CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ
KHUNG PHÂN TÍCH
1.1 Tổng quan nghiên cứu
1.1.1
Trong nước
Hoàng Khắc Lịch và Dương Cẩm Tú (2018) cho rằng tăng trưởng bị kìm hãm
bởi nợ công (cả về quy mô và tốc độ gia tăng), lạm phát, chi tiêu dùng của chính phủ và
thất nghiệp, sử dụng với dữ liệu mảng của 58 nước phát triển (thu nhập cao) và nước
đang phát triển (thu nhập thấp và trung bình), trong giai đoạn 1993 – 2014. Nghiên cứu
còn cho thấy kế hoạch chi tiêu ngân sách hợp lý, đặc biệt là chi tiêu dùng, giúp kiểm
soát tốt ảnh hưởng của nợ công lên tăng trưởng kinh tế, cụ thể kết quả nghiên cứu cho
rằng nếu nhà nước duy trì chi tiêu tiêu dùng ở mức trên 14%-16% thì tác động là tích
cực.
Nguyễn Văn Phúc (2013) kết luận nợ công tác động tiêu cực lên tăng trưởng một
cách trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua lạm phát cao, nghiên cứu số liệu của 30 nước
đang phát triển trên thế giới trong giai đoạn 1995-2009. Khi các điều kiện khác tỷ lệ nợ
công trên GDP tăng 10% điểm thì tốc độ tăng trưởng giảm đi trung bình là 0,13%/năm;
lạm phát tăng 10% điểm thì tốc độ tăng trưởng trung bình giảm đi 0,41%/năm. Tuy
nhiên nghiên cứu này còn thiếu một số biến có ý nghĩa thống kê cao như: tỷ lệ thất
nghiệp, tiết kiệm,... nên kết quả vẫn chưa thực sự thuyết phục và chính xác với điều
kiện thực tế.
Nguyễn Hữu Tuấn (2012) kế thừa và mở rộng mô hình nghiên cứu của Tokunbo và
cộng sự (2007), đã xây dựng mô hình đo lường mức độ tác động của tỷ lệ nợ nước ngoài
trên GDP đến GDP thực của Việt Nam trong giai đoạn 1986-2009. Nghiên cứu này sử
dụng lý thuyết “debt overhang” mô phỏng dưới dạng đồ thị là đường cong Laffer nợ để
phân tích mối liên hệ giữa nợ nước ngoài và tăng trưởng kinh tế. Kết luận của bài nghiên
cứu đưa ra ngưỡng 65% cho tỷ lệ nước ngoài trên GDP thực, nếu tỷ lệ này nhỏ hơn mức
65% sẽ góp phần thúc đẩu tăng trưởng kinh tế, và nếu vượt quá 65% thì nợ nước ngoài sẽ
tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, nghiên cứu lại áp dụng lý thuyết debt
overhang và sử dụng đường cong Laffer một cách quá đơn giản, khi chưa xét đến các yếu
ra quan điểm mức nợ cao gây ảnh hưởng bất lợi đến hiệu quả kinh tế. Akram (2015) sử
dụng phương pháp ARDL đánh giá tác động của nợ công lên tăng trưởng kinh tế ở
Philippines giai đoạn 1975 – 2010, khẳng định sự hiện diện của “hiệu ứng khó vay
thêm nợ”.
Cuối cùng, tác động phi tuyến của nợ công lên tăng trưởng kinh tế được thể hiện ở
các nghiên cứu:
Teles và Mussolini (2014) đã phát triển các lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công
và tăng trưởng kinh tế bằng cách đề xuất một mô hình có liên quan đến các thế hệ và
tăng trưởng nội sinh. Bài nghiên cứu sử dụng số liệu của 74 quốc gia trong khoảng thời
gian 1972-2004, từ đó tác giả đã đưa ra một phát hiện quan trọng là quy mô của nợ
công là một nhân tố có ảnh hưởng quan trọng tới mối quan hệ giữa nợ công và tăng
trưởng kinh tế. Nghiên cứu này đi theo quan điểm nợ công có tác động vừa thúc đẩy
vừa kìm hãm tăng trưởng kinh tế. Tuy nhiên, tỷ lệ nợ công thế nào gọi là cao hay thấp
và bao nhiêu là tốt nhất thì lại chưa được bàn tới trong nghiên cứu này.
