PHẦN 1: ĐẶT VẤN ĐỀ
1. Lý do chọn đề tài
Môn Giáo dục công dân được Bộ Giáo dục và Đào tạo đưa vào giảng dạy ở
trường Trung học phổ thông nhằm trang bị cho học sinh những hiểu biết cơ bản,
phù hợp với lứa tuổi về hệ thống kiến thức liên quan đến nhiều lĩnh vực như triết
học, đạo đức học, kinh tế chính trị học, chủ nghĩa xã hội khoa học, pháp luật,
đường lối, quan điểm của Đảng, một số chính sách quan trọng của Nhà nước Việt
Nam. Có thể nói môn giáo dục công dân đã góp phần hình thành nên thế giới quan
lành mạnh ở học sinh, giúp học sinh biết phân biệt lẽ phải, trái; biết tôn trọng bản
thân và tôn trọng người khác; biết sống trung thực, khiêm tốn, dũng cảm, biết yêu
thương và vị tha.
Đồng thời, những kiến thức của môn giáo dục công dân giúp học sinh hình
thành những kỹ năng sống cơ bản để vững vàng bước vào đời: ý thức tổ chức kỷ
luật, có thái độ đúng đắn trong việc nhận thức và chấp hành pháp luật…
Có thể thấy được tầm quan trọng của môn giáo dục công dân đối với học sinh
như thế nào. Tuy nhiên, việc dạy và học môn giáo dục công dân đang tồn tại một
số vấn đề bất cập. Có những học sinh không nhận thức được hết tầm quan trọng
của môn Giáo dục công dân và cho rằng đây là môn học phụ nên ít quan tâm, đầu
tư thích đáng cho việc học. Về phía giáo viên, qua thực tế có thể nhận thấy, một số
giáo viên vẫn lên lớp bằng phương pháp xưa cũ: thầy đọc, trò chép, tạo cảm giác
mệt mỏi, thụ động đối với học sinh trong việc tiếp nhận kiến thức.
Chính vì vậy, lãnh đạo ngành giáo dục đã thực sự nghiêm túc đánh giá, nhìn
nhận cả từ phía người dạy lẫn người học để từ đó có giải pháp nâng cao chất lượng
dạy và học môn học có vị trí đặc biệt quan trọng này. Cụ thể đó là việc đổi mới
phương pháp dạy học, sử dụng các phương pháp dạy học tích cực. Với việc tiến
hành đổi mới phương pháp giáo dục, qua thực tiễn với việc ứng dụng phương pháp
dạy học mới giáo viên đã làm “mềm” hoá môn học vốn được xem là khô khan,
trừu tượng này bằng những thí dụ sinh động trong đời sống thực tế. Thay cách
thuyết giảng một chiều bằng việc nêu những câu hỏi gợi mở, nêu vấn đề thảo luận
nhằm phát huy tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh. Trong một số tiết
học, trong những tình huống cụ thể, để tạo sự hào hứng và cuốn hút học sinh vào
Phương pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn được dùng ở nhiều
nước để chỉ những phương pháp giáo dục, dạy học theo hướng phát huy tính
tích cực, chủ động sáng tạo của người học. "Tích cực" trong phương pháp dạy
học – tích cực được dùng với nghĩa tức là hoạt động, chủ động, trái nghĩa với
không hoạt động, thụ động. Phương pháp dạy học tích cực hướng tới việc hoạt
động hóa, tích cực hóa, hoạt động nhận thức của người học tức là tập kết và
phát huy tính tích cực của người học chứ không phải là tập kết vào phát huy tính
tích cực của người dạy, tuy nhiên để dạy học theo phương pháp tích cực thì
người dạy phải nỗ lực nhiều so với dạy học theo phương pháp thụ động.
Với nét đặc thù là truyền tải các kiến thức tổng hợp từ triết học, đạo đức,
kinh tế - chính trị, các chính sách xã hội, pháp luật, ngoài ra các nội dung xã
hội: Ngoại khóa, giáo dục kỹ năng sống, giáo dục môi trường, giáo dục giới
tính, giáo dục dân số, giáo dục sức khỏe sinh sản vị thành niên, giáo dục phòng
tránh HIV/AIDS, giáo dục phòng chống tham nhũng…nên việc lựa chọn
phương pháp phù hợp phải được chú trọng. Giáo viên có thể sử dụng nhiều
phương pháp khác nhau, bản thân tôi và một số đồng nghiệp đã sử dụng một số
phương pháp như: phương pháp thảo luận nhóm, phương pháp nghiên cứu
trường hợp điển hình, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp đóng vai,
phương pháp trò chơi, phương pháp dự án, phương pháp động não và đã thu
được một số hiệu quả nhất định.
