TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN
MÔN ĐỊA LÍ
CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ
(Tài liệu bồi dưỡng giáo viên cốt cán)
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VỤ GIÁO DỤC TRUNG HỌC
CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC TRUNG HỌC
TÀI LIỆU TẬP HUẤN GIÁO VIÊN
THỰC HIỆN DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KỸ NĂNG
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
Hà Nội, tháng 7/ 2010
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VỤ GIÁO DỤC TRUNG HỌC CHƯƠNG TRÌNH PHÁT TRIỂN
GIÁO DỤC TRUNG HỌC
ĐỖ ANH DŨNG (Chủ biên)
PHẠM THỊ SEN-NGUYỄN TRỌNG ĐỨC
TÀI LIỆU TẬP HUẤN GIÁO VIÊN
THỰC HIỆN DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ
THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ NĂNG
CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
MÔN ĐỊA LÍ
CẤP TRUNG HỌC CƠ SỞ
(Tài liệu bồi dưỡng giáo viên cốt cán)
2
Danh mục các chữ viết tắt
GDPT Giáo dục phổ thông
PPCT Phân phối chương trình
KT- KN Kiến thức, kĩ năng
SGK Sách giáo khoa
I. Thực trạng công tác kiểm tra, đánh giá trong dạy học môn học 89
II. Quan niệm đánh giá theo chuẩn KT-KN của môn học 90
III. Yêu cầu đổi mới công tác KTĐG theo chuẩn KT-KN của môn học 95
IV. Hướng dẫn việc kiểm tra đánh giá theo chuẩn KT-KN 100
V. Một số đề kiểm tra minh họa 105
Phần thứ ba
HƯỚNG DẪN TỔ CHỨC TẬP HUẤN TẠI CÁC ĐỊA PHƯƠNG
PHỤ LỤC
4
Lời giới thiệu ( 01trang)
5
Phần thứ nhất:
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
(Lãnh đạo Vụ viết)
Nội dung 1.1: GIỚI THIỆU CHƯƠNG TRÌNH VÀ TÀI LIỆU TẬP HUẤN GIÁO VIÊN THỰC
HIỆN DẠY HỌC VÀ KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ THEO CHUẨN KIẾN THỨC, KĨ
NĂNG CHƯƠNG TRÌNH GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
I - Mục tiêu tập huấn: Sau khi tập huấn, học viên sẽ đạt được:
1. Về kiến thức
2. Về kĩ năng
3. Về thái độ
II. Nội dung tập huấn
1. Giới thiệu nội dung Chuẩn kiến thức, kĩ năng môn học.
2. Hướng dẫn tổ chức dạy theo Chuẩn kiến thức, kỹ năng của môn học qua áp
dụng các kỹ thuật dạy - học tích cực.
3. Hướng dẫn tổ chức kiểm tra đánh giá theo Chuẩn kiến thức, kĩ năng.
4. Hướng dẫn tổ chức công tác tập huấn tại các địa phương.
II. Giới thiệu tài liệu tập huấn
Nội dung 1.2: KHÁI QUÁT VỀ TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN DẠY HỌC THEO CHUẨN
viên có thể chia lớp thành các nhóm, mỗi nhóm tìm hiểu một vài ngành trên cấu trúc giống nhau:
hiện trạng phát triển, phân bố (tên các nhà máy, trung tâm công nghiệp).
Ví dụ 2. Lập sơ đồ về cơ cấu ngành dịch vụ nước ta.
Ở mức độ cao, có thể đề ra những nhiệm vụ cho các nhóm HS hoàn toàn độc lập xử lý các lĩnh
vực đề tài và trình bày kết quả của mình cho những HS khác ở dạng bài giảng.
Ưu điểm và nhược điểm của dạy học nhóm
Ưu điểm: Phát huy tính tích cực, tự lực và tính trách nhiệm của HS; Phát triển năng lực
cộng tác làm việc; Phát triển năng lực giao tiếp; Hỗ trợ qúa trình học tập mang tính xã hội; Tăng
cường sự tự tin cho HS;Phát triển năng lực phương pháp; Dạy học nhóm tạo khả năng dạy học
phân hoá; Tăng cường kết quả học tập.