Real et al. (2014) phát triển trên lý thuyết mô hình cân bằng tổng thể với các
thành phần độc lập để lý giải mối quan hệ dạng chữ U ngược giữa nợ công và tăng
trưởng kinh tế, tập trung vào phân tích hai hiệu ứng chèn lấn (crowd out) và hiệu ứng
thúc đẩy (crowd in) mà nợ công tác động lên đầu tư tư nhân. Khi tỉ lệ nợ công trên GDP
dưới một ngưỡng nhất định, hiệu ứng thúc đẩy lấn át hiệu ứng chèn lấn và nợ công tích
lũy thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, còn khi tỉ lệ này bị phá vỡ, nợ công tích lũy sẽ băt đầu
cản trở tăng trưởng kinh tế.
1.1.3
Khoảng trống trong nghiên cứu
Như đã trình bày ở phần tổng quan nghiên cứu trong nước và nước ngoài, có khá
nhiều nghiên cứu về sự tương tác của nợ công tới tăng trưởng kinh tế, kết quả thu được
cũng không giống nhau.
Mặc dù nghiên cứu về chủ đề này đã được thực hiện rất nhiều tại các nước phát
vốn hoạt động của nó do ngân sách nhà nước quyết định (trên 50% vốn thuộc sở hữu nhà
-
nước) và trong trường hợp vỡ nợ nhà nước phải trả nợ thay cho các thể chế đó.
IMF (2010): nợ công được hiểu là nghĩa vụ trả nợ của khu vực công. Đi kèm với đó là
định nghĩa cụ thể về khu vực công, bao gồm khu vực Chính phủ và các khu vực tổ chức
công (Hình1.1)
Hình 1. Định nghĩa về khu vực công (IMF)
-
Luật quản lý nợ công Việt Nam (2009) được xem là một bước tiến bộ lớn trong hệ thống
văn bản pháp luật của Việt Nam về vấn đề này. Theo Bộ Luật này thì nợ công bao gồm nợ
chính phủ, nợ được chính phủ bảo lãnh và nợ của chính quyền địa phương.
• Nợ Chính phủ là khoản nợ phát sinh từ các khoản vay trong nước và vay nước ngoài được
ký kết, phát hành nhân danh Nhà nước, nhân danh Chính phủ hoặc các khoản vay khác do
Bộ Tài chính ký kết, phát hành, uỷ quyền phát hành theo quy định của pháp luật. Nợ chính
phủ không bao gồm các khoản nợ do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhằm thực
hiện chính sách tiền tệ trong từng thời kỳ.
• Nợ được chính phủ bảo lãnh là khoản nợ của doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, tín dụng
vay trong nước và nước ngoài được chính phủ bảo lãnh.
• Nợ chính quyền địa phương là khoản nợ do Uỷ ban Nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực
thuộc trung ương ký kết, phát hành hoặc uỷ quyền phát hành.