* Mục đích của đổi mới phương pháp dạy học tích cực
Mục đích của việc đổi mới phương pháp dạy học nhằm giúp học sinh phát
huy tính tích cực, tự giác, chủ động, rèn luyện thói quen và khả năng tự học, tinh
thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vào những tình huống khác nhau trong
học tập và trong thực tiễn. Xem việc học là một quá trình kiến tạo, giúp học sinh
tìm tòi, khám phá, phát hiện, khai thác và xử lí thông tin, tự hình thành hiểu biết,
năng lực và phẩm chất.
* Đặc trưng của các phương pháp dạy học tích cực
- Dạy học tăng cường phát huy tính tự tin, tích cực, chủ động, sáng tạo thông
qua tổ chức thực hiện các hoạt động học tập của học sinh.
câu hỏi và yêu cầu hoạt động của thầy, hăng hái tham gia thảo luận, tranh luận,
đóng góp với thầy, với bạn những suy nghĩ về các vấn đề. Tính tích cực còn được
thể hiện ở sự kiên trì không nản chí trước những tình huống khó khăn. Học sinh
không có tính tích cực thì gặp tình huống mới, vấn đề mới, chưa suy nghĩ được bao
nhiêu đã vội hỏi ý kiến người khác. Trong những trường hợp đó, nếu người được
hỏi là giáo viên, thì tốt nhất hãy xem học sinh đó đã suy nghĩ gì chưa, đã suy nghĩ
như thế nào trước khi đưa ra ý kiến trả lời
* Dạy học phát huy tính tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh
Tính tích cực, chủ động, tự giác là điều kiện cần để sáng tạo. Những biểu hiện
của sự sáng tạo là: biết nhìn nhận một sự vật theo một khía cạnh mới, nhìn nhận
một sự kiện mới dưới nhiều góc độ khác nhau; biết đặt ra những giả thiết khi phải
lí giải một hiện tượng, biết đề xuất những giải pháp khác nhau khi xử lí một tình
huống; không hoàn toàn bằng lòng với giải pháp đã có; không suy nghĩ cứng nhắc
theo những gì đã có; không máy móc áp dụng những quy tắc, phương pháp đã biết
vào những tình huống mới
Trang 4
Việc đánh giá sáng tạo được căn cứ vào tính mới mẽ, tính độc đáo, tính hữu
ích của các đề xuất. Tuy nhiên tính sáng tạo cũng có tính chất tương đối: sáng tạo
đối với ai? Sáng tạo trong điều kiện nào?...
Để học sinh tích cực, tự giác, chủ động, trước hết người giáo viên phải tạo ra
một môi trường vui vẻ, thoải mái, phải làm cho học sinh có hứng thú, phấn khởi
trong học tập
Những kết quả, những cách suy nghĩ, giải quyết vấn đề trong các môn học nói
chung, trong môn giáo dục công dân nói riêng đều có sức hấp dẫn nhất định, đều
kích thích được sự ham muốn hiểu biết của học sinh
Môn Giáo dục công dân còn có sự hấp dẫn riêng vì sự thông thái ẩn chứa
trong môn học này. Người giáo viên cần làm cho học sinh thấy được cái hay, cái
Thường xuyên kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh, qua đó động
viên, khen ngợi hay phê bình, nhắc nhở các em cũng là một biện pháp để học sinh
tích cực, tự giác, chủ động trong học tập. Giáo viên không phải chỉ hô hào, nhắc
nhở học sinh: hãy tích cực, tự giác, hãy chủ động, sáng tạo,... mà phải tạo ra các
tình huống học tập để qua đó học sinh ý thức được những đều đó
Tăng cường phương tiện trực quan trong dạy học, vì phương tiện dạy học có
chức năng khơi dậy, dẫn truyền và làm tăng sức mạnh tác động của giáo viên lên
học sinh, để nâng cao hiệu quả dạy học, tất yếu phải nâng cao tính hiện đại của các
phương tiện dạy học và nâng cao trình độ sử dụng chúng của giáo viên và học sinh
1.3 Một số yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến tính tích cực, chủ
động, sáng tạo trong học học tập của học sinh
Việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của học sinh tại
các trường THPT Cửa Lò là một điều mà đội ngũ giáo viên môn giáo dục công dân
rất quan tâm khi sử dụng các phương pháp giáo dục tích cực mới.