Nhược điểm: Dạy học nhóm đòi hỏi thời gian nhiều; Công việc nhóm không phải bao giờ
cũng mang lại kết quả mong muốn; Trong các nhóm chưa được luyện tập dễ xảy ra hỗn loạn.
7
Những chỉ dẫn đối với giáo viên
Nếu muốn thành công với dạy học nhóm thì người GV phải nắm vững phương pháp thực
hiện. Dạy học nhóm đòi hỏi GV phải có năng lực lập kế hoạch và tổ chức, còn HS phải có sự
hiểu biết về phương pháp, được luyện tập và thông thạo cách học này. Khi lập kế hoạch, công
việc nhóm phải được phản ánh trong toàn bộ quá trình dạy học. Ví dụ cần phải suy nghĩ xem
cần sự hướng dẫn của GV như thế nào để các nhóm có thể làm việc một cách hiệu quả. Điều
kiện để HS đạt được thành công trong học tập cũng là phải nắm vững các kĩ thuật làm việc cơ
bản. Thành công của nhóm còn phụ thuộc vào việc đề ra các yêu cầu công việc một cách rõ
ràng và phù hợp.
Sau đây là các câu hỏi kiểm tra dùng cho việc chuẩn bị dạy học nhóm:
• Chủ đề có hợp với dạy học nhóm không?
• Các nhóm làm việc với nhiệm vụ giống nhau hay khác nhau?
• HS đã có đủ kiến thức, điều kiện cho công việc nhóm chưa?
• Cần trình bày nhiệm vụ làm việc nhóm như thế nào?
• Cần chia nhóm theo tiêu chí nào?
• Cần tổ chức phòng làm việc, kê bàn ghế như thế nào?
Một số chú ý trong khi thực hiện dạy học nhóm:
biểu hiện như thế nào? GV cho HS đọc cả mục đó và cho biết mục đó nói về những đặc điểm gì
của khí hậu nước ta? Trình bày cụ thể các đặc điểm đó.
HS đọc đoạn văn và dễ dàng chỉ ra được đoạn văn nói về tính chất nhiệt đới, gió mùa ẩm
của nước ta. Sau đó, HS trình bày cụ thể.
IV. Kĩ thuật tia chớp
Kĩ thuật tia chớp là một kĩ thuật huy động sự tham gia của các thành viên đối với một câu
hỏi nào đó, hoặc nhằm thu thông tin phản hồi để cải thiện tình trạng giao tiếp và không khí học
tập trong lớp học, thông qua việc các thành viên lần lượt nêu ngắn gọn và nhanh chóng (nhanh
như chớp!) ý kiến của mình về câu hỏi hoặc tình trạng vấn đề.
Quy tắc thực hiện:
- Có thể áp dụng bất cứ thời điểm nào khi các thành viên thấy cần thiết và đề nghị;
- Lần lượt từng người nói suy nghĩ của mình về một câu hỏi đã thoả thuận.
- Mỗi người chỉ nói ngắn gọn 1-2 câu ý kiến của mình;
- Chỉ thảo luận khi tất cả đã nói xong ý kiến.
Kĩ thuật này được sử dụng khá phổ biến trong quá trình dạy học, ứng dụng vào tất cả các
môn học.
V. Kĩ thuật “3 lần 3”
Kĩ thuật “3 lần 3“ là một kĩ thuật lấy thông tin phản hồi nhằm huy động sự tham gia tích
cực của HS.
Cách làm như sau:
- HS được yêu cầu cho ý kiến phản hồi về một vấn đề nào đó (nội dung buổi thảo luận,
phương pháp tiến hành thảo luận...).
- Mỗi người cần viết ra: 3 điều tốt; 3 điều chưa tốt; 3 đề nghị cải tiến.
- Sau khi thu thập ý kiến thì xử lý và thảo luận về các ý kiến phản hồi.
9
Trong giảng dạy Địa lí kĩ thuật này thường được sử dụng đối với các vấn đề nêu ưu điểm,
nhược điểm hoặc đánh giá thuận lợi khó khăn của một nguồn lực nào đó trong phát triển kinh tế
-xã hội,...
