BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
ĐỒ ÁN TỐT NGHIỆP
NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA TỶ LỆ SỬ DỤNG NƯỚC XI
PHÔNG VÀ SỐ LẦN THAY NƯỚC XI PHÔNG TỪ SẢN XUẤT
TÔM GIỐNG ĐẾN TỶ LỆ SỐNG, SINH TRƯỞNG VÀ KHẢ NĂNG
MANG TRỨNG CỦA ARTEMIA TẠI CAM RANH – KHÁNH HÒA
GVHD:
TS. Trương Thị Bích Hồng
SVTH:
Lư Thị Ngọc Nhanh
MSSV:
57132558
KHÁNH HÒA - 2019
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NHA TRANG
VIỆN NUÔI TRỒNG THỦY SẢN
BỘ MÔN CƠ SỞ SINH HỌC NGHỀ CÁ
Các kết quả, số liệu trong luận văn là trung thực và chưa được ai công bố trong
bất kì công trình nghiên cứu khoa học nào khác. Các thông tin tài liệu trích dẫn trong
luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc.
Sinh viên
LƯ THỊ NGỌC NHANH
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành tốt đề tài nghiên cứu này, bên cạnh sự nổ lực về học tập và
nghiên cứu của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ, quan tâm và động viên
từ các tập thể, cá nhân nhằm hoàn thành tốt đồ án của mình. Qua đây tôi tin bày tỏ lời
cảm ơn sâu sắc nhất đến:
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu Trường Đại Học Nha Trang, các
thầy cô trong Ban lãnh đạo Viện Nuôi Trồng Thủy sản đã tạo điều kiện thuận lợi cho
tôi trong quá trình học tập, hỗ trợ tôi trong suốt quá trình thực hiện đồ án.
Tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến giáo viên hướng dẫn chính là TS Trương
Thị Bích Hồng, ThS Nguyễn Đình Huy và ThS Đoàn Xuân Nam đã tận tình hướng
dẫn, giúp đỡ tôi và tạo điều kiện tốt nhất trong suốt thời gian định hướng nghiên cứu,
thực hiện đề tài và viết luận văn tốt nghiệp.
Tôi xin trân trọng cảm ơn các thành viên của trại thực nghiệm Cam Ranh, xã
Cam Thịnh Đông, Cam Ranh - Khánh Hòa đã tạo điều kiện thuận lợi, môi trường tốt
và cung cấp thông tin, đóng góp ý kiến và tận tình giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thực
hiện đồ án tại Trại thực nghiệm Cam Ranh.
Cuối cùng, tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến anh chị, bạn bè và mọi người xung
quanh, đặc biệt là gửi lời biết ơn sâu sắc đến gia đình, bố mẹ đã luôn bên cạnh hỏi
thăm động viên tôi cả về vật chất lẫn tinh thần trong suốt thời gian tôi học tập và thực
hiện đồ án của mình.
ngày thay nước 3 lần) * 3 lần lặp. Kết quả cho thấy, tỷ lệ sống, sức sinh sản và chiều
dài toàn thân khác biệt có ý nghĩa thống kê giữa các nghiệm thức (P
Artemia ..........................................................................................................................25
3.1.3 Ảnh hưởng tỷ lệ sử dụng xi phông từ nuôi tôm giống đến sinh trưởng của Artemia.....26
3.1.4 Ảnh hưởng của tỷ lệ sử dụng nước xi phông từ nuôi tôm giống đến khả năng
mang trứng của Artemia ................................................................................................29
3.2 Ảnh hưởng của số lần thay nước xi phông từ nuôi tôm giống đến tỷ lệ sống, sinh
trưởng và khả năng mang trứng của Artemia ................................................................32
3.2.1 Diễn biến của các yếu tố môi trường ở thí nghiệm 2 ...........................................32
3.2.2 Ảnh hưởng của số lần thay nước xi phông trong ngày từ nuôi tôm giống đên tỷ lệ
sống của Artemia ...........................................................................................................33
3.2.3 Ảnh hưởng của số lần thay nước xi phông trong ngày từ nuôi tôm giống đến sinh
