1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài:
Ở Việt Nam, tai nạn thương tích cũng là một trong những nguyên nhân hàng
đầu gây mắc, tử vong ở trẻ em và vị thành niên dưới 19 tuổi. Trung bình một
năm có 334.471 trường hợp trẻ em và vị thành niên mắc tai nạn thương tích và
7.187 trường hợp tử vong. Tỷ suất tử vong trung bình/năm là 23,01/100.000 trẻ
em và vị thành viên, chiếm 20,03% tổng số tử vong do tai nạn thương tích trên
toàn quốc. Trong đó, tử vong trẻ em nhóm 0-4 tuổi chiếm 23,65%; từ 5-9 tuổi
chiếm 17,22%; từ 10-14 tuổi chiếm 18,86%; 15-19 tuổi chiếm 40,28%.
Với trẻ 0-19 tuổi, đuối nước, tai nạn giao thông, tự tử là ba nguyên nhân về
TNTT nằm trong 10 nguyên nhân hàng đầu gây tử vong chung ở trẻ em.
Lứa tuổi học sinh là nhóm tuổi rất hiếu động và thường xuyên thích khám
phá, chinh phục thử thách. Môi trường trường học luôn là một môi trường an
toàn đối với học sinh tuy nhiên cũng không tránh khỏi những yếu tố nguy cơ có
thể dẫn đến nhiều loại hình tai nạn thương tích.
Giáo dục kỹ năng phòng tránh tai nạn thương tích là nhiệm vụ quan trọng
trong giáo dục kỹ năng sống cho thể hệ trẻ, những chủ nhân tương lai của đất
nước. Tuy nhiên, hơn 90% học sinh của Trường THPT Triệu Sơn 3, xuất phát từ
nông thôn, nên việc trang bị về công nghệ thông tin, truyền thông của khu vực
này còn hạn chế. Sự hiểu biết về tai nạn thương tích của học sinh trong trường
còn hạn chế, chỉ có trong sách vở, đa số các em biết về máy tính, về internet…
nhưng chỉ phục vụ cho nhu cầu giải trí của cá nhân, của bản thân, hầu như các
em không quan tâm đến và các em thực sự chưa có cái nhìn tốt đối với nạn nhân
của tai nạn thương tích.
Với những lí do trên, tôi đã chọn đề tài sáng kiến kinh nghiệm mang tên :
"Lồng ghép một số hình ảnh về tai nạn thương tích vào dạy, học bài 5, 6 môn
Giáo dục quốc phòng – An ninh 10 nhằm kích thích hứng thú học tập, tăng
cường giáo dục đạo đức, kỹ năng phòng chống tai nạn thương tích cho học
sinh" làm sáng kiến kinh nghiệm trong năm học 2019-2020.
1.2. Mục đích nghiên cứu:
Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm mục đích:
phương tiện đã được thiết kế để cá nhân tự động được bảo vệ. Mục đích của
biện pháp phòng ngừa thụ động là thay đổi môi trường hay phương tiện của
người sử dụng như phân tuyến đường giao thông cho người đi bộ riêng và xe ô
tô hoặc xe máy riêng để cho người đi bộ được bảo vệ khỏi bị tai nạn thương tích
do xe máy hoặc ô tô.
Hiện nay vấn đề tai nạn thương tích đang được toàn xã hội quan tâm, đặc
biệt là tai nạn thương tích đối với học sinh do tính phổ biến cũng như mức độ
trầm trọng của nó. Vì vậy việc phòng chống tai nạn thương tích cần phải căn cứ
vào các loại hình, nguyên nhân gây nên cũng như thực hiện các cấp độ dự phòng
một cách có hiệu quả.
2.2. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm:
Tai nạn thương tích thường được chia thành hai nhóm lớn là tai nạn
thương tích không có chủ định và tai nạn thương tích có chủ định. Việc phòng
chống tai nạn thương tích được thực hiện bằng các biện pháp phòng ngừa chủ
động và phòng ngừa thụ động.