Dưới đây là các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến đến tính tích
cực, chủ động, sáng tạo trong học học tập của học sinh
Trong quá trình thực hiện sáng kiến kinh nghiệm tôi và đồng nghiệp dựa trên
các yếu tố ảnh hưởng đến tính tích cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của học
sinh đã phát 200 phiếu điều tra các em học sinh tại các trường THPT Cửa Lò và đã
thu được các nhận xét như sau:
Bảng 1.1: Các yếu tố khách quan và chủ quan ảnh hưởng đến tính tích
cực, chủ động, sáng tạo trong học tập của học sinh
TT
Các yếu tố ảnh hưởng
Tỉ lệ%
I. Yếu tố khách quan
6
Giáo viên đánh giá công bằng với HS
42.5
7
Giáo viên vui vẻ, cởi mở với HS
52.6
8
Bản thân có phương pháp học tập phù hợp
19.7
9
Bản thân tích cực tự giác với hoạt động học tập
48.2
Trang 6
10
Hiểu vị trí, vai trò của môn Giáo dục công dân trong
Giáo viên giảng dạy chưa hay, chưa tạo sự tích cực, chủ
10.8
5
động cho học sinh
6
Giáo viên đánh giá chưa công bằng với HS
14.6
7
Giáo viên chưa vui vẻ, cởi mở với HS
9.8
8
Bản thân chưa có phương pháp học tập phù hợp
10,2
9
Bản thân chưa tích cực tự giác với hoạt động học tập
Trang 7
Yếu tố chủ quan: nội dung học tập chưa phù hợp với nhận thức của học sinh
(21,2%), chưa hiểu vị trí, vai trò của môn Giáo dục công dân học trong chương
trình học (31,5%). Chính những đều này đã làm cho học sinh khó tiếp thu, lĩnh hội
và tìm hiếu khám phá sâu những tri thức của ngành học cụ thể, yếu tố thứ hai mà
học sinh chọn tỉ lệ cao “chưa hiểu vị trí, vai trò của môn Giáo dục công dân
trong chương trình học” là 31,5%, cho thấy ngoài bản thân học sinh cần nỗ lực
hiểu rõ môn học trong quá trình đào tạo, trong quá trình giảng dạy giáo viên phải
làm cho học sinh hiểu vị trí, tầm quan trọng của môn học mình phụ trách.
Chỉ có yếu tố “bản thân học sinh tích cực tự giác học tập” được học sinh
chọn nhiều nhưng tỉ lệ này chỉ ở mức trung bình 48,2% (
Bên cạnh những khó khăn như đã nói ở trên, đối với giáo viên Giáo dục
công dân cũng có những thuận lợi như: được tổ chức bồi dưỡng, tập huấn hàng
năm nhằm nâng cao trình độ nhận thức cho giáo viên. Nhà trường cũng tạo những
điều kiện nhất định để giáo viên nâng cao trình độ như mua sắm tài liệu tham
khảo, phương tiện nghe nhìn, nghe báo cáo thời sự, tiếp cận với thực tế xã hội…
Là một giáo viên môn Giáo dục công dân, tôi nhận thấy việc phát huy tính
tích cực, chủ động của học sinh trong học tập cũng như việc áp dụng phương
pháp dạy học tích cực vào việc giảng dạy có hiệu quả là một vấn đề không đơn
giản. Đã nhiều năm nay, tôi cùng các thành viên trong nhóm chuyên môn mạnh
dạn sử dụng các phương pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tính tích cực chủ
động của học sinh và đã thu được nhiều kết quả khả quan. Vì vậy, sau đây tôi
xin chia sẻ kinh nghiệm: “Phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo cho học
sinh trong dạy học môn giáo dục công dân thông qua các phương pháp dạy
học tích cực tại các trường THPT ”.
2.2. Thực trạng việc phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh
tại các trường THPT.
