất khẩu góp phần chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất phát triển.
Xuất khầu tạo điều kiện cho các ngành khác phát triển. Xuất khẩu không chỉ tác động
làm gia tăng nguồn thu ngoại tệ mà còn giúp cho việc gia tăng nhu cầu sản xuất , kinh doanh
ở những ngành liên quan khác. X uất khẩu tạo ra khả năng mở rộng thị trường tiêu thụ , giúp
cho sản xuất ổn định và kinh tế phát triển vì có nhiều thị trường nên phân tán rủi ro do cạnh
tranh . Bên cạnh đó, xuất khẩu tạo điều kiện mở rộng khả năng cung cấp đầu vào cho sản
xuất, nâng cao năng lực sản xuất trong nước. Thông qua cạnh tranh trong xuất khẩu ,buộc
các doanh nghiệp phải không ngừng cải tiến sản xuất ,tìm ra những cách thức kinh doanh sao
cho có hiệu quả ,giảm chi phí và tăng năng suất .
1.2.3 Xuất khẩu tích cực giải quyết công ăn việc làm và cải thiện đời sống người dân.
Xuất khẩu làm tăng GDP,làm gia tăng nguồn thu nhập quốc dân,từ đó có tác động làm
tăng tiêu dùng nội địa->nhân tố kích thích nền kinh tế tăng trưởng . Xuất khẩu gia tăng sẽ tạo
thêm công ăn việc làm trong nền kinh tế ,nhất là trong ngành sản xuất cho hàng hoá xuất
khẩu , xuất khẩu làm gia tăng đầu tư trong ngành sản xuất hàng hoá xuất khẩu -> nhân tố
kích thích nền kinh tế tăng trưởng .
1.2.4 Xuất khẩu góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm.
Trong quá trình hội nhập hàng hóa các nước gặp phải quá trình cạnh tranh ngày càng
khốc liệt với các rào cản thương mại, quy định pháp luật, sức mạnh của đối thủ cạnh tranh và
sự co giãn của cung cầu thị trường. Vì thế, muốn tồn tại và đứng vững các doanh nghiệp
không ngừng cải tiến công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để nâng cao chất
luợng sản phẩm của mình , tạo lợi thế cạnh tranh so với hàng hóa của nước khác.

Nhược điểm:
Hình thức xuất khẩu này cũng có một số bất lợi như: làm cho danh nghiệp bị mất quan
hệ trực tiếp với thị trường, bị phụ thuộc vào trung gian, bị tách rời với thị trường nên hệ
GVHD: Phùng Nam Phương Trang 5
Đề tài: Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang các thị trường chính năm 2009-2011
thống thông tin phản hồi từ khách hàng và thị trường thường không chính xác và kịp thời,
ngoài ra các doanh nghiệp xuất khẩu còn bị mất một khoản phí uỷ thác.
1.3.3 Giao dịch đối lưu:
Giao dịch đối lưu là hình thức trao đổi hàng hóa mà việc mua làm tiền đề và điều kiện
cho việc bán và ngược lại. Hiện nay loại này chiếm khoảng 55% buôn bán quôc tế. Trong
hình thức xuất khẩu này, mục đích hoạt động là giá trị sử dụng, không phải là giá trị, không
phải là kiếm lời.
Ưu điểm:
- Khắc phục được các trở ngại, hạn chế buôn bán của các nước và tình trạng khan
hiếm ngoại tệ.
- Khắc phục hàng rào cản trở của các nước như sự điều chỉnh về xuất nhập khẩu các
mặt hàng, quota hết hạn ngạch.
Nhược điểm:
Các bên tham gia hình thức này phải xác định được hàng hóa có giá trị với mỗi bên,
yêu cầu sự cân bằng về giá cả, điều kiện giao hàng v.vv nên kém linh hoạt.