So với quy ước của IMF, thống kê nợ công của Việt Nam chưa quy định cách tính về
nợ công ròng, phạm vi các khoản mục trong tổng nợ công nhỏ hơn quy ước của IMF do
loại trừ: các khoản vay, nhận tiền gửi, phát hành tiền của NHNN; quyền rút vốn đặc biệt
cơ sở hạ tầng, giáo dục, và y tế thông qua vay nợ sẽ giúp phục hồi nền kinh tế. Hầu hết các
chính phủ đều sử dụng lý thuyết của trường phái Keynes để vượt qua khủng hoảng kinh tế
và suy thoái của nền kinh tế. Cùng với đó, Paul Sameulson, một nhà kinh tế học ủng hộ
trường phái Keynes, cũng cho rằng việc phối hợp cả chính sách tài khoá mở rộng và chính
sách tiền tệ linh hoạt là cần thiết để thúc đẩy hiệu quả nền kinh tế vượt qua suy thoái. Điều
này cho thấy nợ công cũng là công cụ gián tiếp quan trọng trong điều hành nền kinh tế của
các chính phủ nhưng việc sử dụng nó phải có sự thận trọng và đòi hỏi phải có sự phối hợp
hiệu quả giữa chính sách tài khoá tài khoá và chính sách tiền tệ.
1.2.3
Lý thuyết về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế
1.2.3.1 Tác động ngắn hạn và dài hạn của sụt giảm nợ công
Nghiên cứu lý thuyết và thực nghiệm liên quan đến tác động của nợ công lên hoạt
động kinh tế có phạm vi khá rộng nhưng không đưa ra một câu trả lời về mối liên hệ giữa
nợ công và và hoạt động kinh tế (Nautet & Van Meensel, 2011). Thực vậy, tác động này
phụ thuộc rất nhiều vào các tình huống, có thể thay đổi theo thời gian và có sự khác biệt
giữa các nước. Điều quan trọng ở đây là phân biệt giữa tác động kinh tế trong ngắn hạn và
dài hạn của nợ công:
Tác động ngắn hạn
Trong ngắn hạn, các công cụ tài khoá dùng để củng cố kỷ luật ngân sách sẽ làm suy
giảm tăng trưởng kinh tế. Thực vậy, hầu hết các nghiên cứu thực nghiệm chỉ ra rằng các số
nhân ngân sách là dương trong ngắn hạn.
Tuy nhiên, tác động âm trong ngắn hạn của việc củng cố kỷ luật tài khoá lên hoạt
động kinh tế thay đổi tuỳ vào các công cụ tài khoá được vận dụng. Các công cụ có liên
quan đến chi tiêu và đầu tư công có tác động mạnh mẽ lên hoạt động kinh tế, trong khi các
công cụ có liên quan đến chi chuyển nhượng - chẳng hạn thuế hoặc các phúc lợi xã hội có tác động yếu hơn. Nguyên nhân là chi chuyển nhượng chỉ có tác động giác tiếp lên sự
thay đổi tiêu dùng hoặc đầu tư thông qua việc điều chỉnh thu nhập của các hộ gia đình
hoặc doanh nghiệp.
Ngoài ra, các tác động âm của công cụ này lên tăng trưởng kinh tế trong ngắn hạn
kiến chi trả nợ nước ngoài sẽ giảm dần khi dung lượng nợ tăng lên. Lý thuyết “debt
overhang” cho rằng nếu như nợ trong tương lai vượt quá khả năng trả nợ của một nước thì
các chi phí dự tính chi trả cho các khoản nợ (dịch vụ nợ) sẽ kìm hãm đầu tư trong nước từ
đó ảnh hưởng xấu đến tăng trưởng. Các nhà đầu tư tiềm năng lo sợ rằng khi quốc gia đó sẽ
đánh thuế nặng để chi trả các khoản nợ nước ngoài, do đó họ khó có thể gia tăng đầu tư để
gánh thêm chi phí thuế. Lý thuyết còn đi đến một kết luận rộng hơn, đó là mức nợ nước
ngoài quá cao sẽ làm giảm các ưu đãi của chính phủ cho các hoạt động cải tổ cơ cấu và tài
khoá do việc củng cố tình hình tài khoá quốc gia có thể làm tăng áp lực trả nợ cho nước
ngoài. Những bất lợi này đối với công cuộc cải tổ đang là mối quan ngại lớn ở các nước có
thu nhập thấp, nơi mà việc cải cách cơ cấu là cần thiết để duy trì tốc độ tăng trưởng kinh
tế.