Để phát huy tính tích cực, chủ động của học sinh, mỗi giáo viên chúng ta tại
các trường THPT nói chung và các trường THPT Cửa Lò nói riêng phải luôn đổi
mới phương pháp giảng dạy, cụ thể hiện nay người giáo viên sẽ phải đặt người học
vào tình huống có vấn đề, vào thực tế cuộc sống, người học trực tiếp thảo luận,
quan sát, giải quyết vấn đề theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức
mới, không rập khuôn theo khuôn mẫu có sẵn, được bộc lộ và phát huy tiềm năng
sáng tạo. Và để làm được điều này giáo viên không chỉ đơn giản truyền đạt tri thức
mà còn hướng dẫn các hoạt độngvà tích cực tham gia các chương trình hoạt động.
Đồng thời giáo viên phải phát huy, khai thác tối đa kinh nghiệm sống của học
sinh, tạo cơ hội cho học sinh bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân về vấn đề đang học,
Trang 9
khuyến khích các em nêu những thắc mắc trong khi nghe giảng, đặt ra câu hỏi cho
vững, dễ nhớ và nhớ nhanh hơn do được giao lưu, học hỏi giữa các thành viên
trong nhóm. Nhờ không khí thảo luận cởi mở nên học sinh, đặc biệt là những
em nhút nhát, trở nên bạo dạn hơn; các em học được cách trình bày ý kiến của
mình, biết lắng nghe, có phê phán ý kiến của bạn; từ đó, giúp học sinh dễ hòa
nhập và cộng đồng nhóm, tạo cho các em sự tự tin, hứng thú trong học tập và
sinh hoạt. Vốn hiểu biết và kinh nghiệm của học sinh thêm phong phú; kỹ năng
giao tiếp, kỹ năng hợp tác của học sinh được phát triển.
Trước đây, khi chưa sử dụng phương pháp dạy học tích cực như thảo luận
nhóm thì giáo viên thường truyền thụ kiến thức một chiều, học sinh học tập thụ
Trang 10
động, không phát huy được tính tích cực chủ động, sáng tạo của học sinh nên
trong giờ học, nhiều học sinh còn chây lười, không vận động, không có tính hợp
tác với bạn bè, với tổ, nhóm dẫn đến nhiều học sinh không nắm được kiến thức,
không hiểu bài. Những phương pháp giảng dạy cũ đó đã làm mất đi tư duy sáng
tạo của học sinh.
Một số lưu ý khi sử dụng phương pháp thảo luận nhóm:
Giáo viên chia số lượng học sinh trong lớp thành các nhóm (thường cứ mỗi
tổ là một nhóm để các em hiểu nhau hơn); phần việc này không khó, nhưng
không nên để nhóm quá nhiều học sinh, bởi có những học sinh chây lười, có cơ
hội lẩn tránh học tập. Nếu có điều kiện phân chia theo chất lượng học sinh, có em
khá hơn, có em yếu kém để kèm cặp nhau trong học tập.
Về thời gian được quy định là bao nhiêu, giáo viên có thể dựa vào chất
lượng của các câu hỏi để định liệu. Giữa phần thảo luận của các nhóm và phần
tổng kết của giáo viên phải có tỷ lệ cân đối. Hai phần này có mối quan hệ biện
chứng, không thể tách rời. Phần việc này đòi hỏi giáo viên phải có kinh nghiệm
thực tế, thời gian nên giành cho các em thảo luận là bao nhiêu thì vừa, phần kết
luận của cô giáo thật hàm súc thì bài học mới mang lại hiệu quả. Vấn đề mà
giáo viên nắm càng vững thì thời gian truyền thụ sẽ ít đi. Vì vậy, giáo viên phải
nhóm không đều, có giáo viên chia lớp thành 2 nhóm thì số lượng nhóm quá
đông. Có giáo viên chia số lượng nhóm quá nhiều, làm như vậy chưa phát huy
hết hiệu quả của phương pháp thảo luận nhóm. Riêng tôi thì tôi thường sử dụng
phương pháp thảo luận nhóm bằng cách chia lớp thành 4 nhóm tương ứng mỗi
nhóm là 1 tổ học sinh. Như vậy nếu lớp từ 35 đến 40 học sinh thì mỗi nhóm
tương ứng từ 8 đến 10 em. Số lượng học sinh vừa phải thì tất cả các em đều hoạt
động tích cực trong quá trình học tập.
Giáo viên quy định thời gian thực hiện cho học sinh đặt tên nhóm, cử nhóm
trưởng, thư ký và thực hiện công việc của nhóm.
Học sinh thảo luận và các nhóm lần lượt trình bày.
Giáo viên nhận xét, kết luận.