Tai nạn thương tích không có chủ định: Là tai nạn thường xảy ra do sự vô
ý hay không có sự chủ ý của những người bị tai nạn thương tích hoặc của những
người khác. Các trường hợp thường gặp là tai nạn thương tích do giao thông như
tai nạn ô tô, xe đạp, xe máy, người đi bộ, tàu hỏa, tàu thủy, máy bay; do bị ngã,
lửa cháy, nghẹt thở, chết đuối, ngộ độc...
Tai nạn thương tích có chủ định: Là tai nạn do sự chủ ý của người bị tai
nạn thương tích hay của cá nhân những người khác. Các trường hợp thường gặp
là tự tử, giết người, bạo lực thành nhóm như chiến tranh, đánh nhau, hiếp dâm,
hành hạ trẻ em, hành hạ người già, bạo lực trong trường học...
Thời gian qua, dù việc tuyên tryền, phóng tránh tai nạn thương tích có
được quan tâm nhưng hiệu quả vẫn còn nhiều hạn chế thể hiện qua thực trạng về
cách phòng tránh tai nạn thương tích của học sinh còn nhiều khiếm khuyết.
3
năng phòng tránh
kĩ năng phòng tránh
số
SL
%
SL
%
SL
%
1
10A36 43
9
20.9
19
44.2
15
34.9
2
10C36 41
10
24.3
15
36.6
16 39.1
Tổng
84
19
22.6
34
40.5
14
33.3
15
35.8
10D36 42
9
21.4
19
45.3
14
33.3
Tổng
84
22
26.2
33
39.3
29
34.5
Quan sát vào kết quả điều tra được thống kê của Bảng 1 và Bảng 2 ở 4lớp
gồm 164 học sinh cả 2 nhóm thực nghiệm và đối chứng chúng ta thấy:
- Có 41/168 học sinh, biết và hiểu về kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích
chiếm 24.4%.
- Có 60/168 học sinh không biết về kĩ năng phòng tránh tai nạn thương tích
chiếm 35.7%.
2.2.2. Về kỹ năng, mức độ quan tâm của học sinh với nạn nhân tai nạn
thương tích.
- Lớp thực nghiệm: 10A36 (43 học sinh), 10C36 ( 41 học sinh).
Bảng 3: Bảng thống kề về kỹ năng, mức độ qua tâm của học sinh với nạn nhân
tai nạn thương tích (khi chưa sử dụng các hình ảnh về tai nạn thương tích và
67.9
- Lớp đối chứng: 10B36 (42 học sinh), 10D36 (42 học sinh).
Bảng 4: Bảng thống kê về kỹ năng, mức độ qua tâm của học sinh với nạn
nhân tai nạn thương tích (khi chưa sử dụng các hình ảnh về tai nạn thương tích
và các nạn nhân của tai nạn thương tích) đạt kết quả như sau:
Mức độ quan tâm
Quan tâm
Chưa quan tâm
STT
Lớp
Sĩ số
SL
%
SL
%
1
10B36
42
10
23.8
32
76.2
2
10D36
42
12
28.6
30
71.4
Tổng
hứng thú khi xem lại và phân tích về đoạn phim, hỉnh ảnh đó sẽ làm cho tiết học
của tôi sôi động, kiến thức nắm được của học sinh sẽ cô đọng, nhớ lâu…và các
hình ảnh mới đó phải phù hợp với đối tượng tôi đang hướng tới đó là học sinh.
Bước 2: Áp dụng các phương pháp dạy học đặc trưng để khai thác hình
ảnh.
2.3.1.2. Khai thác hình ảnh vào nội dung cụ thể của tiết học.
- Ở tiết học 23: Bom, đạn và cách phòng tránh:
Nội dung 1: Đặc điểm, tác hại của một số loại bom, đạn.
Ngày nay, nhân dân ta xây dựng đất nước trong hòa bình, nhưng các thế
lực thù địch vẫn luôn dùng mọi âm mưu, thủ đoạn tinh vi để phá hoại công cuộc
xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc của chúng ta.