Tình trạng "Debt Overhang" cũng đồng thời kìm hãm đầu tư và tăng trưởng do
gây ra sự lo ngại về các quyết định của Chính phủ. Khi quy mô nợ công tăng lên, khó có
thể chắc chắn rằng chính phủ sẽ viện tới những chính sách gì để giải quyết các khoản nợ
phải trả. Theo Agenor và Motiel (1996), trên thực tế, người ta cho rằng Chính phủ có thể
dùng các công cụ tác động đến đầu tư để chi trả cho các khoản nợ.
Theo nghiên cứu của Mehmet Caner, Thomas Grennes và Koehler Fritzi Geib, các
chuyên gia kinh tế của World Bank (2010) bằng lý thuyết và thực nghiệm trên mẫu là 101
quốc gia trong đó có 75 quốc gia đang phát triển và 26 quốc gia phát triển, có cả Việt
Nam, về mối qua hệ trong dài hạn giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế, giai đoạn 19802008, phân tích này cung cấp một nền tảng cho sự nghiên cứu chứng minh sự tồn tại
ngưỡng nợ và ước tính ngưỡng nợ (nợ công/GDP) cho từng quốc gia, từ đó có những
chính sách phù hợp đối phó với nguy cơ khủng hoảng nợ đang đe doạ các nước có nợ
nước ngoài cao.
1.2.3.3 Đường cong Laffer nợ
Lập luận của lý thuyết “debt overhang” có thể được xem xét qua đường cong Laffer
nợ (Hình 1). Đường cong Laffer nợ cho thấy rằng tổng nợ càng lớn sẽ đi kèm với khả
năng trả nợ càng giảm. Trên phần dốc lên của đường cong, giá trị hiện tại của nợ càng tăng
sẽ đi cùng với khả năng trả nợ cũng tăng lên. Trên phần dốc xuống của đường cong, giá trị
Chúng tôi lựa chọn phát triển quan điểm thứ 2 "Nợ công ở mức hợp lý có tác động
tích cực đến tăng trưởng kinh tế ".
Quan điểm của trường phái Keynes được đưa ra dựa trên hai giả thuyết cơ bản là
tổng cung chịu ảnh hưởng của tổng cầu và giả thiết nền kinh tế không trong trạng thái toàn
dụng. Keynes đề xuất khi nền kinh tế suy thoái, thất nghiệp tăng thì Chính phủ có thể đưa
ra các gói kích cầu để tác động vào nền kinh tế. Các gói kích cầu này có thể thực hiện
bằng cách Chính phủ đi vay để tăng chi tiêu công. Việc tăng tổng cầu sẽ có tác động thúc
đẩy tổng cung và từ đó thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Quan điểm của phái Keynes cũng vấp phải sự phản đối của những người theo trường
phái kinh tế Ricardo khi họ cho rằng rằng chi tiêu tăng thêm của chính phủ sẽ không có tác
động lên mức thu nhập vì người dân sẽ lập tức tiết kiệm nhiều hơn để trả thuế tăng lên
trong tương lai hoặc bù lại lạm phát cao hơn do chính phủ tăng chi tiêu trong hiện tại. Tác
động ròng lên tổng cầu sẽ là bằng không.
1.3 Phương pháp nghiên cứu
1.3.1
Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu đã cho thuộc dạng thông tin thứ cấp, dạng số liệu chéo, thể hiện thông tin về
các yếu tố được thu thập từ năm 2000 - 2016 tại Việt Nam. Số liệu được thu thập từ trang
web chính thức của World Bank.
1.3.2
Phương pháp phân tích
Chạy phần mềm Gretl hồi quy mô hình bằng phương pháp ước lượng bình phương
nhỏ nhất (OLS) để ước lượng ra tham số của các mô hình hồi quy đa biến. Từ phần mềm
Gretl ta thực hiện các phương pháp sau:
Xét phân tử phóng đại phương sai VIF nhận biết khuyết tật đa cộng tuyến.