Ví dụ: Tôi đã sử dụng phương pháp thảo luận nhóm trong bài 4 GDCD 10:
“Nguồn gốc vận động, phát triển của sự vật và hiện tượng” trong phần tìm
hiểu khái niệm mâu thuẫn như sau:
GV tổ chức cho HS thảo luận nhóm để tìm hiểu thế nào là mâu thuẫn: GV
chia lớp thành 3 nhóm (chia theo danh sách lớp). GV quy định thời gian và chỗ
ngồi thảo luận của các nhóm
GV giao câu hỏi cho các nhóm:
Nhóm 1. Em hãy đưa ra một số VD về mâu thuẫn? (Trạng thái xung đột,
chống đối nhau trái ngược nhau về hình thức, nội dung...) em có nhận xét gì về các
ví dụ trên ?
Nhóm 2. Em có nhận xét gì về các ví dụ sau:
điện tích (+)
- Mỗi nguyên tử có 2 mặt
điện tích (-)
địa chủ
- Xã hội phong kiến có hai giai cấp
Nông dân
Tích cực
- Nhận thức có hai mặt
To >< nhỏ
Trắng >< đen
Tốt >< xấu
* Người
ta quan niệm đây là mâu thuẫn.
Nhóm 2
* Mỗi
sự vật và hiện tượng có 2 mặt đối lập nhau
* Hai
mặt đó ràng buộc, tác động và đấu tranh với nhau.
Nhóm 3 a) So sánh
VD1 không gọi là mâu thuẫn
Trang 13
VD2 được gọi là mâu thuẫn
b) Mỗi mâu thuẫn phải có 2 mặt đối lập ràng buộc nhau trong một chỉnh thể
(một sự vật, hiện tượng). Mỗi sự vật, hiện tượng luôn tồn tại nhiều mâu thuẫn.
GV gợi ý khắc sâu kiến thức
-
Mâu thuẫn (thông thường) là trạng thái xung đột, chống đối nhau
-
hỏi cho nhóm 3: Những chủ thể nào có nghĩa vụ tuân thủ pháp luật? Những chủ
thể đó tuân thủ pháp luật như thế nào? Ở hình thức này, chủ thể có bắt buộc
Trang 14
phải thực hiện pháp luật hay không? Đưa ra một số ví dụ về hình thức tuân thủ
pháp luật trong cuộc sống.
Thứ tư, đối với phần tìm hiểu hình thức áp dụng pháp luật. Tôi giao câu hỏi
cho nhóm 4: Những chủ thể nào có quyền áp dụng pháp luật? Những chủ thể đó
căn cứ vào đâu để áp dụng pháp luật? Những chủ thể đó áp dụng pháp luật như
thế nào? Những chủ thể đó áp dụng pháp luật trong những trường hợp nào? Cho
ví dụ minh họa?
Sau khi cho nghiên cứu sách giáo khoa, học sinh tiến hành thảo luận theo
nhóm, thống nhất ý kiến và lần lượt trình bày kết quả thảo luận. Tôi nhận xét,
bổ sung và đưa ra kết luận về từng hình thức thực hiện pháp luật và có thể minh
họa thêm các ví dụ.
* Đối với hình thức: Sử dụng pháp luật: Chủ thể sử dụng pháp luật là những
cá nhân, tổ chức trong xã hội. Những chủ thể đó sử dụng các quyền của mình,
làm những gì mà pháp luật cho phép làm.
Qua phần thảo luận nhóm của bài 2 học sinh tích cực chủ động sáng tạo
trong học tập, rèn luyện cho học sinh kỹ năng tự tin trình bày suy nghĩ ý tưởng,
kỹ năng tìm kiếm và xử lý thông tin sáng tạo trong hoạt động học tập. Học sinh
học tập sôi nổi, hiểu bài.
2.3.2 Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình
Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình là một phương pháp dạy
học, trong đó HS tự lực nghiên cứu một tình huống thực tiễn và giải quyết các
vấn đề của tình huống đặt ra, hình thức làm việc chủ yếu là làm việc nhóm,
phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình là phương pháp điển hình của
dạy học theo tình huống và dạy học giải quyết vấn đề.
Phương pháp nghiên cứu trường hợp điển hình đề cập đến một tình huống
Làm quen vớỉ trường hợp
2.Thu thập thông tin:
Thu thập thông tin về các trường
hợp từ các tàỉ liệu có sẵn và tự
tìm
3.Nghiên cứu và tìm ra các
phương án giải quyết:
Tìm các phương án giải quyết và
thảo luận (tìm hiểu, nghiên cứu,
khảo sát, điều tra)
4.Quyết định
Quyết định trong nhóm về
phương án giải quyết.
