A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Hiện nay trong dạy học, người giáo viên đang sử dụng hai loại hình giáo án:
giáo án truyền thống (giáo án viết tay hoặc đánh máy trên Word) và giáo án điện tử.
Thời gian gần đây, loại hình giáo án điện tử đang được người giáo viên thi đua soạn
giảng và đã đạt hiệu quả cao. Nhưng không phải vì thế mà tuyệt đối hóa loại hình
giáo án điện tử. Bởi vì, mỗi loại hình giáo án đều có những ưu – nhược điểm riêng,
đặc biệt là trong các giờ dạy Văn. Vì vậy, tùy vào tính chất của từng bài dạy mà
GV lựa chọn sử dụng loại hình giáo án làm sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao
nhất.
Thực tế mà nói, dù là soạn giảng theo hình thức nào thì giáo án có một tác
dụng rất lớn. Giáo án là một dàn ý chi tiết đã được giáo viên chuẩn bị trước một
cách kĩ lưỡng, trù tính trước ý đồ thiết kế - tổ chức quá trình dạy và học cho từng
bài dạy cụ thể trên lớp, nhằm giúp các đối tượng học sinh học tập đạt hiệu quả cao
nhất.
Tuy thế, trong mỗi lần kiểm tra giáo án hay họp chuyên môn, nhiều giáo viên
thường có câu nói cửa miệng “Giáo án chỉ là một hình thức đối phó!”. Mới thoáng
nghe, chúng ta đều thấy cũng có lí, nhưng suy nghĩ cho kĩ càng, thấu đáo và
nghiêm túc thì đó chỉ là sự bao biện không thể chấp nhận. Thực tiễn dạy học cho
thấy nếu lên lớp không có giáo án, tức là không trù tính trước ý đồ tổ chức, thiết kế
quá trình dạy học, hay có nhưng soạn sơ sài thì không có bất kì một giáo viên nào,
dù đó là người có kinh nghiệm, có tay nghề giỏi cũng không thể hướng dẫn học
sinh học tập đạt hiệu quả như ý.
Đặc biệt, đối với những bài soạn cho tiết dạy trả bài viết Tập làm văn lại
càng được ít giáo viên coi trọng. Qua nhiều lần kiểm tra hồ sơ trong trường và đi
thanh tra giáo viên ở các trường bạn, chúng tôi thấy hầu hết giáo viên đều soạn
giảng tiết trả bài viết Tập làm văn thường rất sơ sài, mang tính chiếu lệ. Đó là
1
những bài soạn được thiết kế bằng những gạch ngang đầu dòng về ưu – nhược
2. Nhiệm vụ:
- Đề xuất khung sườn cách soạn giáo án tiết trả bài viết Tập làm văn phù hợp
nhất, khả thi nhất.
- Từ đó, thống nhất dàn ý chung nhất cho tiết trả bài viết.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
1. Phương pháp khảo sát và phân loại
2. Phương pháp thống kê
3. Phương pháp so sánh, đối chiếu
4. Phương pháp phân tích
5. Phương pháp tổng hợp
B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Nội dung, chương trình Ngữ văn bậc THCS được cấu tạo theo nguyên tắc
đồng tâm, trên cơ sở lấy 06 kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận, thuyết
minh, điều hành làm trục đồng quy với một sự tiếp nối, kế thừa và phát triển nâng
cao rất lôgíc và hợp lí .
1. Nhận thức về vị trí của bài viết Tập làm văn:
Mục tiêu cao nhất của bộ môn Ngữ văn nói chung và phân môn Tập làm văn
nói riêng là giúp HS rèn luyện và thực hành kĩ năng tạo lập văn bản (nói – viết). Vì
vậy, trong cấu trúc nội dung, chương trình SGK, các bài viết Tập làm văn đóng
một vai trò quan trọng. Ở bậc THCS, học sinh được học và thực hành tạo lập 06
kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm (trữ tình), lập luận (nghị luận), thuyết minh,
điều hành (hành chính – công vụ). Riêng văn bản điều hành không có tiết thực
hành độc lập mà thực hành đan xen trong bài học. Đó là những kiểu văn bản chiếm
nhiều số tiết học lí thuyết và thực hành. Chúng ta có thể thống kê lại như sau:
3
Lớp
còn ngay cả trong cuộc sống hằng ngày. Để có thể tạo lập được một văn bản (nói viết) đơn giản hay phức tạp thì đòi hỏi người nói - viết phải có kĩ năng vận dụng tốt
kiến thức tiếng Việt (chính tả, ngữ âm, ngữ pháp, ngữ nghĩa, …), kiến thức văn bản
(truyện, thơ, kịch, …), hay nói cách khác là người học phải biết vận dụng tổng hợp
kiến thức Tập làm văn – Văn – Tiếng Việt, nhằm thuyết phục người đọc, người
nghe về một vấn đề nào đó.