1.3.4 Gia công quốc tế:
Gia công quốc tế là hoạt động nhập khẩu nguyên liệu, bán thành phẩm hoặc linh kiện
phụ tùng về nước mình để chế biến, cải tiến hoặc lắp ráp chúng thành thành phẩm và lại
giao hoặc bán ra nước ngoài nhằm thu về một số thù lao gọi là phí gia công. Gia công quốc
tế còn được gọi là hình thức xuất khẩu lao động tại chỗ.
Ưu điểm:
- Thị trường tiêu thụ đã có bên đặt gia công lo, các doanh nghiệp nhận gia công
không phải bỏ chi phí cho hoạt động bán sản phẩm xuất khẩu.
- Vốn đầu tư cho sản xuất thấp.
- Giải quyết công ăn, việc làm cho người lao động.

Thực phẩm thuỷ sản chiếm 90% sản lượng thuỷ sản khai thác và nuôi trồng như cá,
tôm, cua, mực, các loài thân mềm, vv, có hàm lượng protein cao (khoảng 17 - 22%), với
thành phần hầu như đầy đủ các axit amin cần thiết và các chất dinh dưỡng khác như lipit,
muối khoáng, vitamin cần cho cơ thể. Tuỳ theo hàm lượng mỡ trong thịt, cá được chia thành
3 nhóm: ít mỡ (dưới 2%), béo vừa (2 - 5%) và nhiều mỡ (trên 5%).
Đặc điểm nổi bật của thuỷ sản tươi sống là chóng ươn do tác dụng của các men nội
quan và vi sinh vật. Do vậy, ngay sau khi tách chúng khỏi môi trường nước, cần tiến hành
các biện pháp bảo quản và chế biến (ướp đông, ướp muối, làm khô, hun khói, vv.). Những
dạng sản phẩm thủy sản chủ yếu được dùng làm thực phẩm hiện nay: thuỷ sản tươi (giữ sống
hoặc làm lạnh) chiếm khoảng 30%; thuỷ sản đông - khoảng 30%; thuỷ sản khô (kể cả hun
khói, ướp muối, vv.) - khoảng 20%; đồ hộp thuỷ sản và thức ăn chín khoảng 20%. Gan và
mỡ của nhiều loại cá và thú biển được dùng chế dầu cá (trong đó có dầu gan cá) là loại sản
phẩm có giá trị y dược lớn. Các loài cá tạp kém giá trị kinh tế, các phế thải trong quá trình
chế biến được dùng để sản xuất bột cá, keo cá, guanin, vv. Gần đây, nhiều sản phẩm cao cấp
được chế biến từ thịt cá (nhất là các loài cá kém giá trị kinh tế) và thịt moi theo các công
nghệ hiện đại (surimi, thịt cá xay, dịch đạm cá, xêlos cá, vv.), được phát triển. Ngoài cá,
nhiều loại thuỷ sản khác (tôm, mực, hàu, vẹm, ốc, trai, cua, điệp, vv.) cũng được chế biến
thành những sản phẩm thủy sản có giá trị xuất khẩu cao: tôm tươi, tôm đông lạnh, mực đông
lạnh, mực khô, cồi điệp, cước cá, bóng cá, vv.
Sản phẩm thủy hải sản dễ bị thối, hỏng nên cần được bảo quản trước khi đem bán trên
thị trường. Khoảng 1/2 sản lượng cá dùng làm thức ăn trên thế giới được bán dưới dạng tươi
sống (Vannuccini 2003). Tuy nhiên, những sản phẩm đem bán cho người tiêu dùng dưới
dạng tươi hoặc đông lạnh có thể đã được ướp lạnh trước rồi sau đó rã đông theo các qui định
GVHD: Phùng Nam Phương Trang 8
Đề tài: Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang các thị trường chính năm 2009-2011
pháp luật liên quan. Một số loài như hào, trai, cua và tôm hùm có thể bán dưới dạng tươi
sống (và cũng có thể dưới dạng ướp lạnh). Những hình thức chế biến phục vụ kinh doanh
chủ yếu tiếp theo là dạng đông lạnh, đóng hộp và bảo quản qua chế bản (bằng cách ướp
muối, hun khói và phơi khô). Đông lạnh và đóng hộp là những hình thức bảo quản phổ biến
nhất. Tuy nhiên, một số nước đang phát triển cố gắng cung cấp cá tươi sống bằng cách

7,412
-31,2
167,071
+26,0
Italia
7,887
+52,1
125,685
+39,5
Hà Lan
6,172
+4,7
(Nguồn
GVHD: Phùng Nam Phương Trang 10
Đề tài: Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang các thị trường chính năm 2009-2011
( Nguồn: VASEP- Hiệp hội Thuỷ sản Việt Nam)
Từ lâu, tôm và cá tra được xem là hai mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam.
