Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn quận 7, thành phố hồ chí minh - Pdf 65

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ NGỌC PHƯƠNG

NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI
PHẠM DO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI THỰC HIỆN TRÊN
ĐỊA BÀN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ TỘI TPH & PNTP

HÀ NỘI - 2019


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN THỊ NGỌC PHƯƠNG

NGUYÊN NHÂN VÀ ĐIỀU KIỆN CỦA TÌNH HÌNH TỘI
PHẠM DO NGƯỜI DƯỚI 18 TUỔI THỰC HIỆN TRÊN ĐỊA
BÀN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Ngành: Tội phạm học và phòng ngừa tội phạm
Mã số: 8.38.01.04

LUẬN VĂN THẠC SĨ TPH & PNTP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS NGUYỄN THỊ THANH THÙY


PHỐ HỒ CHÍ MINH............................................................................................ 58
3.1. Dự báo tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn Quận
7, Thành phố Hồ Chí Minh.................................................................................. 58
3.2. Các giải pháp khắc phục những yếu tố liên quan đến nguyên và điều kiện của
tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn Quận 7, Thành phố

Hồ Chí Minh........................................................................................................ 65
TIỂU KẾT CHƯƠNG 3....................................................................................... 77


KẾT LUẬN............................................................................................................ 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan những nội dung được trình bày trong luận văn là kiến thức
của bản thân tôi có được trong quá trình học tập, tham khảo, nghiên cứu tài liệu và
thực tiễn công tác dưới sự hướng dẫn của TS. Nguyễn Thị Thanh Thùy. Những
nội dung của các tác giả khác đã được trích dẫn và ghi chú theo quy định. Các số
liệu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Trần Thị Ngọc Phương


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
HSST:

Hình sự sơ thẩm


29

hiện trên địa bàn quận 7 giai đoạn 2015 – 2019 (so sánh
định gốc).

Bảng 2.4:

Cơ cấu về mức độ của tình hình tội phạm do người dưới

30

18 tuổi thực hiện trên địa bàn Quận 7 phân theo số dân
của 10 đơn vị hành chính cấp phường.

Bảng 2.5:

Cơ cấu về mức độ và hệ số tiêu cực, cấp độ nguy hiểm

31

của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện
trên địa bàn quận 7 giai đoạn 2015 – 2019 theo diện tích
10 đơn vị hành chính cấp phường.

Bảng 2.6:

Cơ cấu theo mục đích phạm tội

33


Số vụ phạm tội và số người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa

26

bàn Quận 7.


Biểu đồ 2.2:

Biểu đồ cơ cấu theo giới tính của người dưới 18 tuổi phạm
tội.

34

Biểu đồ 2.3:

Biểu đồ cơ cấu theo độ tuổi của người dưới 18 tuổi phạm

34

tội.


MỞĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quận 7 là một quận nội thành nằm ở vị trí chiến lược quan trọng, là trung
tâm kết nối các khu vực giao thương phía Nam thành phố. Quận 7 có hệ thống giao
thông tương đối phát triển góp phần thúc đẩy kinh tế của khu vực phía Nam. Nơi
đây quy tụ nhiều công trình về khoa học, giáo dục, thương mại, y tế với hàng loạt
các trung tâm thương mại sầm uất. Quận 7 là nơi thu hút rất nhiều đầu tư trong và

tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn Quận 7, Thành phố
Hồ Chí Minh”làm luận văn thạc sĩ chuyên ngành Tội phạm học và phòng ngừa tội
phạm.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nhằm đánh giá tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài,
tác giả chia các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài thành nhóm như sau:
2.1. Nhóm công trình nghiên cứu làm rõ lí luận cơ bản về nguyên nhân và
điều kiện của tình hình tội phạm
Thuộc về nhóm này, có thể kể đến các nghiên cứu tiêu biểu sau đây:
- Võ Khánh Vinh (chủ biên) (2011), Giáo trình Tội phạm học, Nxb Công an
nhân dân, Hà Nội.
- Dương Tuyết Miên (chủ biên) (2008), Giáo trình Tội phạm học, Nxb giáo
dục Việt Nam.
- Học viện Cảnh sát nhân dân (2013), Giáo trình Tội phạm học, Nxb Công an
nhân dân.
- Trường đại học Luật Hà Nội (2008), Giáo trình Tội phạm học, Lý Văn
Quyền chủ biên, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội.
- Nguyễn Văn Cảnh và Phạm Văn Tỉnh (2013), Một số vấn đề về tội phạm
học Việt Nam, Học viện cảnh sát nhân dân.
- Phạm Văn Tỉnh (2014), Bài giảng Tội phạm học, Học viện khoa học xã hội
- Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam.
- Trần Thị Thu Trang (2018), “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội
phạm về ma túy trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ
Luật học - Học viện khoa học xã hội.