Vì thế, bài viết Tập làm văn là bài kiểm tra tổng hợp, toàn diện; là bước
kiểm định cuối cùng, là tiêu chí đáng tin cậy và thuyết phục nhất để giáo viên vừa
kiểm tra, đánh giá, nhận xét khả năng vận dụng và thực hành tạo lập văn bản của
học sinh (khả năng tìm hiểu đề, tìm ý, lập dàn ý; cách dùng từ, đặt câu, lối hành
văn diễn đạt ...), vừa có cái nhìn thẩm định khách quan nhất để rút kinh nghiệm và
điều chỉnh phương pháp soạn giảng cũng như phương pháp dạy học.
3. Nhận thức về nội dung dạy học tiết trả bài viết Tập làm văn:
Điểm chung của hoạt động dạy học văn theo tư tưởng truyền thống và cơ chế
dạy - học hiện đại là lên lớp phải có giáo án. Song, giáo án của cơ chế dạy học hiện
đại phải thể hiện rõ và nhịp nhàng, đều tay giữa chủ thể chỉ đạo (giáo viên) và chủ
thể nhận thức (học sinh) trong từng nội dung hoạt động cụ thể.
Nhưng không giống như bài soạn cho các bài dạy thông thường, bài soạn
cho tiết trả bài thường không bao giờ có định sẵn trước một mục tiêu chuẩn nào
cả, mà giáo viên chỉ có thể đặt ra được nội dung mục tiêu cho bài soạn, bài dạy
ngay sau khi hoàn tất công đoạn chấm bài viết cụ thể của học sinh. Nói như vậy
nghĩa là sau khi chấm, giáo viên mới tổng hợp được những sai sót và yếu kém từng
4
mặt để từ đó mới đưa ra được những định hướng khắc phục, sửa chữa từng nội
dung cụ thể cho học sinh.
Bên cạnh đó cần phải nói thêm rằng mục tiêu của của các bài viết Tập làm
văn là giúp học sinh thuần thục hơn các kĩ năng tạo lập văn bản, cho nên nhất thiết
ở mỗi tiết trả bài, giáo viên cần phải có sự sáng tạo và đầu tư thỏa đáng, kĩ
lưỡng xuất phát từ chất lượng bài viết của học sinh để có thể chỉnh sửa, uốn
sáng tạo, hoặc còn xem nhẹ, không đầu tư, không quan tâm đúng mức đến tác
dụng, ý nghĩa và tầm quan trọng của bài soạn tiết trả bài viết Tập làm văn.
- Đa số học sinh có thói quen học vẹt bài văn mẫu mà không nắm vững các kĩ năng
viết văn (tuy trong chương trình học sinh đã được tìm hiểu về lí thuyết cách tạo lập
từng kiểu văn bản)
- Tổ, nhóm chuyên môn chưa phát huy được hết vai trò, trách nhiệm của mình
IV. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN:
Căn cứ vào đặc thù bài dạy, thực trạng bài viết Tập làm văn của học sinh và
bài soạn của giáo viên như đã nói ở trên, chúng tôi đã đưa ra một số giải pháp và
thực hiện như sau:
1. Phần mục tiêu của bài soạn, bài dạy:
Như đã nói ở trên, phần này tùy vào thực trạng bài viết của học sinh mà giáo
viên linh động và sáng tạo để đặt ra mục tiêu cần đạt về kiến thức - kĩ năng - thái
độ làm sao cho cho phù hợp với từng bài soạn, bài dạy tiết trả bài.
Chẳng hạn, nếu bài viết của học sinh mắc lỗi tìm hiểu đề, lỗi tìm ý, lỗi chính
tả hoặc lỗi xây dựng đoạn văn và liên kết đoạn văn, lỗi hành văn, … thì mục tiêu
trong bài soạn là giúp học sinh nhận thức được nguyên nhân và có kĩ năng khắc
phục, sửa chữa được các lỗi đó; giáo dục các em có ý thức chủ động tự rèn luyện.