Ví dụ: Mỗi HS nêu lên 3 đặc điểm tốt của lao động nước ta, 3 hạn chế của nguồn lao động
và 3 giải pháp để sử dụng nguồn lao động hợp lí (Địa lí 9).
cho học sinh gắn với thực tiễn, kết hợp lí thuyết với thực hành và vận dụng kiến thức đã học vào
giải quyết một số vấn đề trong thực tiễn; từ đó góp phần hình thành và phát triển các năng lực của
học sinh như năng lực hoạt động, tham gia, hoà nhập với cộng đồng và biết vận dụng kiến thức,
kĩ năng của môn Địa lí để giải quyết những vấn đề đặt ra trong cuộc sống.
10
Các bước tiến hành:
- Bước 1: Xác định chủ đề
- Bước2: Các nhóm xây dựng kế hoạch làm việc
- Bước 3: Thực hiện
- Bước4: Giới thiệu sản phẩm trước lớp
- Bước 5: Đánh giá
Lưu ý khi ứng dụng hình thức dạy học theo dự án, GV cần chú ý đến trình độ HS, khả
năng và điều kiện thu nhập thông tin, xử lí thông tin của HS, đặc điểm cư trú và đặc điểm kinh
tế-xã hội của địa phương để thực hiện. Dạy học theo dự án phù hợp hơn cả là sử dụng đối với
HS chuyên, HS ở vùng đồng bằng với các điều kiện học tập tốt hơn.
VIII. Giải quyết vấn đề
Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề (problem solving method), hay dạy học dựa trên
vấn đề (problem based learning), hoặc dạy học đặt và giải quyết vấn đề (problem posing and
solving) là phương pháp, trong đó giáo viên đặt ra trước học sinh một (hay hệ thống) vấn đề
nhận thức, chuyển học sinh vào tình huống có vấn đề, sau đó giáo viên phối hợp cùng học sinh
(hoặc hướng dẫn, điều khiển học sinh) giải quyết vấn đề, đi đến những kết luận cần thiết của
nội dung học tập. Đây là phương pháp được xem xét nhiều về mặt tính chất hoạt động của học
sinh và của giáo viên.
Phương pháp giải quyết vấn đề được tiến hành theo một trình tự sau:
a) Đặt vấn đề và chuyển học sinh vào tình huống có vấn đề
Đặt vấn đề trong phần lớn trường hợp, là đặt ra trước học sinh một câu hỏi. Tuy nhiên, đó
không phải là câu hỏi thông thường như trong đàm thoại, mà phải là câu hỏi có vấn đề. Nghĩa
là, câu hỏi phải chứa đựng:
- Một mâu thuẫn giữa kiến thức cũ và kiến thức mới, giữa cái đã biết và cái chưa biết cần
phải khám phá, nhận thức, giữa vốn kiến thức khoa học đã có và vốn kiến thức thực tiễn đa
quyết dựa vào việc huy động vốn tri thức sẵn có của mình bằng hoạt động tư duy. Trong câu hỏi
nên hàm chứa phương hướng giải quyết vấn đề, tạo điều kiện làm xuất hiện giả thuyết và tạo
điều kiện tìm ra con đường giải quyết đúng.
Tình huống có vấn đề có thể được tạo ra vào lúc bắt đầu bài mới, bắt đầu một mục của
bài, hay lúc đề cập đến một nội dung cụ thể của bài, một khái niệm, một mối liên hệ nhân quả.