2


- Lê Thu Huyền (2018), “Nguyên nhân và điều kiện tình hình tội cướp giật
tài sản trên địa bàn Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ luật học –


- Nguyễn Minh Đức (2014), Nguyên nhân, điều kiện người chưa thành niên
vi phạm pháp luật hình sự và giải pháp phòng ngừa, Nxb Tư pháp, Hà Nội.
- Trần Thị Thủy (2018), “Nhân thân người dưới 18 tuổi phạm tội trên địa
bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh”, Luận văn thạc sĩ luật học - Học viện khoa
học xã hội.
- Đỗ Xuân Hồng (2014), “Xét xử vụ án có bị cáo là người chưa thành niên theo
tố tụng hình sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ luật học - Đại học quốc gia Hà Nội.

- Đỗ Thị Bảo Ngọc (2019), “Các biện pháp tư pháp đối với người dưới 18
tuổi phạm tội theo pháp luật hình sự Việt Nam từ thực tiễn Quảng Trị”, Luận văn
thạc sĩ luật học - Học viện khoa học xã hội.
- Ngô Thị Tuyết Thanh (2018), “Chính sách hình sự Việt Nam đối với người
dưới 18 tuổi phạm tội: khía cạnh so sánh”, Luận văn thạc sĩ luật học - Học viện
khoa học xã hội.
- Phan Anh Dũng (2019), “Nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội trộm
cắp tài sản do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn tỉnh NinhThuận”, Luận văn
thạc sĩ luật học - Học viện khoa học xã hội.
Các công trình nghiên cứu trên nhìn chung đã phân tích những vấn đề lý luận
cơ bản liên quan đến tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện. Tuy nhiên,
giai đoạn vừa qua chưa có một công trình chuyên sâu nghiên cứu nào liên quan đến
nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện
trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Vì vậy, tác giả sẽ kế thừa những tri
thức về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm, những vấn đề liên quan
đến người dưới 18 tuổi phạm tội ở các địa phương nhất định trong các công trình
nghiên cứu của các tác giả đã nêu ở trên. Đồng thời dựa trên những cơ sở đó, tác giả
sẽ vận dụng đi sâu nghiên cứu về nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm
do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
Từ những thực tiễn về tình hình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện
trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 - 2019, tác giả sẽ đi sâu

do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh;
Bốn là, trên cơ sở nghiên cứu lý luận cũng như đánh giá thực trạng luận văn
sẽ đưa ra dự báo và đề xuất giải pháp phòng ngừa tình hình tội phạm do người dưới
18 tuổi thực hiện trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5


4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn có đối tượng nghiên cứu là những vấn đề lý luận và thực tiễn
nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện
trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh và đề ra các giải pháp hạn chế, loại
trừ những yếu tố này.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi về nội dung: Luận văn nghiên cứu về nguyên nhân, điều kiện của
tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn Quận 7, Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Phạm vi về không gian: Luận văn nghiên cứu trên địa bàn Quận 7, Thành phố
Hồ Chí Minh.
- Phạm vi về thời gian: Các số liệu thống kê được tác giả thu thập trong giai
đoạn từ 2015 đến năm 2019, gồm số liệu thống kê xét xử sơ thẩm và các bản án thu
thập trong giai đoạn này.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Đề tài nghiên cứu dựa trên cơ sở phép biện chứng duy vật của chủ nghĩa
Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan điểm của Đảng, chính sách pháp
luật của Nhà nước.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Ngoài ra, để giải quyết vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, luận văn
sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành khác như phương


pháp:
+ Phương pháp so sánh được sử dụng trong toàn bộ luận văn nhằm đối chiếu
những nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực
hiện từ đó tìm ra các biện pháp nhằm hạn chế, loại trừ những nguyên nhân và điều
kiện phù hợp, hiệu quả.
+ Phương pháp logic được sử dụng trong toàn bộ luận văn thể hiện sự liên
kết chặt chẽ giữa các nội dung, các phần của luận văn.
+ Sau mỗi tiểu mục, mỗi mục cuối của chương cũng như mục cuối của luận
văn tác giả sử dụng phương pháp tổng hợp để dưa ra kết luận trọng tâm về nội dung
7


