Gián án Soạn giảng tiết trả bài TLV - một số điểm cần lưu ý - Pdf 80

Soạn giảng tiết trả bài viết Tập Làm văn - một số điểm cần lưu ý
A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Dù hiện nay toàn Ngành đã và đang sôi nổi thực hiện có hiệu quả việc soạn
và dạy bằng giáo án điện tử, nhưng giáo án truyền thống (giáo án viết tay hoặc
đánh máy trên Word) vẫn là loại giáo án không mấy khi có thể thay thế được trong
nhiều tiết dạy trên lớp của người giáo viên. Nói như vậy có nghĩa là dù soạn giảng
bằng hình thức nào đi chăng nữa đều có những ưu – nhược điểm riêng, đặc biệt là
trong các giờ dạy Văn. Vì vậy, tùy vào tính chất của từng bài dạy mà GV lựa chọn
sử dụng loại hình giáo án làm sao cho phù hợp và đạt hiệu quả cao nhất.
Không phải cực đoan, thực tế mà nói, nếu đem so sánh với giáo án điện tử,
chúng ta thấy rằng với giáo án truyền thống, người giáo viên thể hiện được một
cách cụ thể và rõ nét các hoạt động của thầy và trò. Giáo án truyền thống như là
một dàn ý chi tiết đã được giáo viên chuẩn bị trước một cách kĩ lưỡng, trù tính trước
ý đồ thiết kế - tổ chức quá trình dạy và học cho từng bài dạy cụ thể trên lớp, nhằm
giúp các đối tượng học sinh học tập đạt hiệu quả cao nhất.
Tuy thế, trong mỗi lần kiểm tra giáo án hay họp chuyên môn, nhiều giáo viên
thường có câu nói cửa miệng “Giáo án chỉ là một hình thức đối phó!”. Mới thoáng
nghe, chúng ta đều thấy cũng có lí, nhưng suy nghĩ cho kĩ càng, thấu đáo và
nghiêm túc thì đó chỉ là sự bao biện không thể chấp nhận. Thực tiễn dạy học cho
thấy nếu lên lớp không có giáo án, tức là không trù tính trước ý đồ tổ chức, thiết kế
quá trình dạy học, hay có nhưng soạn sơ sài thì không có bất kì một giáo viên nào,
dù đó là người có kinh nghiệm, có tay nghề giỏi cũng không thể hướng dẫn học sinh
học tập đạt hiệu quả như ý.
Đặc biệt, đối với những tiết soạn cho tiết dạy trả bài viết Tập làm văn lại
càng được ít giáo viên coi trọng. Qua nhiều lần kiểm tra hồ sơ trong trường và đi
thanh tra giáo viên ở các trường bạn, chúng tôi thấy hầu hết giáo viên đều soạn
giảng tiết trả bài viết Tập làm văn thường rất sơ sài, mang tính chiếu lệ. Đó là
những bài soạn được thiết kế bằng những gạch ngang đầu dòng về ưu – nhược điểm
mà không thể hiện rõ đúng tính chất của một tiết trả bài viết Tập làm văn. Đó là
vấn đề khiến cho tôi quan tâm và tìm cách tháo gỡ.

nhất, khả thi nhất.
- Từ đó, thống nhất dàn ý chung nhất cho tiết trả bài viết.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI:
1. Phương pháp khảo sát và phân loại
2. Phương pháp thống kê
3. Phương pháp so sánh, đối chiếu
4. Phương pháp phân tích
5. Phương pháp tổng hợp
B. PHẦN NỘI DUNG
I. CƠ SỞ LÍ LUẬN:
Nội dung, chương trình Ngữ văn bậc THCS được cấu tạo theo nguyên tắc
đồng tâm, trên cơ sở lấy 06 kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm, lập luận, thuyết
minh, điều hành làm trục đồng quy với một sự tiếp nối, kế thừa và phát triển nâng
cao rất lôgíc và hợp lí .
1. Nhận thức về vị trí của bài viết Tập làm văn:
Mục tiêu cao nhất của bộ môn Ngữ văn nói chung và phân môn Tập làm văn
nói riêng là giúp HS rèn luyện và thực hành kĩ năng tạo lập văn bản (nói – viết). Vì
vậy, trong cấu trúc nội dung, chương trình SGK, các bài viết Tập làm văn đóng
một vai trò quan trọng. Ở bậc THCS, học sinh được học và thực hành tạo lập 06
kiểu văn bản: tự sự, miêu tả, biểu cảm (trữ tình), lập luận (nghị luận), thuyết minh,
điều hành (hành chính – công vụ). Riêng văn bản điều hành không có tiết thực hành
Trần Đăng Hảo – THCS Ngô Quyền – M’đrắk
2
Soạn giảng tiết trả bài viết Tập Làm văn - một số điểm cần lưu ý
độc lập mà thực hành đan xen trong bài học. Đó là những kiểu văn bản chiếm nhiều
số tiết học lí thuyết và thực hành. Chúng ta có thể thống kê lại như sau:
Lớp
Kiểu văn bản thực hành tạo lập
Tự sự Miêu tả Biểu cảm Lập luận
(nghị luận)