Đặt và tạo tình huống có vấn đề có thể bằng cách dùng lời nói, suy luận lôgic, mô tả, kể chuyện,
đọc một đoạn trích, dùng bản đồ, sơ đồ, hình vẽ, tranh ảnh, băng hình video.
b) Giải quyết vấn đề
- Đề xuất các giả thuyết cho vấn đề đặt ra
- Thu thập và xử lí thông tin theo hướng các giả thuyết đã đề xuất
c) Kết luận
- Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết
- Phát biểu kết luận
Dạy học giải quyết vấn đề có nhiều tác dụng trong vịêc nâng cao chất lượng dạy học địa
lí. Tuy nhiên, nội dung các bài viết trong sách giáo khoa địa lý thường dưới dạng tường minh, ít
chứa đựng các vấn đề nhận thức, gây khó khăn cho việc sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề
trong dạy học. Để khắc phục điều này, giáo viên cần chú ý tìm tòi, phát hiện và xây dựng một số
vấn đề ngay ở từng nội dung cụ thể, từng đơn vị kiến thức cơ bản trọng tâm của bài. Trong nhiều
trường hợp, khi đặt ngược lại nội dung sách giáo khoa, có thể làm nảy sinh cơ hội cho việc xuất
hiện vấn đề.
Trong thực tế hiện nay, một số giáo viên cho rằng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học
địa lý có nội dung tương tự phương pháp đàm thoại gợi mở, chẳng hạn cũng bắt đầu một nội
12
dung, một mục hay mở bài bằng một câu hỏi. Sau đó, giáo viên cũng tổ chức cho học sinh tìm
kiếm câu trả lời và kết luận, chuyển sang nội dung (hay mục) khác. Thực ra, không hẳn hoàn
toàn như vậy. Sự khác nhau giữa hai phương pháp này nằm ở các điểm cơ bản: thứ nhất, câu
hỏi trong dạy học nêu vấn đề bắt buộc phải chứa đựng mâu thuẫn nhận thức; thứ hai, cũng là
một phần hệ quả của loại câu hỏi có vấn đề - xuất hiện tình huống có vấn đề. Trong bước giải
quyết vấn đề, ở phương pháp dạy học giải quyết vấn đề cần phải nêu ra giả thuyết.
IX. Đàm thoại gợi mở
13
- Câu hỏi phải bám sát nội dung cơ bản, nhằm vào những điểm chính trong nội dung của
bài học. Khi dạy học, điều quan trọng là học sinh phải nắm vững những kiến thức cơ bản,
những kiến thức trọng tâm, trọng điểm của bài. Câu hỏi cũng phải bám sát vào những kiến thức
đó. Trên cơ sở các câu hỏi chính, phát triển thêm một số câu hỏi phụ tùy theo đối tượng học
sinh.
- Câu hỏi phải sát với trình độ học sinh. Tránh nêu những câu hỏi khó quá, học sinh không
suy nghĩ được, không thể trả lời được, đâm ra nản, câu hỏi dễ quá không kích thích học sinh tìm
tòi. Khi đặt câu hỏi, trong thành phần nội dung câu hỏi nên có phần gợi ý tìm kiếm kiến thức ở
đó và phần cần giải quyết. Tránh nêu những câu hỏi quá “rút gọn”, không có tính chất hướng
dẫn học sinh trả lời, chỉ mang nặng tính hỏi “đố”. Ví dụ với bài “Phân bố dân cư và các loại
hình quần cư" (Địa 9), khi hỏi về đặc điểm phân bố dân cư nước ta, không nên đặt câu hỏi:
“Dân cư nước ta phân bố như thế nào?”, mà nên đặt câu hỏi: "Dựa vào bản đồ dân cư, trình bày
đặc điểm phân bố dân cư nước ta?”.
- Hệ thống câu hỏi trong đàm thoại gợi mở có thể dùng cho toàn bài, hay cho từng mục,
từng nội dung lớn của bài. Trong hệ thống đó, các câu hỏi có liên hệ chặt chẽ với nhau, câu
trước là tiền đề cho câu hỏi sau, câu hỏi sau là sự kế tục và phát triển kết quả của câu hỏi trước.
Mỗi câu hỏi là một cái “nút” của từng bộ phận mà học sinh cần lần lượt tháo gỡ thì mới tìm
được kết quả cuối cùng. Giải quyết được hệ thống câu hỏi đó là giải quyết được nội dung toàn
bài hay của mục đó, nội dung lớn đó. Trong trình tự lôgíc của các câu hỏi, nên bố trí các câu hỏi
kiểm tra sự kiện trước, tiếp đến là những câu hỏi có yêu cầu nâng cao dần năng lực nhận thức
để học sinh có điều kiện suy luận, phán đoán.