Dùng kiểm định White để kiểm định khuyết tật phương sai sai số thay đổi và Robust
Standard Errors hồi quy mô hình theo phương pháp sai số chuẩn mạnh.
Tổng quy mô nợ công của chính phủ (%
GDP)
Bình phương tổng quy mô nợ công của
chính phủ
Tỷ lệ lạm phát (%)
W
B
W
B
W
B
FDI
GOV
CAP
Log(GDP
/CAP)
OPEN
Tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(%GDP)
Can thiệp của Chính phủ, là tổng quy
mô và hành động can thiệp của Chính phủ
càng sâu vào nền kinh tế
Vốn đầu tư (Gross Capital Formation)
(%GDP)
Biến tương tác giữa GDP và Vốn đầu tư
Mức độ “mở” của nền kinh tế, đo bằng
tổng giá trị xuất nhập khẩu(%GDP)
giai đoạn 2016 - 2020 được Quốc hội thông qua ngày 9/11/2016.
Năm
Nợ công/GDP (%)
2011
2012
2013
2014
2015
2016
54,9
50,8
54,5
58
62,2
64,73
Bảng 2. Gánh nặng nợ công Việt Nam 2011-2016
ngoài của quốc gia giai đoạn 2011-2020 tầm nhìn đến 2030.
• Về kỳ hạn
Với nợ trong nước, chủ yếu phát hành trái phiếu trong nước, nếu trong giai đoạn
2011-2013 phần lớn ngắn hạn thì đến năm 2014 kỳ hạn là 3 năm; năm 2015, kỳ hạn kéo
dài lên 4,4 năm và năm 2016 thì kỳ hạn kéo dài lên đến hơn 5 năm. Mức lãi suất phát hành
trái phiếu Chính phủ trên thị trường vốn trong nước bình quân giảm từ mức 12%/năm vào
năm 2011 xuống còn khoảng 6,5% vào năm 2014 và khoảng 6% vào năm 2015, 2016
(Theo Bộ trưởng Đinh Tiến Dũng).
Với nợ nước ngoài, từ năm 2010, Việt Nam đã trở thành nước thu nhập trung bình.
Mức độ ưu đãi của các khoản cho vay của các đối tác phát triển dành cho Việt Nam đang
giảm rõ rệt. Nhiều nhà tài trợ đã chuyển từ nguồn vốn ODA sang nguồn vốn vay hỗn hợp.
Dự kiến đến tháng 7/2017, Việt Nam có thể không còn được vay theo điều kiện ODA, phải
chuyển chủ yếu sang sử dụng nguồn vay ưu đãi và tiến tới vay theo điều kiện thị trường.
Nguồn vốn ODA đã vay chuyển sang điều khoản trả nợ nhanh gấp đôi hoặc tăng lãi suất từ
2 đến 3,5%.
2.1.1.3 Hiệu quả sử dụng nợ công:
Giai đoạn 2011 – 2016, khoản vốn vay này được dùng để bù đắp bội chi NSNN
chiếm tỷ trọng chủ yếu 53%. Khoản được sử dụng cho đầu tư các dự án trọng điểm về
giao thông, nông nghiệp, y tế, giáo dục và bố trí vốn đối ứng ODA chiếm tỷ trọng khiêm
tốn 17%. Khoản còn lại 30%, phần lớn được dùng cho vay lại, tập trung vào các ngành,
các lĩnh vực cơ sở hạ tầng có khả năng thu hồi vốn như: điện, dầu khí, hàng không, đường
cao tốc, cấp nước... số còn lại được dùng để đảo nợ vay. Qua đó cho thấy, hiệu quả sử
dụng nợ công là khá thấp và khả năng trả nợ là khó vì chủ yếu nợ công tập trung cho việc
bù đắp bội chi NSNN (với những công trình không thể thu hổi vốn) và đảo nợ là các hoạt
động không tạo ra giá trị mới.