trưởng của Artemia ........................................................................................................34
3.2.4 Ảnh hưởng của số lần thay nước xi phông trong ngày từ nuôi tôm giống đến khả
năng mang trứng của Artemia .......................................................................................36
CHƯƠNG IV: KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT Ý KIẾN ...............................................39
4.1 Kết luận .................................................................................................................39
4.2 Đề xuất ý kiến..........................................................................................................39
TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................................................40
PHỤ LỤC
v
DANH MỤC CÁC TỪ VÀ THUẬT NGỮ VIẾT TẮT
ANOVA:
Analysis Of Variance between groups
CTV:
Cộng tác viên
Nuôi trồng thủy sản
Ppm (Part per million):
Nồng độ phần triệu
Ppt (Part per thousand):
Nồng độ phần nghìn
SD (Standard deviation):
Độ lệch chuẩn
SGR (Specific Growth Rate):
Tốc độ sinh trưởng đặc trưng
vi
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Diễn biến của các yếu tố môi trường trong thí nghiệm 1 .............................24
Bảng 3.2: Một số chỉ tiêu về sinh sản của Artemia ở thí nghiệm 1...............................29
Bảng 3.3: Diễn biến của các yếu tố môi trường của thí nghiệm 2 ................................32
Bảng 3.4: Một số chỉ tiêu về sinh sản của Artemia ở các nghiệm thức.........................36
vii
trình hội nhập kinh tế giữa nước ta với các nước trong khu vực và trên Thế giới.
Cùng với sự phát triển mạnh của ngành thủy sản như hiện nay có rất nhiều vấn
đề cần phải quan tâm. Tính riêng lĩnh vực sản xuất giống tôm thì thức ăn sống và xử lý
chất thải từ sản xuất giống là hai vấn đề cần được quan tâm hàng đầu nhầm đạt được
con giống khỏe mạnh và bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, để có được một nguồn thức ăn
có giá trị dinh dưỡng cao và chủ động trong quá trình sản xuất cho đối tượng nuôi thì
không kể đến đó là nguồn Artemia.
Trong tự nhiên Artemia được xem là một mắc xích quan trọng trong chuỗi thức
ăn, là một trong những con mồi có giá trị dinh dưỡng nhất cho ấu trùng tôm cá. Trong
sản xuất giống thì Artemia được sử dụng phổ biến để làm thức ăn sống cho giáp xác ở
giai đoạn ấu trùng vì chúng có đặc điểm là di chuyển theo hình ziczăc giúp cho ấu
trùng tăng khả năng vận động khích thích bắt mồi, hàm lượng dinh dưỡng chứa nhiều
protein, DHA và HUFA, nhiều acid amin và các amino acid thiết yếu, enzim tiêu hóa
và vitamin rất cần thiết cho giáp xác giai đoạn này, kích cỡ Artemia nhỏ phù hợp với
cở miệng của ấu trùng.
Đặc biệt, Artemia có đặc điểm dinh dưỡng là lọc thụ động không lựa chọn lại
thức ăn, chúng lọc được cả những hạt hữu cơ lơ lửng trong nước và lọc liên tục. Do
đó, Artemia không chỉ là thức ăn tốt cho đối tượng NTTS mà còn là loài động vật góp
phần làm sạch nguồn hữu cơ lơ lửng trong nước thông qua hình thức ăn lọc của chúng.
Như vậy thì việc tái sử dụng nước thải từ nuôi tôm giống để nuôi Artemia có ý nghĩa
rất lớn, chúng giảm bớt được một khoảng chi phí trong sản xuất, đồng thời giảm thiểu
lượng hữu cơ có trong nước thải từ nuôi tôm giống ra ngoài môi trường, góp phần
giảm thiểu ô nhiễm, tận dụng được nguồn thức ăn thừa từ tôm và tái tạo tuần hoàn vật
chất hữu cơ.
1
Hiện nay, chưa có nghiên cứu về việc sử dụng nước thải từ nuôi tôm giống để
nuôi sinh khối Artemia.