Ví dụ: Hệ thống câu hỏi dùng cho bài “Miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ” (Địa lý 8)
+ Dựa vào Lược đồ tự nhiên miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, xác định vị trí và giới hạn
của miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
+ Nêu những đặc điểm nổi bật của địa hình và sông ngòi của miền Tây Bắc và Bắc Trung
Bộ.
+ Nêu những đặc điểm nổi bật của khí hậu miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ. So với miền
Bắc và Đông Bắc Bắc Bộ, tại sao mùa đông ở Tây Bắc và Bắc Trung Bộ lại ngắn hơn?
+ Trình bày những tài nguyên nổi bật của miền Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
nghĩa của việc triển khai Dự án xây dựng đường Hồ Chí Minh đối với sự phát triển kinh tế - xã
hội của vùng Bắc Trung Bộ?”, “Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh có phải là hai trung tâm
dịch vụ lớn nhất và đa dạng nhất nước ta hay không? Tại sao?"
Ngoài ra, dựa vào mục đích của việc dạy học, có thể chia câu hỏi ra hai loại: câu hỏi sự
kiện và câu hỏi nhận thức. Câu hỏi sự kiện chỉ đòi hỏi tái hiện các kiến thức, sự kiện, nhớ và
trình bày một cách có hệ thống, có chọn lọc. Câu hỏi nhận thức là câu hỏi đòi hỏi sự thông hiểu,
phân tích, tổng hợp, khái quát hoá, hệ thống hoá kiến thức.
Trong dạy học theo hướng đề cao vai trò chủ thể nhận thức của học sinh hiện nay, ngoài
việc đặt câu hỏi cho học sinh, giáo viên nên tạo điều kiện, cơ hội và khuyến khích học sinh hỏi
nhau và hỏi giáo viên xung quanh các nội dung của bài học.
X. E-LEARNING
* Học tập (Learning) là gì? Là việc xử lí những thông tin mà người học thu được, nó tạo
nên sự thay đổi hoặc làm tăng kiến thức và khả năng, năng lực của người học.
* E-learning là việc thực hiện các chương trình giáo dục, học tập, đào tạo, bồi dưỡng
thông qua các phương tiện điện tử.
E-Learning liên quan đến việc sử dụng máy tính hoặc các thiết bị điện tử trong một phương
diện nào đó nhằm cung cấp tài liệu cho việc giáo dục, học tập, đào tạo, bồi dưỡng.
* Những đặc điểm cơ bản của E-learning so với các hình thức tổ chức dạy học khác:
15
- Công nghệ là thứ yếu sang đa phương tiện là trọng tâm.
- Giáo dục chỉ một lần sang giáo dục suốt đời.
- Chương trình cố định sang chương trình mở (mềm dẻo hơn).
- Tập trung vào tổ chức, vào người dạy sang tập trung vào người học.
- Tự thân vận động hoặc giáo dục đồng loạt sang hợp tác.
- Giới hạn trong phạm vi khu vực (địa phương) sang mạng lưới toàn cầu.
* E-learning có lợi thế hơn so với các hình thức tổ chức dạy học truyền thống:
- Giảm chi phí.
- Học tùy theo khả năng, tốc độ của bản thân.
- Khả năng thay đổi nhanh.
- Cung cấp, phản hồi nhanh, nhất quán.
- Sinh hoạt chuyên môn, tổ nhóm; bồi dưỡng chuyên môn bám sát vào chuẩn KT-KN.
II. Tổ chức dạy học theo chuẩn KT-KN của môn Địa lí cấp THCS
1. Quan hệ giữa Chuẩn KT-KN, SGK và Chương trình GDPT môn Địa lí
Mối quan hệ giữa chuẩn KT-KN, SGK, chương trình Giáo dục phổ thông có thể được
khái quát bằng sơ đồ sau:
1.1. Chương trình GDPT môn Địa lí THCS
* Chương trình môn Địa lí: Vị trí môn Địa lí trong trường phổ thông; mục tiêu của môn
học (KT-KN-Thái độ tình cảm); quan điểm xây dựng chương trình; nội dung; kế hoạch dạy học
từng cấp, lớp; giải thích và hướng dẫn sử dụng.