5. Bảo vệ:
Các nhóm lập luận và bảo vệ
quyết định của nhóm.
6. So sánh:
So sánh các phương án giải quyết
Mục đích
Nắm được vấn đề và các tình huống cần
xác định.Tự nhận biết các quan hệ
chuyên môn
Học cách tự lực tìm kiếm thông tin, hệ
thống hóa và đánh giá thông tin.
Phát triển tư duy sáng tạo, tư duy theo
nhiều hướng, làm việc trong nhóm, hiểu
các ý kiến khác nhau, biết trình bày ý
kiến trong nhóm.
tỉnh Đồng Nai. Sau đó, tôi cho học sinh suy nghĩ về đoạn phóng sự đó. Học sinh
thảo luận về trường hợp điển hình và đánh giá, nhận xét để bảo vệ quyền lợi con
người cần phải như thế nào. Tôi kết luận. Từ đó học sinh rút ra pháp luật có vai
trò như thế nào đối với cuộc sống của mỗi con người. Sử dụng phương pháp
nghiên cứu điển hình làm cho bài học gần gũi, sinh động, dễ hiểu đối với học
sinh.
Đối với Bài 4: Công dân bình đẳng trong một số lĩnh vực của đời sống xã
hội: Tôi cho học sinh tìm hiểu câu chuyện về tình trạng bạo lực gia đình, cho
học sinh thảo luận về tình huống đó. Quyền và nghĩa vụ của mỗi người trong gia
đình được quy định như thế nào. Sau đó tôi nhận xét, kết luận. Từ đó giúp các
em hiểu được Luật hôn nhân và gia đình, biết sống có trách nhiệm. Với phương
pháp này học sinh rất hiểu bài vì đó là những tình huống có thật trong đời sống.
Đối với Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ bản: Với các nội dung:
Quyền bất xả xâm phạm về thân thể; Quyền được pháp luật bảo hộ về tính
mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm; Quyền bất xả xâm phạm về chỗ ở; Quyền
được bảo đảm an toàn về thư tín, điện tín; Quyền tự do ngôn luận. Tôi đưa ra
bài báo hoặc thông tin về những vi phạm đến quyền tự do cơ bản của công dân.
Sau đó tôi cho học sinh thảo luận về trường hợp đó. Cho học sinh nhận xét,
đánh giá. Sau đó tôi nhận xét, kết luận. Sử dụng phương pháp nghiên cứu
trường hợp điển hình ở bài này giúp học sinh phân biệt được những hành vi
đúng và hành vi xâm phạm quyền tự do cơ bản của công dân. Biết tự bảo vệ
mình trước các hành vi xâm phạm của người khác. Có ý thức bảo vệ quyền tự
do cơ bản của mình và tôn trọng các quyền tự do của người khác. Biết phê phán
các hành vi xâm phạm quyền tự do cơ bản của công dân.
Với bài học này, việc sử dụng phương pháp nghiên cứu điển hình rất sinh
động và có hiệu quả.
Trang 17
Trang 18
động, nhất là hoạt động nhóm.
- Giáo viên phải quan tâm đến nguồn tư liệu tham khảo của chủ đề dự án, trang
thiết bị cần thiết và địa điểm phù hợp cho hoạt động của giáo viên và học sinh.
- Việc thực hiện dự án ít nhiều liên quan đến kinh phí (in ấn, chi phí trong
quá trình thu thập tài liệu...) vì vậy giáo viên phải thường xuyên bám sát, điều
chỉnh tránh lãng phí, không cần thiết.
Dạy học theo dự án là một hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho học sinh
tổng hợp kiến thức từ nhiều lĩnh vực, áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế
cuộc sống. Đồng thời củng cố kiến thức và xây dựng các kỹ năng hợp tác, giao
Trang 19
tiếp và học tập độc lập, chuẩn bị hành trang cho học sinh học tập suốt đời và đối
mặt với các thử thách trong cuộc sống.
Ngoài việc lựa chọn kiến thức phù hợp, để thành công phương pháp này
còn đòi hỏi người giáo viên phải có kinh nghiệm trong việc tổ chức, hướng dẫn
cho học sinh các hoạt động khoa học để theo đúng định hướng, mục tiêu đề ra.