2. Phần nội dung một bài soạn tiết trả bài Tập làm văn:
Đây là phần cụ thể hóa cho phần 1. Khi thực hiện phần này, chúng tôi
thường tiến hành làm rõ các nội dung: tìm hiểu đề, tìm ý, làm dàn ý, đọc và bình,
sửa chữa các lỗi mắc phải. Nhưng tùy tính chất bài viết của học sinh mà chúng tôi
có thể lướt qua hoặc nhấn mạnh ở một số nội dung, hay nói cách khác xem học
6
sinh của mình thiếu cái gì thì chúng tôi hướng dẫn các em tự đi tìm cái còn thiếu
đó.
2.1. Tìm hiểu đề:
* Đề bài ví dụ:
- Cách thức thực hiện: Tùy vào từng kiểu bài mà giáo viên linh động, sáng
tạo hướng dẫn học sinh đặt hệ thống câu hỏi và trả lời câu hỏi theo một số quy tắc
gợi ý sau:
Quy tắc tìm dẫn chứng: Ai, cái gì ? + Mặt nào? + Lúc nào? + Ở đâu? + …
* Đề bài ví dụ: Nhân vật chị Dậu trong “Tức nước vỡ bờ” (trích tiểu thuyết
“Tắt đèn” - Ngô Tất Tố) là tiêu biểu cho vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ
Việt Nam. Em hãy làm sáng tỏ ý kiến trên.
Vẻ đẹp tâm hồn của ai? Tiêu biểu cho ai? (Vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật chị Dậu
tiêu biểu cho vẻ đẹp tâm hồn truyền thống của người phụ nữ Việt Nam)
Vẻ đẹp tâm hồn của nhân vật chị Dậu được thể hiện ở những mặt nào? (đảm
đang, tháo vát; thương yêu chồng con; sức sống mạnh mẽ tiềm tàng…)
Mỗi vẻ đẹp tâm hồn trên của nhân vật thể hiện lúc nào, ở đâu? (khi chạy vạy
ngược xuôi kiếm tiền cứu anh Dậu; khi phải bán cái Tí; khi đối phó với tên cai lệ và
người nhà lí trưởng; …)
Quy tắc tìm lí lẽ: Thế nào? + Tại sao? + Cảm xúc suy nghĩ?
* Đề bài ví dụ: Em hiểu như thế nào về câu tục ngữ Ăn quả nhớ kẻ trồng
cây.
Ăn quả và kẻ trồng cây có nghĩa đen và nghĩa bóng như thế nào? (nghĩa đen: Ăn
quả: ăn những trái cây chín, thơm, ngọt, bùi; kẻ trồng cây: người trồng, vun xới,
chăm bón cây, trái. Nghĩa bóng: hưởng thụ thành quả của những người đi trước đã
tạo ra)
Tại sao ăn quả phải nhớ kẻ trồng cây? (thể hiện được truyền thống đạo lí tốt đẹp
của cha ông ta và là nền tảng để hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách con
người; mọi thành quả không tự nhiên mà có…)
Nhớ kẻ trồng cây, ta phải làm như thế nào? (có những hành động và việc làm
đúng đắn với những người đã tạo ra thành quả: ông bà, tổ tiên, cha mẹ, người nông
dân, người công nhân, thầy cô, các anh hùng liệt sĩ…)
Em có cảm xúc, suy nghĩ gì về lời dạy của câu tục ngữ trên? …
8
9
2.6/ Hướng dẫn viết đoạn văn tham khảo:
- Cách thức thực hiện: Giáo viên cần chuẩn bị trước ở nhà một số đoạn văn
mẫu để lên lớp phân tích, củng cố cách xây dựng đoạn văn phần mở bài, thân bài,
kết bài cho học sinh.
Ví dụ: Viết phần mở bài, thân bài và kết bài cho đề bài: Phân tích nhân vật
Lão Hạc trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao.
Đoạn mở bài:
(1) Truyện ngắn “Lão Hạc” của Nam Cao là một trong những tác phẩm
xuất sắc nhất của văn học hiện thực Việt Nam (1932 -1945). (2) Nhân vật Lão Hạc
trong truyện là tiêu biểu cho cuộc đời người nông dân Việt Nam trước cách mạng:
nghèo đói, bất hạnh nhưng trong sáng về tinh thần, giàu tình cảm.