đã phân tích. Những kết luận này là kết quả của quá trình tổng hợp những đặc điểm
và nội dung của vấn đề đã đề cập trước đó.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Luận văn đã thực hiện đạt được những kết quả như sau:
- Làm rõ thực trạng của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện
trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn từ năm 2015 - 2019.
- Góp phần vào việc lý giải, làm sáng tỏ những yếu tố thuộc về nguyên nhân
và điều kiện phạm tội do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn Quận 7, Thành
phố Hồ Chí Minh.
- Đề xuất các biện pháp góp phần nâng cao hiệu quả công tác phòng ngừa tình
hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ
Chí Minh.
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần củng cố lý luận và thực tiễn
đấu tranh phòng ngừa tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện trên địa
bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham
khảo cho sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh và các nhà nghiên cứu của
các trường.

thế bằng luật trẻ em năm 2016. Tại Điều 1 Luật trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em là
người dưới 16 tuổi” [24, Điều 1]. Theo quy định của pháp luật Việt Nam, người chưa
thành niên là dưới 18 tuổi, là những người chưa phát triển đầy đủ về thể chất cũng như
về tinh thần, bị hạn chế về nhận thức cũng như kinh nghiệm và kỹ năng sống. Những
người dưới 18 tuổi, đặc biệt từ giai đoạn 14 tuổi trở lên có tâm sinh lý chưa ổn định,
nhân cách chưa hoàn thiện, nhận thức về các vấn đề xã hội còn hạn chế, thậm chí là
còn sai lệch, thường có tính cách nông nổi, hiếu thắng, liều lĩnh, khó tự kiềm chế bản
thân khi có các yếu tố của ngoại cảnh tác động, dễ dẫn đến manh động và có các hành
vi bạo lực để đối phó, chống trả trước tác động của ngoại cảnh.
Ở lứa tuổi này, họ thường có những biểu hiện ra bên ngoài bằng các hành vi như ngang
bướng, cố chấp, dễ tự ái, gây gổ. Ngoài ra, họ có nhu cầu tìm hiểu, khám phá cái mới
nhưng nếu sự khám phá ấy thiếu sự quan tâm, định hướng của gia đình, nhà trường và
xã hội dễ trở thành nguyên nhân và điều kiện phạm tội của các em. Về nhận thức pháp
luật của các em còn nhiều hạn chế. Một phần không nhỏ những đối tượng

9


này thực hiện hành vi phạm tội chỉ để thỏa mãn nhu cầu không đúng đắn của cá
nhân, không quan tâm đến những hậu quả xảy ra là nguy hiểm cho xã hội. Điều này
xuất phát từ nhiều nguyên nhân, có thể do các em chưa có nhận thức được đúng,
sai, phải, trái nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là những thiếu sót, hạn chế trong
công tác giáo dục hiểu biết pháp luật của gia đình, nhà trường và xã hội.
Như vậy, theo các quy định trên, “trẻ em” là người dưới 16 tuổi; “người
chưa thành niên” là người dưới 18 tuổi. Như vậy, mọi trẻ em đều là người chưa
thành niên, người từ 16 đến dưới 18 không phải là trẻ em. TS. Nguyễn Văn Luật –
Nguyên Vụ trưởng Vụ pháp luật, Văn phòng Chính Phủ cho rằng: “Việt Nam đã
tham gia Công ước quốc tế về quyền trẻ em, vì vậy nên tuân thủ theo qui định của
Công ước về tuổi của trẻ em. Đơn giản vì, nếu điều ước 18 quốc tế mà Việt Nam là
thành viên có qui định khác so với pháp luật của nước ta thì thực hiện theo điều

phạm tội do cố ý hoặc phạm tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại các Điều 123, 134,
141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252,
265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 [22, Khoản 2, Điều 12]; đối với người từ
đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