Hiệu quả đầu tư thấp, còn thể hiện qua chỉ số ICOR nước ta những năm qua. Cụ thể:
giai đoạn 2011-2015, ICOR đạt 6,91, đã tiến bộ hơn so với giai đoạn 2006-2010 là 6,96,
tuy nhiên, nó vẫn còn cao, hiệu quả đầu tư còn thấp nếu xét trong mối tương quan với
CAP
DEBT
1,0000
0,4375
-0,4932
0,0912
0,1731
FDI
1,0000
-0,4470
-0,3354
0,5107
GOV
1,0000
0,5400
0,0601
0,1639
FDI
0,5686
0,8230
0,0622
0,4892
GOV
-0,3233
-0,5461
-0,5000
-0,4467
-0,3928
gr_GDP
0,0931
-0,2440
INF
1,0000
0,8313
0,4235
0,9308
1,0000
0,3163
0,7598
logGDPCA
P
OPEN
1,0000
0,4658
POP
1,0000
Mean
Median
Minimum
Maximum
FDI
5,4188
5,2000
3,2500
9,6600
GOV
12,273
13,640
6,2300
14,300
gr_GDP
6,9416
7,0546
-1,8000
23,116
logGDPCAP
0,17303
0,14630
0,031570
0,57548
OPEN
145,01
152,22
104,62
178,77
FDI
1,9092
0,35233
0,87559
-0,11938
GOV
2,9543
0,24070
-1,4433
0,36733
gr_GDP
0,75984
0,11680
-0,28199
-1,1778
logGDPCAP
0,14111
0,81550
1,3534
1,7857
OPEN
22,774
0,15705
-0,19978
-1,0859
POP
0,10483
0,10034
0,69605
-0,062220
GOV
undefined
undefined
2,3750
0
gr_GDP
undefined
undefined
1,2950
0
CAP
undefined
undefined
7,6191
0
OPEN
undefined
undefined
36,483
0
POP
undefined
undefined
0,18000
0
sq_DEBT
undefined
undefined
981,69
0
12,2988
6,81221
1,805
0,1140
FDI
−0,208012
0,0941427
−2,210
0,0628
GOV
−0,0760289
0,0824930
−0,9216
0,3874
CAP
0,0357
**
POP
0,876442
1,53169
0,5722
0,5851
INF
−0,0129461
0,0294517
−0,4396
0,6735
DEBT
−0,601919
0,286730
Sum squared resid
0,998670
S.E. of regression
0,377713
R-squared
0,891893
Adjusted R-squared
0,752899
F(9, 7)
6,416765
P-value(F)
0,011401
−0,028329
Akaike criterion
20,05666
DEBT là số âm cho thấy mối quan hệ nghịch biến giữa nợ công và tăng trưởng kinh tế.
Mặt khác, hệ số ước lượng của biến Bình phương tổng quy mô nợ công sq_DEBT là số
dương.Từ đó ta có thể đưa ra nhận định về mối quan hệ giữa nợ công và tăng trưởng kinh
tế được thể hiện trên sơ đồ có hình dáng tương tự đường cong Laffer. – phù hợp với quan
điểm mà nhóm theo đuổi: Nợ công vừa có tác động tiêu cực vừa có tác động tích cực đến
tăng trưởng kinh tế.
Khoảng tin cậy của hệ số ước lượng:
Hình 5. Khoảng tin cậy của hệ số ước lượng
Với độ tin cậy 95%, khi nợ công thay đổi 1% trong khi các điều kiện khác không
thay đổi thì sự thay đổi của tăng trưởng GDP sẽ năm trong khoảng (-1,27993 %;
0,0760903 %).
Mức độ phù hợp của mô hình:
• Giả thiết:
• Ta có: p-value =0,011401 < 5% => Bác bỏ H0 ,
Mô hình phù hợp với mức ý nghĩa 5%.