Tuy nhiên, như chúng ta đã biết, mục tiêu của của các bài viết Tập làm văn là
giúp học sinh thuần thục hơn các kĩ năng tạo lập văn bản, cho nên nhất thiết ở mỗi
tiết trả bài, giáo viên cần phải có sự đầu tư thỏa đáng, kĩ lưỡng và sát thực với
chất lượng bài viết của học sinh để có thể chỉnh sửa, uốn nắn được những gì mà
các em chưa làm được từ khâu tìm hiểu đề đến bước viết bài hoàn chỉnh.
II. THỰC TRẠNG GIẢNG DẠY TIẾT TRẢ BÀI VIẾT TẬP LÀM VĂN:
1. Đối với giáo viên:
Trần Đăng Hảo – THCS Ngô Quyền – M’đrắk
3
Soạn giảng tiết trả bài viết Tập Làm văn - một số điểm cần lưu ý
- Chưa thật sự chú trọng đến thao tác hướng dẫn học sinh tìm ra nguyên nhân và
cách sửa chữa những yếu kém trong bài viết của học sinh trong giờ dạy trả bài.
- Còn xem nhẹ hoặc soạn qua loa các tiết trả bài viết Tập làm văn (do xưa nay
không có ai đi dự giờ những tiết trả bài bao giờ cả).
- Các bài soạn tiết trả bài viết Tập làm văn còn sơ sài, chung chung và trừu tượng.
2. Đối với học sinh:
- Nhớ các thao tác, các bước tạo lập văn bản, nhưng lại mơ hồ trong thực hiện từng
bước đó.
- Qua đối chiếu 03 bài viết Tập làm văn gần nhau của một số em học sinh, chúng tôi
thấy các lỗi nội dung, đặc biệt là lỗi hình thức thường không được khắc phục. Nói
như vậy nghĩa là ở bài viết Tập làm văn sau, học sinh không hề rút ra được kinh
nghiệm từ bài viết trước để khắc phục!
III. NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG:
1.Nguyên nhân khách quan:
- Các bài dạy tiết trả bài viết Tập làm văn không có tài liệu soạn mẫu hay mô hình
bài soạn để tham khảo, thậm chí trong các đợt tập huấn soạn giáo án mấy năm
trước đây cũng không thấy đề cập đến cách soạn.
- Chưa có sự thống nhất cách soạn giảng và chưạ coi trọng thỏa đáng đến mục tiêu,
hiệu quả của các tiết dạy trả bài Tập làm văn.
- Không dự giờ, đánh giá và xếp loại giáo viên đối với các bài dạy tiết trả bài viết

đó.
2.1. Tìm hiểu đề:
* Đề bài ví dụ: “Chuyện người con gái Nam Xương” (Nguyễn Dữ), “Truyện
Kiều” (Nguyễn Du) là hai trong nhiều tác phẩm văn học có chung tiếng nói trân
trọng, ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn và đồng cảm với số phận khổ đau, bất hạnh của
người phụ nữ thời phong kiến. Em hãy phân tích làm sáng tỏ nhận định trên.
- Bản chất: Giáo viên hướng dẫn học sinh tìm hiểu lại cấu tạo của đề bài.
- Cách thức thực hiện: GV hướng dẫn HS làm rõ các ý sau:
+ Phần nêu tư tưởng, phạm vi: “Chuyện người con gái Nam Xương” (Nguyễn
Dữ), “Truyện Kiều” (Nguyễn Du) là hai trong nhiều tác phẩm văn học có chung
tiếng nói trân trọng, ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn và đồng cảm với số phận khổ đau, bất
hạnh của người phụ nữ thời phong kiến
+ Phần yêu cầu làm: Em hãy phân tích làm sáng tỏ nhận định trên.
(Từ cấu tạo trên, GV hướng dẫn cho HS thấy được dạng đề bài (nghị luận
văn học), phép lập luận (chứng minh, giải thích, phân tích), đối tượng cần nghị
luận (tiếng nói trân trọng, ngợi ca và đồng cảm về tâm hồn và số phận người phụ nữ
phong kiến, qua hai nhân vật Vũ Nương, Thuý Kiều), phạm vi tư liệu (hai tác phẩm
“Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ, “Truyện Kiều” của Nguyễn
Du)
- Tác dụng:
+ Giúp học sinh có thói quen và thuần thục kĩ năng tìm hiểu đề và xác định
đúng yêu cầu của đề bài, tránh tình trạng lạc ý, xa đề, tức là không đảm bảo tính
định hướng.
+ Giúp HS dễ dàng nắm được loại - dạng đề, phép lập luận, đối tượng nghị
luận phạm vi tư liệu.
2.2 / Tìm ý và làm dàn ý:
- Cách thức thực hiện: Tùy vào từng kiểu bài mà giáo viên linh động, sáng
tạo hướng dẫn học sinh đặt hệ thống câu hỏi và trả lời câu hỏi theo một số quy tắc
gợi ý sau:
Quy tắc tìm dẫn chứng: Ai, cái gì ? + Mặt nào? + Lúc nào? + Ở đâu? + …


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status