* Chuẩn KT-KN các lớp 6, 7, 8, 9 gồm các chủ đề, mỗi chủ đề có các mức độ cần đạt
được về KT-KN, các mức độ cần đạt được này được biểu hiện ngắn gọn, bằng các động từ chỉ
mức độ nhận thức đứng trước câu.
Ví dụ: Địa lí 6 Mục tiêu về KT-KN của Chủ đề Trái Đất-Nội dung 2: Các chuyển động
của Trái Đất và hệ quả
a. Kiến thức
17
CHƯƠNG TRÌNH
GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
HƯỚNG DẪN THỰC HIỆN
CHUẨN KT-KN
Sách giáo khoa Sách giáo viên Sách tham khảo
và các loại sách
hướng dẫn khác
- Trình bày được chuyển động tự quay quanh trục và quanh Mặt Trời của Trái Đất: hướng,
thời gian, quỹ đạo và tính chất của chuyển động: tính chất hướng, độ nghiêng của trục Trái Đất
không đổi khi chuyển động trên quỹ đạo.
- Trình bày được hệ quả các chuyển động của Trái Đất
+ Chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất: hiện tượng ngày và đêm kế tiếp, sự lệch
hướng chuyển động của các vật thể.
+ Chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời: hiện tượng các mùa và hiện tượng ngày
mặt phẳng quỹ đạo.
+ Hướng tự quay: từ Tây sang Đông.
+ Thời gian tự quay một vòng quanh trục là 24 giờ ( một ngày đêm). Vì vậy, người ta chia
bề mặt Trái Đất ra 24 khu vực giờ.
18
- Chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời
+ Trái Đất chuyển động quanh Mặt Trời theo một quỹ đạo có hình elip gần tròn.
+ Hướng chuyển động: từ Tây sang Đông
+ Thời gian Trái Đất chuyển động một vòng quanh Mặt Trời là 365 ngày 6 giờ.
+ Trong khi chuyển động trên quỹ đạo quanh Mặt Trời, Trái Đất lúc nào cũng giữ nguyên
độ nghiêng 66
0
33' trên mặt phẳng quỹ đạo và hướng nghiêng của trục không đổi. Đó là sự
chuyển động tịnh tiến.
Trình bày được các hệ quả chuyển động của Trái Đất.
- Hệ quả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất:
+ Hiện tượng ngày đêm kế tiếp nhau ở khắp mọi nơi trên Trái Đất.
+ Sự lệch hướng của các vật thể ở nửa cầu Bắc và nửa cầu Nam.
- Hệ quả chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời:
+ Hiện tượng các mùa trên Trái Đất.
+ Hiện tượng ngày đêm dài, ngắn khác nhau theo mùa và theo vĩ độ.
b. Kĩ năng
- Sử dụng hình vẽ để mô tả chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất và chuyển động
của Trái Đất quanh Mặt Trời.
- Dựa vào hình vẽ mô tả hướng chuyển động tự quay, sự lệch hướng chuyển động của các
vật thể trên bề mặt Trái Đất.
- Dựa vào hình vẽ mô tả hướng chuyển động, quỹ đạo chuyển động, độ nghiêng và hướng
nghiêng của trục Trái Đất khi chuyển động trên quỹ đạo; trình bày hiện tượng ngày đêm dài,
ngắn ở các vĩ độ khác nhau trên Trái Đất theo mùa.
1.3. Giữa tài liệu Hướng dẫn thực hiện Chuẩn KT-KN và SGK
2.1. Xác định mục tiêu KT-KN cho 1 tiết dạy
- GV dựa vào Chương trình GDPT để xác định mục tiêu về KT-KN của từng chủ đề.
Trong mỗi chủ đề, GV xác định được số lượng đơn vị KT-KN, mức độ cần đạt được của mỗi
đơn vị KT-KN. Trên cơ sở mục tiêu của chủ đề, GV xác định mục tiêu của tiết học (bài học) và
nội dung ôn tập KTĐG.