Kết luận: Mức độ phù hợp của mô hình là R 2 = 0,891893. Tức là,các biến độc lập
trong mô hình giải thích được 89,1893% sự thay đổi của tăng trưởng kinh tế trong thực tế.
Kiểm định các hệ số hồi quy:
• Kiểm định β8 (hệ số ước lượng của biến độc lập DEBT):
Chọn mức ý nghĩa thống kê α = 10%:
Giả thiết kiểm định:
Ta có: p-value = 0,0740 <0,1 => Bác bỏ H0
Biến DEBT có ảnh hưởng đến biến gr_GDP.
• Kiểm định β9 (hệ số ước lượng của biến độc lập sq_DEBT):
Chọn mức ý nghĩa thống kê α = 10%:
Giả thiết kiểm định:
5,021
logGDPCAP 30,820
OPEN 15,192
POP
INF
2,891
3,806
DEBT 576,122
sq_DEBT 730,571
Do có 4 trong 9 thừa số tăng phương sai lớn hơn 10 nên mô hình xảy ra đa cộng
tuyến không hoàn hảo.
Kiểm định phương sai sai số thay đổi:
Sử dụng kiểm định White:
• Giả thiết kiểm định:
• Kết quả kiểm định: Insufficient degrees of freedom for regression
Không thể thực hiện kiểm định White trên phần mề Gretl do số lượng quan sát không đủ
lớn.
Phân phối chuẩn của nhiễu:
• Giả thiết kiểm định:
• Kết quả kiểm định:
Test for null hypothesis of normal distribution:
Chi-square(2) = 1,236 with p-value 0,53893
Ta có: p-value = 0,53893 >0,05 => bác bỏ H1
Do đó mà kết quả hồi quy của mô hình có thể chưa chính xác.
Trong nghiên cứu thực nghiệm này, để xác định tác động định lượng của nợ công lên
tăng trưởng kinh tế Việt Nam, mô hình hồi quy dữ liệu chuỗi thời gian đã được sử dụng.
Theo đó, tăng trưởng GDP là biến phụ thuộc và Tổng quy mô nợ công là biến giải thích
chính. Ngoài tổng quy mô nợ công, các biến độc lập khác cũng được đưa vào mô hình hồi
quy. Kết quả ước lượng của mô hình cho thấy: nợ công vừa có tác động thúc đẩy vừa có
tác động kìm hãm đến tăng trưởng kinh tế trong dài hạn.
2.2 Nghiên cứu kinh nghiệm giải quyết khủng hoảng nợ công của một số nền kinh tế
phát triển trên thế giới
2.2.1
Giải pháp giảm nợ công Nhật Bản:
- Thứ nhất, công cụ chính được coi là có hiệu quả để giải quyết vấn đề nợ công của Nhật
Bản là tăng thuế. Khoảng 70% dân số Nhật Bản chấp nhận mức tăng thuế cao hơn để khôi
phục kinh tế quốc gia. Tăng thuế sẽ giúp sửa chữa thiếu sót hiện tại của Nhật Bản bởi
doanh thu thuế của Nhật Bản hiện chỉ đạt 17% GDP - mức thấp nhất trong các thành viên
thuộc Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế. Trong bối cảnh khủng hoảng nợ leo thang,
dân số ngày càng già hóa và chi phí an sinh xã hội tăng cao, việc tăng thuế tiêu dùng sẽ
cho phép Nhật Bản có cơ hội giữ được tốc độ tăng trưởng và cắt giảm được mức thâm hụt
ngân sách. Cụ thể, tăng thuế tiêu dùng lên 10% trong giai đoạn 2012 -2016 để bảo đảm
kinh phí cho các hoạt động phúc lợi khi dân số Nhật Bản đang nhanh chóng lão hoá. Mức
thuế sẽ tiếp tục được tăng thêm 15%. Nhật Bản cần ít nhất 23.000 tỷ yên (khoảng 288 tỷ
USD) để tái thiết đất nước sau khủng hoảng kép động đất và sóng thần. Theo các nhà kinh
tế, cứ tăng 1% thuế tiêu dùng sẽ tăng được 250 tỉ yên tiền thuế thu được. Thảm họa kép
sóng thần và động đất đã gây thiệt hại cho Nhật Bản khoảng 2500 tỷ yên, bởi vậy mức
thuế tiêu dùng tăng thêm 3% (từ 5% lên 8%) sẽ tăng thu 2250 tỉ yên.