Xuất phát từ tình hình thực tế đã nêu trên, đề tài: “Nghiên cứu ảnh hưởng của
1.1 Đặc điểm sinh học của Artemia
1.1.1 Hệ thống phân loại và đặc điểm phân bố
Artemia có hệ thống phân loại như sau:
Nghành: Arthropoda
Lớp: Crustacea
Lớp phụ: Branchiopoda
Bộ: Anostraca
Họ: Artemiidae
Giống: Artemia Leach, 1819
Tên tiếng việt: Artemia
Tên tiếng anh: Brine shrimp (Nguyễn Văn Hòa và ctv, 1994).
Hình 1.1: Artemia trưởng thành
Trên thế giới, Artemia được phát hiện khoảng 500 hồ muối tự nhiên và các
ruộng muối nhân tạo rải rác trên khắp các vùng có khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới và
ôn đới dọc các bờ biển như các đảo (Josianne and Lesley, 2003). Ở Việt Nam, Artemia
được du nhập vào đầu thập niên 80 dưới dạng thức ăn cho tôm càng xanh, sau đó được
thử nghiệm và thả nuôi trên đồng muối Vĩnh Châu, Bạc Liêu, Cam Ranh và Phan
Thiết (Nguyễn Trọng Nho và ctv, 2006). Hiện nay, dòng Artemia franciscana đã được
nuôi rộng rãi tại Sóc Trăng (Vĩnh Châu) và Bạc Liêu, mặc dù có nguồn gốc từ Mỹ
(San Francisco Bay, USA) nhưng sau thời gian thích nghi, dòng Artemia này gần như
3
đã trở thành dòng bản địa của Việt Nam và chúng có những đặc điểm khác xa so với tổ
tiên của chúng, đặc biệt là khả năng chịu nóng (Nguyễn Trọng Nho và ctv, 2006).
1.1.2 Đặc điểm hình thái
Artemia có hình dạng thon dài với chiều dài khoảng 1 đến 1,5 cm. Cơ thể có
thân phân đốt rõ rệt gồm có 3 phần: đầu, ngực và bụng, không có giáp đầu ngực.
trên ruộng muối người ta thường tạo ra nguồn thức ăn tự nhiên đa dạng hơn bằng cách
sử dụng kết hợp phân chuồng và phân vô cơ bón vào ao nuôi hoặc có thể sử dụng cám
gạo, bột đậu nành đã được xử lí để tạo nguồn thức ăn phong phú và phù hợp với kích
cỡ Artemia với từng giai đoạn khác nhau.
1.1.4 Vòng đời phát triển và đặc điểm sinh trưởng của Artemia
Vòng đời phát triển: Để hoàn thiện vòng đời của mình thì Artemia trải qua
nhiều giai đoạn phát triển khác nhau như sau: trứng bào xác, giai đoạn ấu trùng
Nauplius, giai đoạn ấu trùng bán trưởng thành, giai đoạn trưởng thành.
Hình 1.3: Vòng đời của Artemia (theo Sorgeloos và ctv, 1980)
Đặc điểm sinh trưởng:
Trong tự nhiên, khi gặp điều kiện môi trường bất lợi Artemia sẽ sinh sản ra các
trứng bào xác (trứng Cyst) trôi nổi trên mặt nước và được sóng gió thổi dạt vào bờ.
Trứng Cyst sẽ ngừng hoạt động và không nở ra thành Nauplius khi được bảo quản
bằng cách giữ khô. Trung bình một gam trứng có khoảng 270.000 đến 300.000 trứng,
5
kích thước trứng đạt từ 200 µm - 300µm (Josianne and Lesley, 2003).
Trứng bào xác (trứng Cyst):
Cấu tạo của vỏ trứng bào xác gồm có 3 lớp:
Lớp phế nang (lớp ngoài cùng): rất cứng gồm các lipoprotein chứa kitin và
hematin. Trong đó hematin có chức năng tạo màu vỏ, đồng thời chức năng chính của
nó là bảo vệ phôi không bị vỡ do những tác động cơ học và các tác động từ môi trường
như tia cực tím.
Màng biểu bì ngoài bảo vệ phôi không bị tác động của các phân tử lớn hơn CO2
xâm nhập.