Thông thường khi thực hiện dạy học theo dự án, giáo viên phải tuân thủ các
bước sau đây:
Bước 1: Xác định chủ đề và mục đích của dự án:
Giáo viên và học sinh cùng nhau đề xuất ý tưởng, xác định chủ đề và mục
đích của dự án. Cần tạo ra một tình huống xuất phát, chứa đựng một vấn đề,
hoặc đặt một nhiệm vụ cần giải quyết, trong đó liên hệ với hoàn cảnh thực tiễn
xã hội và đời sống. Cần chú ý đến hứng thú của người học cũng như ý nghĩa xã
hội của đề tài. Giáo viên có thể giới thiệu một số hướng đề tài để học sinh lựa
chọn và cụ thể hoá. Trong một số trường hợp, ý tưởng về việc xác định đề tài có
thể xuất phát từ phía học sinh. Giai đoạn này còn được mô tả thành hai giai
đoạn là đề xuất ý tưởng và thảo luận về ý tưởng.
Bước 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện:
cần được thực hiện trong tất cả các giai đoạn của dự án. Với những dạng dự án
khác nhau có thể xây dựng cấu trúc chi tiết riêng phù hợp với nhiệm vụ dự án.
Giai đoạn 4 và 5 cũng có thể mô tả chung thành một giai đoạn.
Ví dụ: Chương trình GDCD lớp 12, tôi tổ chức, hướng dẫn học sinh thực
hiện các nhiệm vụ theo dạy học dự án ở Bài 6: Công dân với các quyền tự do cơ
bản.
Bài học này với thời lượng thiết kế là 4 tiết, với các kiến thức trọng tâm là:
Khái niệm, nội dung, ý nghĩa các quyền tự do cơ bản của công dân bao gồm:
Quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, quyền được pháp luật bảo
hộ về tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm và danh dự, quyền bất khả xâm phạm về
chỗ ở, quyền đảm bảo an toàn, bí mật thư tín, điện thoại, điện tín, quyền tự do
ngôn luận; Trách nhiệm của Nhà nước và công dân trong việc bảo đảm và thực
hiện các quyền tự do cơ bản của công dân. Khi dạy học bài này chúng ta không
đặt ra mục đích tìm hiểu tất cả các quyền tự do cơ bản của công dân, mà chỉ tìm
hiểu một số quyền tự do quan trọng đầu tiên đối với mỗi công dân. Đây là
những kiến thức mở rộng chung, bao trùm, có nội dung pháp lý phong phú
thuộc nhiều lĩnh vực nên việc sử dụng phương pháp dạy học theo dự án là một
thuận lợi. Tôi tiến hành cụ thể như sau: (thực hiện từ bước 1 đến bước 4 trước 2
tuần).
Bước 1: Xác định chủ đề và mục đích của dự án
Giáo viên nêu mục đích, yêu cầu, các bước tiến hành, nhiệm vụ chính cho
học sinh, sau đó cùng thống nhất chủ đề thực hiện dự án. Giáo viên có thể đưa
ra một số gợi ý về ý tưởng thực hiện cho học sinh tham khảo từ đó động viên,
khơi gợi tính sáng tạo, tò mò, khả năng tự học của các em.
Chủ đề dự án của bài 6 là công dân với các quyền tự do cơ bản, giáo viên
nêu mục đích yêu cầu về mặt nội dung, hình thức học sinh phải đạt được trong
dự án. Có thể các nhóm tự chọn cho mình một nội dung phù hợp để thực hiện
hoặc giáo viên sẽ giao nhiệm vụ cho từng nhóm. Việc thống nhất nội dung, hình
Trang 21
Phỏng vấn nhân vật cụ thể
để làm rõ nội quyền bất
khả xâm phạm về thân thể
công dân
Phiếu PV
Xây dựng tiểu phẩm, hoặc
tìm tài liệu cho nội dung
quyền tự do ngôn luận...
Tài liệu,
tranh ảnh,
số liệu…
Thời
hạn
hoàn
thành
1 tuần
Máy ảnh
Máy ghi âm
(Nếu có)
Sản
phẩm dự
kiến
Phiếu trả
đỡ, tư vấn kịp thời của giáo viên mà các nhóm đã có những ý tưởng trình bày
sáng tạo hơn như xây dựng tiểu phẩm, quay video, xây dựng tình huống giả
định...Vậy, để các sản phẩm của dự án có chất lượng thì người giáo viên cần đặc
biệt quan tâm tới bước thực hiện dự án để giúp học sinh điều chỉnh, bổ sung và
hoàn thiện một các tốt nhất.
