Sức hấp dẫn từ Nghệ thuật so sánh, tơng phản và tăng cấp
trong Sống chết mặc bay của phạm duy tốn.
( Ngữ văn 7- Tập II )
-------------------------
Nhắc tới sức sống lâu bền của một tác phẩm văn học điều cốt lõi mà chúng ta
nói tới là giá trị nội dung và nghệ thuật của tác phẩm đó. Nghệ thuật là yếu tố tạo nên
sức hấp dẫn độc đáo, thi ị của một tác phẩm và cũng từ đó giúp độc giả thấy đợc sự cao
tay nh thế nào của ngời nghệ sỹ. Lắm khi qua vài yếu tố nghệ thuật đủ thấy tầm cỡ của
nhà văn. Là yếu tố góp phần làm đẹp thêm giá trị của tác phẩm, nhng nghệ thuật mang
sức chứa lớn để chuyển tải cảm xúc và t tởng của tác phẩm. Phải nói rằng, giá trị nghệ
thuật là bệ phóng để giá trị nội dung thăng hoa.
Khi nói về nghệ thuật trong tác phẩm văn xuôi thì vô cùng đa dạng và phong
phú, một trong những biện pháp nghệ thuật quan trọng trong hệ thống thủ pháp nghệ
thuật của tác phẩm văn xuôi mà nhiều tác giả vận dụng nó trong tác phẩm của mình là
nghệ thuật so sánh, tơng phản và phép tăng cấp. Tác dụng của so sánh, đối chiếu để
tạo ra những tơng phản sẽ giúp nhà văn đạt tới tính tạo hình cao, làm cho ngời đọc hình
dung rõ ngay lập tức về đối tợng, hiểu rõ bản chất sự việc, sự vật, tạo nên những rung
động thẫm mỹ, những ấn tợng mới mẻ. Thông qua so sánh, tơng phản, tăng cấp mọi sự
vật, hiện tợng trở nên cụ thể, sinh động, giàu sức biểu hiện, thuyết phục.
Khảo sát nghệ thuật trong những tác phẩm văn xuôi ở chơng trình Ngữ văn trung
học cơ sở tôi thấy nghệ thuật so sánh, tơng phản và tăng cấp đợc nhiều nhà văn vận
dụng hết sức linh hoạt, uyển chuyển và biến hóa, trong đó chúng ta phải kể đến sức hút
hấp dẫn của nghệ thuật này khi ta đọc Sống chết mặc bay (1918) của Phạm Duy Tốn(
Ngữ văn 7- tập II ).
Trớc hết là sự so sánh để thấy sự đối lập giữa sức ngời với sức nớc, đó là trống
đánh liên thanh, ốc thổi vô hồi, tiếng ngời gọi nhau xơ xác sang hộ, nhng xem chừng
ai ai cũng mệt lử cả rồi đối lập với hình ảnh nhỏ nhoi của những con ngời hộ đê là sức
mạnh của thiên nhiên: ấy vậy, mà trên trời thời vẫn m a tầm tã trút xuống, dới sông n-
ớc thời cứ cuồn cuộn bốc lên. Thật là một sự chênh lệch quá lớn, một cuộc chiến
không cân sức giữa hai hình ảnh, chính vậy mà tác giả đã không kìm nỗi cảm xúc của
mình than ôi! Sức ngời khó lòng địch nổi với sức trời! Thế đê sao cự lại đợc với thế
Ngoài kia đê vỡ mặc đê, nớc sông dù nguy không bằng nớc bài cao thấp . Cũng là
không khí tấp nập, bên ngoài đó là sự nhốn nháo, nguy kịch, thiên nhiên sẽ cớp đi gia
tài, tính mạng con ngời lúc nào không hay, sự sống và cái chết cách nhau chỉ trong gang
tấc, ấy vậy tơng phản với cảnh đó là không khí trong đình cũng tấp nập không kém, tấp
nập bởi nớc bài cao thấp, thật rõ và trớ trêu thay, tính mạng hàng trăm nghìn con ngời
đang nghìn cân treo sợi tóc không bằng một con bài vô tri vô giác.
Đến đoạn cuối sự tơng phản nh đợc đẩy đến đỉnh điểm. Những câu văn ngắn,
nhanh, mạnh, những lời nói, quát diễn ra liên tục. Sự trái ngợc không chỉ ở thái độ điềm
nhiên hởng lạc của tên quan phủ với tiếng vang trời dậy đất ngoài đê nữa. Đối lập ngay
trong nhng lời đối thoại, lời nói khe khẽ, sợ sệt của ngời hầu: bẩm có khi đê vỡ tơng
phản với lời gắt của tên quan cùng với cái cau mặt: Mặc kệ . Thế mới thấy đợc sức hút
kỳ lạ của ma lực từ con bài. ở đây, sự đối lập không phải ở khoảng cách vài trăm thớc
nữa mà sự đối lập ngay trong cái ngoảnh mặt quay ra. Với hình ảnh ngời nhà quê, mình
mẩy lấm láp, áo quần ớt đẫm, tất tả chạy xông vào thở không ra hơi báo tin đê vỡ tơng
phản với hình ảnh quan lớn mặt đỏ tía tai quay ra quát rằng đê vỡ rồi thời ông cắt cổ
chúng mày . Vậy, khi quan lớn ngoảnh ra là lúc mặt đỏ tía tai, quát thì lúc quan lớn
quay vào lại với giọng điệu, thái độ thay đổi, quan xuống giọng Thầy bốc quân gì
thế , quan xòe bài ra cời vui vẻ thông tôm, chi chi nẩy . Đến đây, lòng chúng ta nh
se lại, bộ mặt thật của chúng là thế đấy. Chúng thơng cho dân, lo cho dân là thế đấy!
Rồi thiên truyện khép lại bằng cảnh vỡ đê. Cái cảnh đó đợc so sánh với cảnh ván
bài quan lớn ù to. Tác giả đã so sánh đợc một cảnh sầu thảm, với sự sung sớng tột độ khi
ván bài ù: ấy trong khi quan lớn ù ván bài to nh thế, thì khắp mọi nơi miền đó, nớc
tràn lênh láng, xoáy thành vực sâu, nhà cửa trôi băng, lúa má ngập hết; kẻ sống không
chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn, lênh đênh mặt nớc, chiếc bóng bơ vơ, tình cảnh thảm
sầu, kể sao cho xiết! . Đọc đến đoạn này ngời đọc nh cảm thấy từng câu chữ đối lập
nhau chan chát, cùng với đó chúng ta cũng cảm giác từng câu, từng chữ nh run rẫy bởi
thái độ căm phẫn, uất ức của tác giả. Cảnh đã lên tới cực điểm, một bên là cực điểm của
sự sung sớng với cảnh ngồi khểnh rung đùi, vuốt râu hả hê, sung sớng vô bờ bến, không
sao tả xiết khi ván bài quan lớn đã ù to, còn một bên là cực điểm của sự tang tóc, đau th-
ơng với nhà cửa trôi băng kẻ sống không chỗ ở, kẻ chết không nơi chôn . Bên cạnh