Đối với mặt hàng tôm trong giai đoạn này cũng có những chuyển biến tích cực. Trong
năm 2011, tính đến thời điểm ngày 15/09/2011, tổng lượng tôm xuất khẩu đạt 1564,212 tấn,
tăng 21,7% so với cùng kì năm ngoái; trong đó tôm chân trắng chiếm 438,553 tấn, tăng 68,9
% so với cùng kì, tôm sú chiếm 954,428 tấn, tăng 10,6 % so với cùng kì năm ngoái. Điều
này có thể được lí giải do năm nay hiện tượng tôm chết hàng loạt diễn ra, người dân đang
hạn chế dần hoạt động nuôi thả tôm, dẫn tới tình trạng thiếu nguyên liệu cho chế biến và
xuất khẩu. Bên cạnh đó, dịch bệnh đã bùng phát trên tôm sú và đẩy nhiều nông dân chuyển
sang nuôi thả tôm thẻ chân trắng thay thế. Với việc tôm thẻ chân trắng được đưa vào nuôi
thả, tình trạng thiếu nguyên liệu có thể được giải quyết phần nào do nguồn tôm thẻ giống dồi
dào, sức chống chịu bệnh tốt và sản lượng cao.Chính vì vậy mà trong cơ cấu sản phẩm thủy
sản của Việt Nam, khối lượng của tôm chân trắng tăng mạnh so với cùng kì năm ngoái trong
khi tôm sú chỉ tăng với mức 10,6% so với cùng kì.Giá xuất khẩu cao, nhu cầu thế giới vững
và mùa vụ tôm thất bát tại một số nước sản xuất chính và việc Bộ Thương mại Mỹ (DOC)

(Nguồn: VASEP- Hiệp hội Thuỷ sản Việt Nam)
Nhìn vào biểu đồ, ta thấy hầu hết giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam tăng dần theo
từng năm, đặc biệt là vào những tháng cuối năm- mùa cao điểm, và giá trị xuất khẩu thủy
sản ít biến động vào thời gian hè.
Minh họa cho lập luận này bằng số liệu năm 2010 cho thấy, xuất khẩu thủy sản năm
2010 đạt 5,03 tỷ USD, từ tháng 1 cho đến tháng 2 năm 2010 xuất khẩu thủy sản giảm từ 300
triệu USD xuống còn trên 200 triệu USD, đến tháng 3 cho đến tháng 10 năm 2010 xuất khẩu
thủy sản liên tục tăng qua các tháng từ đạt ngần 400 triệu USD vào tháng 3/2010 tăng lên
khoảng 500 triệu USD vào tháng 10, đến cuối tháng 11 lại có chiều hướng giảm chút ít còn
dưới 500 triệu USD, đặc biệt có sự bứt phá ngoạn mục ở tháng 12 đạt gần 700 triệu USD. Rõ
ràng chúng ta thấy nhu cầu tiêu dùng thủy sản thế giới dịp cuối năm và chuẩn bị đón Noel là
rất lớn. Trong năm 2010, có thể thấy rằng giá trị xuất khẩu thủy sản chính ngạch của cả nước
tháng 12 năm 2010 đạt 513,6 triệu USD, tăng 33% so với cùng kỳ năm ngoái. Cả năm 2010
đạt 5 tỷ USD (gồm cả lũy kế), tăng 18,4%.