Trong các cuộc chiến tranh xâm lược và chống phá Việt nam, kẻ địch
dùng nhiều loại bom, đạn để đánh phá và hủy diệt sự sống của ta, gây cho nhân
dân ta những thiệt hại vô cùng to lớn về nguoừi vả của, hơn thế nó còn hủy diệt
môi trường sống, để lại di chứng chiến tranh.
Để hiểu nội dung tiết học, tôi chiếu các hình ảnh sau để học sinh quan sát:
6
Bom sử dụng trong chiến tranh
Bom sử dụng trong chiến tranh
Bom còn xót lại sau chiến tranh
Bom còn xót lại sau chiến tranh
Hỏi: Những hình ảnh trên đề cấp đến vấn đề gì? (học sinh quan sát hình ảnh, nêu
vấn đề).
Giáo viên: Đây là những hình ảnh về bom, đạn và hậu quả của bom đạn sau
chiến tranh ở Việt Nam.
và tài sản, ảnh hưởng đến môi trường sống (bom hóa học), để lại di chứng cho
các thế hệ (chất độc da cam đioxin)…
- Liên hệ: Vụ nổ bom ở Khu đô thị Văn Phú – Hà Đông – Hà Nội, xảy ra
ngày 19.03.2016, đây là vụ nổ bom hết sức kinh hoàng, vụ nỗ đã tạo ra một hố
sâu có diện tích 4m2, sâu khoảng 1m, làm 4 người chết tại chỗ, 8 người đưa đi
cấp cứu, nhiều người bị thuơng, 94 căn nhà bị hư hỏng và gần như cả một dãy
phố Văn Phú phải chịu cảnh tan hoang, đổ nát.
Nội dung 2: Các biện pháp phòng tránh thông thường.
8
Sau khi giáo viên nêu và phân tích các biện pháp phòng tránh bom, đạn
thông thường, giáo viên chiếu một số hình ảnh nhằm làm rõ các biện pháp
phòng tránh bom mìn hiện nay:
Hỏi: Em hãy nêu các biện pháp phòng tránh bom, đạn hiện nay?
(Học sinh đọc, hiểu ->> đưa ra các biện pháp phòng tránh bom, đạn hiện
nay – số học sinh còn lại quan sát, nhận xét, bổ sung).
Giao viên: Nghe, nhận xét và kết luận:
- Đây là 2 khu vực tìm thấy bom mà các em, bạn của các em và gia đình
chúng ta đang sinh sống, sản xuất.
- Các biện pháp cần hiện nay khi chúng ta tìm thấy bom, đạn là:
+ Thông báo cho cơ quan chính quyền địa phương được biết.
+ Đánh dấu khu vực có bom ( cờ, cành cây, gạch đá…).
+ Cắm biển báo KHU VỰC CẤM (CÓ BOM) – KHÔNG PHẬN SỰ
MIỄN VÀO.
+ Giao nhiệm vụ cho lực lượng chuyên trách canh giữ và hướng dẫn nhân
dân không di vào khu vực nguy hiểm,…
2.3.2. Giải pháp 2: Lồng ghép các câu chuyện “có thật” về cuộc sống của
các “nạn nhân” của tai nạn thương tích để củng cố bài học, tăng cường giáo
- Giữ nguyên hiện trường.
- Đánh dấu hiện trường bằng các phương tiện đơn giản như cành lá cây,
làm biển báo hoặc cho người đứng cảnh giới...
- Báo cáo ngay với người có trách nhiệm gần nhất để xử lí: Công an xã,
phường.
- Tuyệt đối không làm thay đổi vị trí, cũng như tự động xử lí.
- Tuyền truyền, hướng dẫn cho nhân dân không đi vào khu vực nguy
hiểm.
Khi tiếp xúc với nạn nhân của bom, đạn chúng ta cần:
- Nhanh chóng cấp cứu nạn nhân bằng mọi biện pháp có thể.
- Quan tâm, giúp đỡ nạn nhân bằng các hành động cụ thể: quyên góp, ủng
hộ nạn nhân chất độc da cam,…
- Tham gia các hoạt động tuyên truyền, thiện nguyện…. ở địa phương.