Với cách tổ chức và hướng dẫn cho học sinh trong phương pháp dạy học
dự án như trên, tôi nhận thấy rằng đây là một sự thay đổi mạnh mẽ trong cách
dạy và học hiện nay, người giáo viên là người hướng dẫn, quan sát, chỉ đạo quá
trình học của học sinh, còn học sinh thực sự được tham gia vào quá trình tự học,
chủ động trong tìm hiểu kiến thức.
Dạy học theo dự án đã và đang là một phương pháp dạy học tích cực, hiện
đại, phù hợp với xu thế phát triển. Ngoài việc giúp cho người học chủ động, tích
cực trong việc tiếp cận kiến thức thì nó còn hình thành và hoàn thiện thêm một
số kĩ năng cơ bản, cần thiết cho người học. Chính vì lẽ đó mà dạy học theo dự
án đang được cả giáo viên và học sinh tiếp nhận một cách tích cực.
Việc trình bày sản phẩm là nhiệm vụ cuối cùng nhưng xét về mặt ý nghĩa
thì đây là nội dung mang tính quyết định cho sự thành công phương pháp dạy
học theo dự án.
Sản phẩm của dự án là những bài báo cáo, những kết quả thu thập được của
học sinh trong suốt quá trình tìm hiểm, thực nghiệm. Sản phẩm phải có bản in,
ngoài ra khuyến khích học sinh sử dụng thêm công nghệ thông tin hiện đại để
tăng tính sinh động và phong phú.
Việc đánh giá kết quả của dự án gồm các mặt sau:
+ Nội dung (tiêu chí) :giá trị của sản phẩm ...?
+ Bài học rút ra sau khi tiến hành dự án? (kiến thức, kĩ năng, thái độ,...)
+ Thái độ, ý thức làm việc tập thể như thế nào?
+ Sự thoải mái và tích cực tham gia ở mức độ nào?
Trang 23
sung của những điều Luật liên quan. Điều đặc biệt trong bài báo cáo là các em
đã có những chia sẻ thực tế của bản thân, những cảm xúc, suy nghĩ khi tham gia
hoạt động nhóm trong quá trình thực hiện dự án; thứ 2 là bản PowerPoint trình
chiếu. Trong bản trình chiếu sẽ giúp học sinh thể hiện được các tiểu phẩm,
video, các clip phỏng vấn... sinh động mà bản in không thể hiện hết được. Vì
điều kiện thời gian nên giáo viên không cần cho học sinh trình bày bản in mà
chỉ trình bày sản phẩm trên PowerPoint. Trong quá trình trình bày của nhóm,
giáo viên bao quát và nhắc nhở học sinh kịp thời để tiết học đảm bảo mục tiêu
đề ra.
Trang 24
+ Sau khi nhóm kết thúc báo cáo, giáo viên cho các nhóm còn lại nhận xét,
bổ sung về nội dung của dự án và phương pháp trình bày, hiệu quả của dự án.
+ Cuối cùng giáo viên nhận xét và đánh giá.
* Sản phẩm báo cáo tóm tắt của nhóm 1 lớp 12A2
BÁO CÁO THỰC HÀNH
Dự án: Công dân với các quyền tự do cơ bản
NHÓM I:
1. Phùng Bá Dũng (nhóm trưởng)
2. Nguyễn Thị Phương Thảo (thư ký)
3. Phan Viết Dũng
4. Trần Tiến An
5. Võ Thị Mơ
6. Hoàng Thị Nam
7. Nguyễn Minh Tuấn
8. Phạm Trọng Quân
KẾ HOẠCH NHÓM
Thành viên nhóm
dung...
Tranh ảnh minh họa các nội
dung bài học trong đó chủ
yếu tập trung vào nội dung 1:
quyền bất khả xâm phạm về
thân thể công dân...
Tranh ảnh, minh họa, tiểu
phẩm, hỗ trợ làm phỏng vấn,
máy tính...
Xây dựng tiểu phẩm, kịch
Thời gian
thực hiện
7/12 đến
28/12
Đánh
giá
7/12 đến
24/12
7/12 đến
21/12
7/12 đến
21/12
7/12 đến
21/12
7/12 đến