Biểu bì phôi: là một lớp trong suốt và đàn hồi (màng nở) được tách khỏi phôi
bởi màng biểu bì trong. Phần phôi trong trứng bào xác chỉ phát triển đến giai đoạn
vận động và có sự khác biệt về giới tính. Ở con đực, đôi càng của chúng rất phát triển,
còn con cái đôi anten bị thoái hóa thành phần phụ có chứ năng cảm giác. Các chân
ngực trở thành ba bộ phận chức năng đó là các đốt chân chính, các nhánh chân trong
có chức năng vận động và lọc thức ăn, và các nhánh chân ngoài có màng (Patrick
Lanven and Patrick Sorgeloos, 1966).
Giai đoạn trưởng thành:
Artemia trưởng thành có chiều dài khoảng 1 cm cơ thể thon dài với hai mắt kép,
một ống tiêu hóa thẳng dài, các râu cảm giác và 11 cặp chân ngực. Con đực có một đôi
gai giao cấu ở phần sau của vùng ngực và con cái rất dễ nhận dạng vì chúng có túi ấp
hoặc tử cung nằm ngay phía sau đôi chân ngực thứ 11, tất cả trứng của con cái sẽ phát
triển ở trong hai buồng trứng khi trứng chín sẽ có dạng hình cầu và di chuyển qua hai
ống dẫn trứng vào dạ con. Con cái mang trứng có thể để con và đẻ trứng tùy thuộc vào
điều kiện môi trường sống (Patrick Lanven and Patrick Sorgeloos, 1966).
Trong các điều kiện tối ưu Artemia có thể sống tới vài tháng, chúng phát triển
từ Nauplius sang con trưởng thành trong khoảng 8 đến 10 ngày và cứ sau 4 ngày lại
sinh sản 300 Nauplius hoặc trứng bào xác (Josianne and Lesley, 2003).
1.1.5 Đặc điểm sinh sản
Đối với dòng Artemia lưỡng tính thì sau 2 đến 3 tuần nuôi thì chúng thành thục,
Artemia đực thường có kích thước nhỏ hơn con cái. Khi trưởng thành con đực và con
cái sẽ bắt cặp với nhau, con đực sẽ dùng đôi càng ôm phần bụng của con cái để giao
cấu và thụ tinh cho trứng. Qúa trình sinh sản này diễn ra trong suốt vòng đời của
chúng. Trứng phát triển trong hai buồng trứng dạng ống ở phần bụng. Khi chín, trứng
có dạng cầu và di chuyển qua hai ống dẫn để vào tử cung. Artemia có hai phương thức
sinh sản đó là đẻ trứng và đẻ con trong suốt vòng đời sinh sản của mình:
Thông thường trứng thụ tinh phát triển thành ấu trùng bơi lội tự do (phương
thức đẻ con – ovoviviparous) và được con cái sinh ra.
7
Trong điều kiện bất lợi như thiếu thức ăn hay môi trừng sống bị thay đổi, các
giảm thì sẽ ảnh hưởng đến khả năng hô hấp của Artemia. Thường thì mức oxy thích
hợp cho Artemia phải trên 2 mg/lít (Nguyễn Trọng Nho và ctv, 2006).
8
Đối với dòng Artemia Vĩnh Châu ở Việt Nam thì chúng có khả năng thích nghi
khá cao và thích hợp với điều kiện khí hậu của nước ta: độ mặn 80 - 120‰, nhiệt độ
22 - 35°C, pH 7.0 – 9.0, DO trên 2 mg/lít (Nguyễn Trọng Nho và ctv, 2006).
1.2 Vai trò của Artemia trong nuôi trồng thủy sản.
Artemia có vai trò rất quan trọng trong các trại sản xuất giống, ấu trùng Artemia
được sử dụng rộng rãi nhất bởi vì chúng có những đặc tính riêng như sau (Ngô Văn
Mạnh, 2012).
- Artemia có thân mềm với lớp vỏ mỏng, kích thước nhỏ phù hợp với cỡ miệng
của ấu trùng tôm cá, luôn di động và phân tán đều trong nước do có màu sắc hấp dẫn
giúp kích thích tôm cá bắt mồi.
- Đáp ứng được các nhu cầu về dinh dưỡng rất cao (protein, lipid, các acid béo
không no HUFA cao, vitamin, và khoáng…).
- Chứa nhiều Enzyme tự tiêu hóa giúp tôm cá dễ hấp thụ.