- Ở tiết học 26 và 27: Cấp cứu ban đầu các tai nạn thông thường:
Ở tiết học 26:
10
Sau khi hoàn thành nội dung chính của tiết học tôi chiếu lên màn hình những hình
ảnh sau:
Học sinh: Nguyễn Nhật Long - 12 tuổi, ở xóm 5, xã Nghi Phú, thành phố Vinh,
tỉnh Nghệ An - bị bỏng điện phải cắt cụt 2 cánh tay
Sinh viên: Huỳnh Văn Cương, 21 tuổi,
Thành phố Hồ Chí Minh, là sinh viên
đại học, bị điện giật trong khi tắm bằng
máy nước nóng
Anh: Trần Thanh Mỵ - 44 tuổi, xã
12
Đuối nước ở Thừa Thiên Huế- 2 người
chết
Đuối nước ở Hà Tĩnh – 3 người chết
Đuối nước ở Lâm Đồng – 3 người chết
Đuối nước ở Nghệ An – 2 người chết
Giáo viên: Các em đọc thông tin trên các bức hình, đưa ra nhận xét: (Nội
dung bức ảnh là gì, chúng ta cần làm gì để hạn chế mức tối thiểu tai nạn thương
tích xảy ra?).
13
Học sinh: Quan sát nhóm hình ảnh và trả lời, số học sinh còn lại nghe và
bổ sung ý kiến.
GIÁO VIÊN KẾT LUẬN:
- Đuối nước là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong ở trẻ em, số trẻ em ở
Việt nam thiệt mạng do đuối nước dù giảm nhưng vẫn còn ở mức cao, khoảng
2000 trẻ em/1 năm, cao gấp 10 lần các nước phát triển và hơn 5 lần so với các
nước ASEAN.
- Công việc cần làm:
+ Nhà ở, trường học, đường giao thông, nơi vui chơi, ao hồ, sông ngòi..
cần lắp hệ thồng rào chăn, biển báo nguy hiểm.
+ Các phụ huynh học sinh cần trang bị cho học sinh các kỹ năng mềm
Bảng 5: Bảng thống kê về tìm hiểu tại nạn thương tích và kỹ năng phòng tránh
của học sinh thông qua khảo sát sau khi học bài 5,6.( khi sử dụng các hình ảnh
về tai nạn thương tích và các nạn nhân của tai nạn thương tích) kết quả như sau:
STT
1
2
Lớp
10A36
10C36
Tổng
Sĩ
số
43
41
84
Mức độ hiểu biết
Biết và hiểu kĩ
Biết nhưng chưa hiếu
năng phòng tránh kĩ năng phòng tránh
SL
%
SL
%
33
76.7
Mức độ hiểu biết
Biết và hiểu kĩ
Biết nhưng chưa hiếu Không biết
STT
Lớp
Sĩ
số năng phòng tránh kĩ năng phòng tránh
SL
%
SL
%
SL
%
1
10B36 42
20
47.6
12
28.6
10
23.8
2
10D36 42
19
45.2
12
28.6
11
26.2
Tổng
2
10C36
41
33
80.5
8
19.5
Tổng
84
68
80.9
16
19.1
- Đối với lớp đối chứng: 10B36 (42 học sinh), 10D36 (42 học sinh).
Bảng 8: Bảng thống kề về kỹ năng, mức độ qua tâm của học sinh với nạn nhân
tai nạn thương tích, sau khi học bài 5,6.( khi sử dụng các biện pháp dạy học
thông thường, không có nhiều liên hệ với thực tiễn) đạt kết quả như sau:
Mức độ quan tâm
Quan tâm
Chưa quan tâm
STT
Lớp
Sĩ số
SL
%
SL
%
1
10B36
42
thương tích và kỹ năng phòng tránh tăng lên 26.2% lên 46.4%, số học sinh
không biết và không hiểu tai nạn thương tích còn rất cao 25%.