Biểu đồ 2.2: Cơ cấu thị trường và các sản phẩm xuất khẩu thuỷ sản chính Việt Nam năm
2009.
GVHD: Phùng Nam Phương Trang 13
Đề tài: Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang các thị trường chính năm 2009-2011
( Nguồn: VASEP- Hiệp hội Thuỷ sản Việt Nam)
Biểu đồ 2.3: Cơ cấu thị trường và các sản phẩm xuất khẩu thuỷ sản chính của Việt Nam
năm 2010
( Nguồn: VASEP- Hiệp hội Thuỷ sản Việt Nam)
Qua so sánh hai biểu đồ trên nhận thấy rằng, EU, Mỹ và Nhật Bản vẫn là ba thị trường
xuất khẩu thủy sản chính của Việt Nam. Tuy nhiên, vị trí trọng yếu của ba quốc gia này đã
thay đổi từ năm 2009 sang 2010. Năm 2009, EU là thị trường dẫn đầu của xuất khẩu thủy
sản Việt Nam chiếm 25,8% tổng kim ngạch xuất khẩu, vị trí này được duy trì đến năm 2010
nhưng chỉ còn 23,5% trong tổng kim ngạch xuất khẩu. Tiếp thêo là Nhật Bản chiếm 17,8%,
Mỹ 16,8% vào năm 2009 nhưng qua đến năm 2010 với tổng kim ngạch xuất khẩu đạt
156,998 triệu USD đã đưa Mỹ lên vị trí thứ hai chiếm 19,3% vượt lên Nhật Bản giảm còn
GVHD: Phùng Nam Phương Trang 14

TỔNG
CỘNG
1.353.156 5033,726 11,3 18,4
( Nguồn: VASEP- Hiệp hội Thuỷ sản Việt Nam)
Mặc dù nền kinh tế thế giới vẫn chưa thật sự thoát khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế năm
2008 và EU dường như bị tác động rất nặng bởi cuộc khủng hoảng nợ công của Hy Lạp. Tuy
nhiên, trong năm 2010, EU là thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam với tổng
kim ngạch đạt 1181,401 triệu USD, tăng 9,6% so với năm 2009. Tiếp đến là Mỹ với khối
GVHD: Phùng Nam Phương Trang 15
Đề tài: Thực trạng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam sang các thị trường chính năm 2009-2011
lượng thủy sản xuất khẩu lên đến 156,998 tấn có giá trị 971,561 triệu USD, tăng 45,3% so
với năm ngoái đã đưa Mỹ trở thành thị trường xuất khẩu trọng điểm thứ hai của Việt Nam.
Kim ngạch nhập khẩu của Nhật Bản cũng tăng nhẹ 19,1% so với năm 2009 với tổng giá trị
xuất khẩu đạt 896,980 triệu USD và một số thị trường khác như Hàn Quốc đạt 386,190 triệu
USD( tăng 28,3%), Trung Quốc và Hồng Kông 247,252 triệu USD( tăng 22,2%), v.v...so với
năm 2009. Điểm đáng chú ý trong năm 2010 là Đức dù vẫn đạt kim ngạch cao chiếm
209,975 triệu USD nhưng đã có dấu hiệu giảm nhẹ 1% so với năm 2009. Ngược lại, thị
trường xuất khẩu thủy sản cũng đã nhận dấu hiệu tích cực từ Pháp với giá trị xuất khẩu đạt
121,902 triệu USD, tăng 68,3% so với năm 2009.
b. Xét về mặt hàng xuất khẩu:
 Năm 2009:
Bảng 2.4: Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam năm 2009
Sản phẩm
Từ 1/1 – 31/12/2009
So với cùng
kỳ 2008 (%)
KL GT
Tôm đông lạnh 209.567 1675,142 +9,4 +3,0
Cá tra, basa 607.665 1342,917 -5,2 -7,6
Cá ngừ 55.814 180,906 +5,7 -4,1


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status