(Trình tự lập luận, xây dựng đoạn: Câu (1) nêu xuất xứ của vấn đề: tác giả,
tác phẩm, hoàn cảnh sáng tác Câu (2) nêu vấn đề cần nghị luận: giới thiệu tên
nhân vật, báo trước đặc điểm nhân vật (khái quát) cần làm rõ ở phần thân bài)
Đoạn thân bài:
(1) Cảm động và đáng khâm phục hơn cả, tuy Lão Hạc không được học
hành, không có kiến thức nhưng lão có ý thức rất cao về lòng tự trọng. (2) Trước
khi tìm cho mình một “lối thoát”, lão đã gửi tiền cho ông giáo (25 đồng và 3 đồng
bán chó) để nói với hàng xóm giúp khi hậu sự và để cho lão ra đi thanh thản. (3)
Lão không nhờ vả và khước từ mọi sự giúp đỡ của ông giáo, “lão từ chối một cách
dường như hách dịch”, lão thà thiếu đói chứ không làm việc xấu xa ăn cắp ăn trộm
như Binh Tư…
(Trình tự lập luận, xây dựng đoạn: Câu (1) chuyển đoạn và nêu luận điểm
(tính cách nhân vật lão Hạc) Câu (2,3) nêu dẫn chứng và lí lẽ.)
Đoạn kết bài:
(1) Lão Hạc là nhân vật tiêu biểu cho những phẩm chất tốt đẹp của người
nông dân Việt Nam: nhân hậu, lương thiện, thương yêu con và có lòng tự trọng cao.
- HS: Xem lại phần lí thuyết văn bản nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí.
III. TIẾN TRÌNH DẠY-HỌC:
1. Ổn định lớp: (Lớp trưởng báo cáo sĩ số và tình hình chuẩn bị bài ở nhà
của các bạn)
2. Dạy bài mới:
* GV giới thiệu mục đích yêu cầu của tiết trả bài.
11
HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS
NỘI DUNG BÀI HỌC
Hoạt động 1: Tìm hiểu các yêu cầu của bài viết.
* Thao tác 1: Tìm hiểu đề bài.
- HS nhắc lại đề bài; GV chép đề bài * Đề bài: Suy nghĩ về đạo lí “Ăn quả
lên bảng và hướng dẫn tìm hiểu đề.
nhớ người trồng cây.”
- GV:
- Dạng đề: Nghị luận về một vấn đề tư
? Hãy nhắc lại kết quả tìm hiểu đề của tưởng, đạo lí.
em (cấu tạo của đề)? Từ đó, em hiểu - Yêu cầu của đề bài: Phân tích, chứng
được như thế nào về yêu cầu của đề minh làm sáng rõ một tư tưởng, đạo lí
bài?
tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
- HS nhắc lại kết quả tìm hiểu đề (…)
cách tìm ý của HS.
người nông dân, người công nhân, thầy
12
cô, các anh hùng liệt sĩ, …
- (? Nhớ người trồng cây, ta phải làm
- HS lắng nghe và rút kinh nghiệm.
như thế nào, làm ra sao?): chúng ta
phải có những hành động và việc làm
đúng đắn với những người đã tạo ra
thành quả
- (?Suy nghĩ gì về lời dạy của câu tục
ngữ trên?):Câu tục ngữ là một lời dạy
đúng đắn, phù hợp với mọi thời đại
trong việc bồi dưỡng và rèn luyện nhân
- GV:
cách con người
* Thao tác 3: Làm dàn ý.
1. Mở bài:
? Nhắc lại cách làm dàn ý của em?
- Dân tộc Việt Nam vốn có truyền
2.3. Nhớ người trồng cây nghĩa là bây
- GV nhận xét, bổ sung, sửa chữa về giờ chúng ta phải có những hành động
cách lập dàn ý của HS:
và việc làm đúng đắn với những người
+ Bố cục
đã tạo ra thành quả…
+ Cách sử dụng và cách sắp xếp các ý 2.4. Không thể chấp nhận lối sống “ăn
trong từng phần của bài văn.
cháo đá bát”, “vong ơn bội nghĩa”…
3. Kết bài:
- Câu tục ngữ là bài học đạo đức nhẹ
- HS lắng nghe và rút kinh nghiệm.
nhàng mà sâu sắc, thấm thía
- Phấn đấu làm người trồng cây cho thế
hệ sau
Hoạt động 2: Chữa và đọc bài:
* Thao tác 1: Chữa bài.
- GV: Trả bài viết cho HS
* Ưu điểm:
- GV: Từ kết quả thống kê được sau - Xác định được các yêu cầu của đề bài
khâu chấm bài, trước khi đi vào sửa lỗi, - Bố cục cân đối, mạch lạc
+ Lỗi xây dựng và liên kết đoạn văn, … + “cha ông ta” đúc rút kinh nghiệm
vv
…” Sửa: cha ông ta đúc rút kinh
- HS nhận bài và lắng nghe, tự rút kinh nghiệm …
nghiệm.