- Chủ động trong quá trình sản xuất vì sẵn có trên thị trường dưới dạng trứng
bào xác (còn gọi là trứng Cyst).
- Không phụ thuộc mùa vụ, thời tiết và có thể thu với số lượng lớn sau 24 giờ
ấp nở thành Nauplius.
- Có thể khống chế được bệnh cho ấu trùng nuôi (xử lí ấu trùng Artemia trước
khi cho ăn hoặc sử dụng chúng như một bao sinh học để chứa các chất dinh dưỡng đặc
biệt là thuốc phòng trị bệnh tới ấu trùng nuôi) (Lanven and Sorgeloos, 1966).
Artemia không chỉ có giá trị sử dụng tiện lợi mà chúng còn có giá trị dinh
dưỡng cao: hàm lượng protein chiếm 62% và 27% lipit tính theo hàm lượng khô.
Trong quá trình nuôi Artemia sinh khối thì Artemia trưởng thành được quan tâm nhiều
hơn vì chúng có kích thước lớn hơn 20 lần và có khối lượng nặng hơn 500 lần so với
ấu trùng Artemia mới nở. Đặc biệt, Artemia trưởng thành chứa nhiều các thành phần
cũng được cho ăn bằng Artemia, không kể đến đó là ấu trùng của cá hồi trắng (họ
Coregonidae) thường được cho ăn bằng Artemia cho đến khi chúng biến thái và
chuyển sang cho ăn bằng thức ăn khô (Merchie, 1996).
Đối với cá cảnh, Artemia trưởng thành đều áp dụng để dùng làm thức ăn cho
các loài cá cảnh mang lại kết quả tốt như: tăng tỷ lệ sống, khả năng chống chịu, sức
khỏe tốt, sinh trưởng tốt, các sắc tố của cá cảnh hình thành rất tốt.
Đối với giáp xác, Artemia là thức ăn rất quan trọng trong ương nuôi ấu trùng và
hậu ấu trùng tôm biển. Artemia bắt đầu cho ăn khi ấu trùng đạt đến giai đoạn Mysis 1
hoặc giai đoạn zoea 2, 3.
Đối với tôm he, thức ăn tốt nhất được lựa chọn cho tôm bố mẹ trong giai đoạn
này phải chứa nhiều các dưỡng chất cần thiết như: HUFA, đặc biệt là DHA, EPA các
10
phospholipid và cholesterol…thêm vào đó Artemia còn chứa một lượng vitamin, sắc tố
và kích dục tố. Việc sử dụng sinh khối Artemia trưởng thành để nuôi vỗ tôm cá bố mẹ
đã kích thích sự thành thục của buồng trứng, gia tăng số lần đẻ và cải thiện được chất
lượng ấu trùng, đồng thời có thể gây phát dục cho tôm bố mẹ mà không cần cắt mắt.
1.3 Tình hình nghiên cứu và nuôi Artemia trên thế giới và Việt Nam
1.3.1 Tình hình nghiên cứu và nuôi Artemia trên thế giới
Hàng năm, do nhu cầu về trứng bào xác và Artemia sinh khối sử dụng trong
nuôi trồng thủy sản ngày càng gia tăng, khả năng cung cấp không đáp ứng đủ nhu cầu
của người sản xuất giống thủy sản cả về chất lượng cũng như số lượng. Đó là một
trong những lí do mà hiện nay các nghiên cứu về Artemia đang ngày càng mở rộng.
Seale (1933) và Rollefson (1939) khám phá ra ấu trùng Nauplius của Artemia
có kích thước 0,4 mm là một loại thức ăn lí tưởng cho sự tăng trưởng của ấu trùng
tôm, cá. Đặc biệt trứng bào xác có thể bảo quản nhiều năm trong điều kiện không sụt
giảm chất lượng sản phẩm đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc sử dụng Artemia trong
nuôi trồng thủy sản (Đỗ Văn Hòa, 1998).
Những nước ở khu vực Đông Nam Á như Thái Lan, Philipine, Việt Nam …do
và bán ra thị trường dưới dạng đông lạnh nhằm cung cấp cho các đối tượng thủy sản.