- Mục tiêu về KT-KN trong Chương trình GDPT hoặc tài liệu Hướng dẫn thực hiện chuẩn
KT-KN được viết theo chủ đề. Để xác định mục tiêu của tiết dạy, GV dựa vào Chương trình
GDPT hoặc Tài liệu hướng dẫn thực hiện Chuẩn KT-KN kết hợp với phân phối chương trình và
SGK để tách mục tiêu từ các chủ đề thành mục tiêu của tiết học. Sau đây là một số ví dụ minh
họa hướng dẫn GV thực hiện ở một số chủ đề:
Ví dụ 1: Địa lí 6
Mục tiêu về KT-KN của Chủ đề Trái Đất
Nội dung 2: Các chuyển động của Trái Đất và hệ quả
a. Kiến thức
* Trình bày được chuyển động tự quay quanh trục và quanh Mặt Trời của Trái Đất:
hướng, thời gian, quỹ đạo và tính chất của chuyển động: tính chất hướng, độ nghiêng của trục
Trái Đất không đổi khi chuyển động trên quỹ đạo.
* Trình bày được hệ quả các chuyển động của Trái Đất:
- Chuyển động tự quay quanh trục của Trái Đất: hiện tượng ngày và đêm kế tiếp, sự lệch
hướng chuyển động của các vật thể.
- Chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời: hiện tượng các mùa và hiện tượng ngày đêm
dài ngắn khác nhau theo mùa.
20
b. Kĩ năng
- Sử dụng hình vẽ để mô tả chuyển động tự quay của Trái Đất và chuyển động của Trái
Đất quanh Mặt Trời.
- Dựa vào hình vẽ mô tả hướng chuyển động tự quay, sự lệch hướng chuyển động của các
vật thể trên bề mặt Trái Đất.
- Dựa vào hình vẽ mô tả hướng chuyển động, quỹ đạo chuyển động, độ nghiêng và hướng
nghiêng của trục Trái Đất khi chuyển động trên quỹ đạo; trình bày hiện tượng ngày đêm dài,
Tiết 3. Hiện tượng ngày, đêm dài ngắn theo mùa
a. Kiến thức
Trình bày được hệ quả các chuyển động của Trái Đất quanh Mặt Trời: hiện tượng ngày
đêm dài ngắn khác nhau theo mùa, theo vĩ độ.
- Hiện tượng ngày đêm dài ngắn ở các vĩ độ khác nhau trên Trái Đất.
- Ở hai miền cực, số ngày có ngày, đêm dài suốt 24 giờ thay đổi theo mùa.
b. Kĩ năng
Dựa vào hình vẽ trình bày hiện tượng ngày, đêm dài, ngắn ở các vĩ độ khác nhau trên Trái
Đất theo mùa.
Ví dụ 2: Địa lí 7
Mục tiêu KT-KN của chủ đề Thành phần nhân văn của môi trường
a. Kiến thức
- Trình bày được quá trình phát triển và tình hình gia tăng dân số thế giới, nguyên nhân
và hậu quả của nó.
- Nhận biết được sự khác nhau giữa các chủng tộc Môn-gô-lô-it, Nê-grô-it và Ơ-rô-pê-
it về hình thái bên ngoài của cơ thể (màu da, tóc, mắt, mũi) và nơi sinh sống chủ yếu của
mỗi chủng tộc.
- Trình bày và giải thích ở mức độ đơn giản sự phân bố dân cư không đồng đều trên
thế giới.
- So sánh được sự khác nhau giữa quần cư nông thôn và quần cư đô thị về hoạt động
kinh tế, mật độ dân số, lối sống.
- Biết sơ lược quá trình đô thị hoá và sự hình thành các siêu đô thị trên thế giới.
Một số siêu đô thị trên thế giới: Niu I-ooc, Mê-hi-cô, Xao Pao-lô, Tô-ki-ô, Thượng
Hải, Mat-xcơ-va, Pa-ri, Luân Đôn ...
b. Kĩ năng
- Đọc và hiểu cách xây dựng tháp tuổi.