+“Câu tục ngữ ăn quả nhớ người
trồng cây là lời dạy bổ ích khiến cho
chúng ta phải suy nghỉ…”. Sửa: Câu
tục ngữ “Ăn quả nhớ người trồng cây”
là lời dạy bổ ích khiến cho chúng ta
phải suy nghĩ…;
+ …vv
- Viết câu chưa đúng:
+ “Qua câu tục ngữ nhắc nhở mọi
người …” Sửa: Qua câu tục ngữ, cha
ông ta nhắc nhở mọi người …
+ “Trong cuộc sống của con người.
Chúng ta nên ghi nhớ và thực hiện tốt
lời dạy…” Sửa: Trong cuộc sống,
chúng ta nên ghi nhớ và thực hiện tốt
lời dạy…
+ …vv
- GV giải đáp mọi thắc mắc của HS - Dùng từ còn thô và chưa chuẩn xác:
(nếu có).
+ “Một số thanh niên ngày nay không
? Em có nhận xét gì về nội dung và
hình thức diễn đạt của các bài viết vừa
đọc?
- HS trao đổi và nêu nhận xét của mình.
- GV biểu dương, khích lệ HS.
Hoạt động 3: Đọc tham khảo.
- GV chuẩn bị và tổ chức cho HS đọc một số đoạn văn tham khảo, sau đó, hướng
dẫn tìm hiểu trình tự lập luận của đoạn văn.
* Đoạn mở bài tham khảo:
(1) Dân tộc Việt Nam vốn có truyền thống yêu quý, tôn trọng đạo lí. (2) Để
nhắc nhở, giáo dục con cháu về lòng biết ơn đối với thế hệ đi trước đã làm nên
thành quả cho đời sau hưởng thụ, cha ông ta có một kho tàng tục ngữ phong phú,
sâu sắc. (3) Đáng chú ý nhất là câu “Ăn quả nhớ người trồng cây.”
(Trình tự lập luận: Câu (1) nêu mục đích, xuất xứ của vấn đề
Câu (2)
xác định và báo trước vấn đề cần nghị luận ở thân bài Câu (3) trích dẫn phần
16
nêu của đề bài.)
* Đoạn kết bài tham khảo:
(1) Tóm lại, câu tục ngữ trên đã đưa ra một bài học đạo đức nhẹ nhàng mà
sâu sắc, thấm thía. (2) Trong cuộc sống, đối với bản thân em, em sẽ luôn lễ phép,
ngoan ngoãn, chăm chỉ, chịu khó học tập và lao động trở thành người có ích để
đền đáp và ghi nhớ công lao sinh thành, nuôi dưỡng của cha mẹ ông bà, công ơn
dạy dỗ của thầy cô …, đồng thời luôn cố gắng phấn đấu làm “người trồng cây”
tạo ra thành quả lao động cho người khác.
(Trình tự lập luận: Câu (1) tác dụng của vấn đề Câu (2) liên hệ bản
; ý tứ tương đối đầy đủ, rõ ràng; trình bày mạch lạc, ít mắc lỗi chính tả, …
4. Đối chiếu các bài viết Tập làm văn trên lớp của HS trước và sau khi thực
hiện kinh nghiệm này, chúng tôi có được tổng hợp chất lượng bài viết như sau:
4.1/ Chất lượng trước khi thực hiện kinh nghiệm:
Lớp Sĩ
BÀI VIẾT SỐ 1
Giỏi Khá TB Yếu
BÀI VIẾT SỐ 2
Kém Giỏi Khá TB Yếu
số
9A 35 00
04
16
12
03
0
04
16
13
Tỉ lệ
11% 46% 34% 09%
11% 46% 37%
9B 35 00
01
16
14
04
00
05
07
17
05
15% 20% 50% 15%
00
05
23
06
15% 67% 18%
Kém
02
06%
03
09%
Kém
00
00
Có lẽ sáng kiến kinh nghiệm này chưa thực sự sâu sắc và có sức thuyết phục
cao, nhưng qua bảng so sánh trên đã cho thấy được sự chuyển biến theo hướng
ngày càng tích cực về chất lượng học tập của học sinh. Vì vậy, chúng tôi hi vọng và
tin tưởng rằng trong thời gian tới, với sự tìm tòi, khả năng sáng tạo và sự nỗ lực
18
20