- Ở Bảng 4 và Bảng 8 (Lớp đối chứng): Số lượng học sinh hiểu được kỹ
năng, mức độ quan tâm với nạn nhân tai nạn thương tích tăng từ 26.2% lên
47.6%, số học sinh chưa quan tâm con rất cao 52.4%.
Vậy, sau khi thực hiện dạy học bài 5, 6 khi sử dụng các hình ảnh về tại
nạn thương tích và nạn nhân của tại nạn thương tích thì kết quả nhận thức của
học sinh có những chuyển biến rõ rệt.
Cụ thể:
- Về tìm hiểu tại nạn thương tích và kỹ năng phòng tránh:
Lớp thực nghiệm: Đạt 77.3% (Bảng 5) cao hơn Lớp đối chứng: Đạt 46.4
% (Bảng 6) là 30.9%
- Về kỹ năng, mức độ qua tâm của học sinh với nạn nhân tai nạn thương
tích.
Lớp thực nghiệm: Đạt 80.9% (Bảng 7) cao hơn Lớp đối chứng: Đạt
47.6% (Bảng 8) là 33.3%
Như vậy có thể khẳng định rằng việc sử dụng các hình ảnh về tại nạn
thương tích và nạn nhân của tại nạn thương tích là một biệp pháp hiệu quả, góp
phần không nhỏ kích thích quá trình tìm hiêu, học tập, rèn luyện đạo đức, kĩ
năng phòng tránh tai nạn thương tích cho học sinh.
3. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
3.1. Kết luận:
Bản thân tôi nhận thấy, với những hình ảnh về tại nạn thương tích và nạn
nhân của tại nạn thương tích đã được sử dụng trong Bài 5, 6 môn GDQP_AN
10, của mình tại Trường THPT Triệu Sơn 3, đã thực sự mang lại hiệu quả đáng
khích lệ: Đa số học sinh lĩnh hội được kiến thức bài học, các em đã biết chủ
động, vận dụng những kiến thức đã học được vào thực tế cuốc sống và đã loại
17
Người viết:
Khương Thị Yến
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa GDQP_AN 10 – Nhà xuất bản Giáo dục
2. Sách giáo viên GDQP_AN 10 – Nhà xuất bản Giáo dục
3. Kỹ năng sống cho tuổi vị thành niên – tác giả Nguyễn Thị Oanh – Nhà xuất
bản Trẻ.
4. Giáo dục kỹ năng sống cho học sinh THPT – tác giả Nguyễn Thanh Bình –
Tạp chí Khoa học giáo dục.
18
5. Sáng kiến kinh nghiện: "Lồng ghép hình ảnh bom, đạn, nạn nhân của bom,
đạn trong dạy học tiết 23 - Bom, đạn và cách phòng tránh nhằm giáo dục kỹ
năng phòng tránh bom, đạn và kỹ năng hòa nhập cộng đồng của học sinh với các
nạn nhân của bom, đạn qua môn GDQP-AN 10” – Tác giả Khương Thị Yến –
Năm 2016.
DANH MỤC
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM ĐÃ ĐƯỢC HỘI ĐỒNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM NGÀNH GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN, TỈNH VÀ CÁC
CẤP CAO HƠN XẾP LOẠI TỪ C TRỞ LÊN
Họ và tên tác giả:.KHƯƠNG THỊ YẾN
Chức vụ và đơn vị công tác:Giáo viên, Trường THPT Triệu Sơn 3
TT
Tên đề tài SKKN
C
2012-2013
Cấp
ngành
C
2015-2016
Cấp
ngành
C
2018-2019
Sơn 3
Tạo hứng thú và nâng cao hiệu quả
học tập môn GDQP-AN 10 bằng
video và SLIDE hình ảnh trong tiết
3.
xếp loại
Sử dụng phương pháp thảo luận
nhóm trong dạy tiết 26, 27 môn
vaftai nạn thương tích.
Biết và hiểu kĩ năng thực Biết nhưng không hiếu kĩ
Không biết
20
hiện
năng thực hiện
3. Chọn mức độ quan tâm của các em đối với nạn nhân của tai nạn thương
tích.
Quan tâm
Chưa quan tâm
21