- Đọc biểu đồ gia tăng dân số thế giới để thấy được tình hình gia tăng dân số trên thế giới.
- Đọc các bản đồ hoặc lược đồ Phân bố dân cư thế giới.
Mục tiêu về KT-KN của các tiết học trong
chủ đề Thành phần nhân văn của môi trường
- Quần cư nông thôn: có mật độ dân số thấp; làng mạc, thôn xóm thường phân tán gắn với
đất canh tác, đồng cỏ, đất rừng, hay mặt nước; dân cư sống chủ yếu dựa vào xuất nông, lâm,
ngư nghiệp.
- Quần cư thành thị: có mật độ dân số cao, dân cư sống chủ yếu dựa vào sản xuất công
nghiệp và dịch vụ.
- Lối sống nông thôn và lối sống đô thị có nhiều điểm khác biệt (dẫn chứng).
* Biết sơ lược quá trình đô thị hoá và sự hình thành các siêu đô thị trên thế giới; Niu I-ooc, Mê-
hi-cô, Xao Pao-lô, Tô-ki-ô, Thượng Hải, Mat-xcơ-va, Pa-ri, Luân Đôn, Mum bai,...
b. Mục tiêu về kĩ năng
23
Đọc các bản đồ (hoặc lược đồ) : Các siêu đô thị trên thế giới: xác định trên bản đồ (hoặc
lược đồ) Các siêu đô thị trên thế giới.
Tiết 4. Thực hành: Phân tích lược đồ dân số và tháp tuổi
a. Mục tiêu về kiến thức
- Biết nhận xét sự phân bố dân cư và đô thị; nhận xét tháp tuổi.
- So sánh các tháp tuổi ở các mộc thời gian khác nhau để thấy được sự thay đổi cơ cấu các
nhóm tuổi.
b. Mục tiêu về kĩ năng
- Đọc bản đồ, lược đồ.
- Phân tích tháp tuổi.
Ví dụ 3: Địa lí 8
Mục tiêu KT-KN của chủ đề Tổng kết địa lí tự nhiên và địa lí các châu lục
a. Kiến thức
- Phân tích được mối quan hệ giữa nội lực, ngoại lực và tác động của chúng đến địa hình
bề mặt Trái Đất.
- Trình bày được các đới, các kiểu khí hậu, các cảnh quan tự nhiên chính trên Trái Đất.
- Phân tích mối quan hệ giữa khí hậu với cảnh quan tự nhiên trên Trái Đất.
- Phân tích được mối quan hệ chặt chẽ giữa các hoạt động sản xuất nông nghiệp, công
nghiệp của con người với môi trường tự nhiên.
b. Kĩ năng
trường địa lí).
b. Mục tiêu về kĩ năng
Sử dụng bản đồ, lược đồ, tranh ảnh để xác lập mối quan hệ giữa môi trường tự nhiên với
hoạt động sản xuất của con người.
Ví dụ 4: Địa lí 8
Mục tiêu KT-KN của chủ đề Việt Nam - đất nước, con người
a. Kiến thức
- Biết vị trí của Việt Nam trên bản đồ thế giới.
- Biết Việt Nam là một trong những quốc gia mang đậm bản sắc thiên nhiên, văn hoá, lịch
sử của khu vực Đông Nam Á.
b. Kĩ năng
Sử dụng bản đồ để nhận biết vị trí của Việt Nam trên bản đồ thế giới.
Mục tiêu về KT-KN của các tiết học trong chủ đề
Việt Nam - đất nước, con người
Chủ đề này được thực hiện trong 1 tiết học, tuy nhiên, khi so sánh giữa chương trình với
SGK ta thấy SGK có nhiều chỗ vượt chuẩn (trong chuẩn không yêu cầu), chẳng hạn mục 2 –
Việt Nam trên con đường xây dựng và phát triển, mục 3 – Học địa lí Việt Nam như thế nào.
Khi gặp tình huống này, GV vẫn phải bám sát chương trình và Tài liệu hướng dẫn thực hiện
chuẩn KT-KN để xác định mục tiêu bài học. Đối với chủ đề/bài học này, ta có thể xác định
mục tiêu KT-KN như sau:
25