Năm 2000 sản lượng thu hoạch trứng bào xác Artemia tại GSL vượt 8200 tấn
và tiếp tục duy trì ở mức 8312 tấn trong năm 2001 (Marden, 2002). Tùy thuộc vào
điều kiện khí hậu của từng nơi mà lựa chọn Artemia thích hợp để mang lại hiệu và giá
trị kinh tế cao (Ngô Thị Thu Thảo, 1992).
1.3.2 Tình hình nghiên cứu và nuôi Artemia tại Việt Nam
Artemia được du nhập vào những năm đầu thập niên 30 khi phát hiện chúng có
chứa hàm lượng dinh dưỡng cao rất cần thiết cho quá trình nuôi vỗ bố mẹ và trong
ương nuôi các loài thủy sản như tôm cá và các động vật thân mềm khác (Sorgeloos và
ctv, 2001). Mặc dù không phân bố ngoài tự nhiên ở Việt Nam, nhưng hiện nay dòng
Artemia franciscana có nguồn gốc từ Mỹ (San Francisco Bay, USA) đã và đang được
nuôi rộng rãi tại Việt Nam được nghiên cứu và thử nghiệm nuôi rất phổ biến.
Nghiên cứu nuôi Artemia bắt đầu thử nghiệm từ năm 1978 với loài Artemia
salina trong phòng thí nghiệm tại Viện Hải Dương Học Nha Trang, sử dụng thức ăn là
lòng đỏ trứng gà và cám sấy nghiền nhỏ rây kỹ pha theo tỷ lệ 1 gram/L môi trường,
điều kiện nhiệt độ 18 - 31oC, độ mặn 30 – 35‰. Sau 10 ngày nuôi đã phân biệt đực
cái, chiều dài cá thể lớn nhất đo được là 11,5 mm. Thời gian khép kín vòng đời 15 - 20
ngày (Lê Thị Ngọc Anh và Dương Thị Thuận, 1978).
Năm 1984, Trường Đại học Cần Thơ tiến hành thí nghiệm nuôi Artemia thu
trứng bào xác ở vùng ven biển Vĩnh Châu (Sóc Trăng) và Bạc Liêu. Đến năm 1990, đối
tượng này được triển khai sản xuất phổ biến tại hai vùng trọng điểm này và các nơi cung
cấp trứng bào xác Artemia có chất lượng cao cho thị trường trong và ngoài nước
(Nguyễn Văn Hòa và ctv, 1994).
12
Năm 1991, Vũ Dũng tiến hành nghiên cứu xây dựng quy trình nuôi Artemia ở
ruộng muối Ninh Hải, Cá Ná. Tác giả đã nuôi 7 dòng khác nhau trong bể kính 30 lít
với thức ăn là tảo, kiểm tra các chỉ tiêu sinh học, chọn dòng tốt nhất đem ra nuôi ở
ruộng muối. Để tìm hiểu ảnh hưởng của nhiệt độ, độ muối đến sự sống và phát triển
Năm 2009, Nguyễn Thị Ngọc Anh và ctv đã tiến hành nghiên cứu ảnh hưởng
của các loại thức ăn bổ sung khác nhau lên thành phần và chất lượng Artemia trong
ruộng muối, với các loại thức ăn bổ sung là phân lợn, cám gạo, bột đậu nành với 4
nghiệm thức khác nhau. Tảo là nguồn thức ăn tự nhiên được gây nuôi trong ao bón
phân và cấp 2 ngày/lần cho tất cả các nghiệm thức. Nghiệm thức đối chứng chỉ cấp
tảo, không cấp thức ăn bổ sung (GW), nghiệm thức thứ hai bao gồm tảo và thức ăn bổ
sung là phân lợn (GW + PM), nghiệm thức thứ ba bao gồm tảo và bổ sung phân lợn
kết hợp với cám gạo (GW + PM + RB), nghiệm thức thứ tư bao gồm tảo và bổ sung
phân lợn kết hợp với bột đậu nành (GW + PM + SB). Kết quả nghiên cứu cho thấy sau
khi thả giống 3 tuần, sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của Artemia ở 3 nghiệm
thức có sử dụng thức ăn bổ sung cao hơn nghiệm thức đối chứng và sự khác biệt có
nghĩa thống kê (P