- Thứ hai, nâng cao năng suất, hiệu quả đầu tư công và cắt giảm chi tiêu công. Việc cắt
đã được đưa ra và thương lượng.
Theo phân tích của tờ Der Spiegel của Đức, với mức cắt giảm 50% nợ, trong giai
đoạn trước mắt Hy Lạp có thể tự đứng trên đôi chân mình, từ đó tạm thời tránh được tình
trạng khủng hoảng nợ lan rộng đang đe dọa làm suy thoái nền kinh tế toàn châu Âu nói
chung. Chính vì vậy, các ngân hàng và các nhà đầu tư tư nhân đành phải chấp nhận kế
hoạch xóa nợ 50% do EU đưa ra. Để thực hiện động thái này, các ngân hàng được yêu cầu
phải tăng cường huy động vốn trên thị trường để tạm thời bù đắp vào khoản thâm hụt vốn
do giảm nợ.
Trước nguy cơ khủng hoảng nợ công ngày càng căng thẳng có thể gây ra hiệu ứng
“Domino”, đầu tháng 5/2010, EU và Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) đã nhất trí dành một gói
cứu trợ dài hạn trị giá 110 tỷ EUR, tương đương khoảng 136 tỷ USD trong vòng 3 năm,
cho Hy Lạp nhằm giúp nước này thoát khỏi bờ vực nợ công.
Đồng thời, ngày 10/5/2010, EU và IMF đã nhất trí thiết lập “Quỹ chống khủng
hoảng” trị giá 750 tỷ EUR (1000 tỷ USD). Theo đó, các nước châu Âu đưa ra 572 tỷ USD
(440 tỷ EUR) khoản vay mới và bơm thêm 778 tỷ USD (60 tỷ EUR) cho chương trình vay
đang thực hiện. IMF cũng sẽ đóng góp 325 tỷ USD (250 tỷ EUR) cho gói cứu trợ. Gói cứu
trợ mới này có quy mô còn lớn hơn cả gói cứu trợ ngân hàng của Mỹ hai năm trước đây
nhằm củng cố niềm tin của thị trường.
Để đổi lấy gói cứu trợ khẩn cấp, chính quyền Athens đã chấp nhận điều kiện phải cắt
giảm chi tiêu, cụ thể lương tháng thứ 13 và 14 cùng các loại tiền thưởng khác của nhân
viên nhà nước sẽ bị cắt hoàn toàn trong khi lương sẽ không được tăng trong vòng 3 năm.
Lương hưu của cả khu vực công và tư đều bị giảm mạnh, còn thuế giá trị gia tăng sẽ tăng
từ 21%- 23%. Chi phí quốc phòng và hệ thống y tế quốc gia cũng sẽ bị cắt. Kế hoạch vô
cùng khắc nghiệt này nhằm đưa mức thâm thụt ngân sách của Hy Lạp xuống dưới 3%
GPD vào năm 2014 và ngay lập tức đã gây ra làn sóng phản đối.
Tây Ban Nha cũng sẽ thực hiện các biện pháp cắt giảm 6 tỷ euro đầu tư công, cắt
giảm 5% lương nhân viên nhà nước, cũng như giảm lương hưu và đầu tư vào các chính
quyền vùng để giảm thâm hụt ngân sách khoảng 15 tỷ euro trong giai đoạn 2010-2011,
đưa xuống mức còn 6% GDP vào năm 2011.