Việc quy định độ tuổi như vậy là phù hợp với pháp luật quốc tế nâng cao
hiệu quả giáo dục, phòng ngừa tội phạm đối với các em được căn cứ dựa trên các
tiêu chí về đặc điểm tâm lý, thể chất và khả năng nhận thức của người dưới 18 tuổi;
căn cứ vào điều kiện kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội của Việt Nam; dựa trên cơ sở
tổng kết thực tiễn đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung và phòng, chống tội
phạm do người chưa thành niên thực hiện ở nước ta nói riêng; căn cứ vào việc tham
khảo các quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự của các nước trên thế giới.
1.1.1.2. Khái niệm nguyên nhân và điều kiện của tình hình tội phạm do
người dưới 18 tuổi thực hiện
Theo triết học Mác – Lênin mối quan hệ nhân quả là mối liên hệ được lặp đi lặp
lại nhiều nhất, phổ biến nhất. Do đó, mối liên hệ nhân quả là mối liên hệ đầu tiên được
phản ánh vào trong đầu óc của con người. Nguyên nhân là phạm trù chỉ sự tác động lẫn
nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật với nhau, gây ra những biến
đổi nhất định nào đó. Kết quả là phạm trù chỉ những biến đổi xuất hiện do sự tác động
lẫn nhau giữa các mặt trong một sự vật hoặc giữa các sự vật. [3] Nguyên nhân và điều
kiện của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện

11


được lý giải trên cơ sở tiếp cận phương pháp luận về mối quan hệ biện chứng giữa
nguyên nhân và kết quả của cặp phạm trù này. Vì mọi hiện tượng đều có nguyên
nhân xuất hiện
Theo GS.TS Võ Khánh Vinh: “Nguyên nhân của tình hình tội phạm là hiện
tượng xã hội tiêu cực ở trong mối liên hệ tương tác hai mức độ sinh ra và tái sản

tội phạm. Tùy vào cách tiếp cận nghiên cứu ta có thể chia nguyên nhân và điều kiện
của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện tại địa bàn Quận 7 thành các
nhóm như sau:
Thứ nhất, dựa vào tiêu chí về nguồn gốc xuất hiện có thể chia nguyên nhân
và điều kiện của tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện thành:
- Nguyên nhân và điều kiện bắt nguồn từ môi trường sống được coi là sự tổng
hợp những nhân tố tiêu cực được hình thành từ môi trường sống của cá nhân có thể tác
động, ảnh hưởng đến cá nhân đó ở mức độ nhất định, từ đó làm phát sinh tình

hình tội phạm do người 18 tuổi thực hiện. Trong phạm vi này tác giả đề cập đến
những nhân tố không thuận lợi từ môi trường sống trên địa bàn Quận 7 ảnh hưởng
đến việc hình thành và phát triển nhân cách người dưới 18 tuổi phạm tội.
+ Những yếu tố tiêu cực thuộc về môi trường gia đình:
Gia đình là tế bào của xã hội, là tổng hợp các mối quan hệ, ứng xử, giá trị nhân
cách, tình cảm, đạo đức, nghĩa vụ và trách nhiệm đối với cộng đồng, dân tộc. Gia đình
là tế bào tự nhiên, đồng thời là một đơn vị kinh tế của xã hội. Không có gia đình tái tạo
ra con người để xây dựng xã hội thì xã hội cũng không thể tồn tại và phát triển được.
Vì vậy, môi trường gia đình có ý nghĩa quyết định đối với việc hình thành nhân cách
của trẻ, là yếu tố có hảnh hưởng lớn nhất đến việc hình thành nhân cách của mỗi cá
nhân trong thời kì thơ ấu. Bởi, kể từ khi mới sinh ra, gia đình là môi trường đầu tiên mà
những đứa trẻ sinh sống, nhận thức của chúng mới bước đầu dần được hình thành, do
đó, những đứa trẻ sẽ học hỏi, bắt chước những hành vi của những người xung quanh
nó, bao gồm cả những hành vi tốt hay không tốt. Do đó, nếu như đứa trẻ sống trong
môi trường gia đình an toàn, lành mạnh, luôn chú trọng vào giáo dục nhân cách cho trẻ,
hướng trẻ sống thiện, trung thực, nhân hậu, vươn lên trong học tập, công việc thì sẽ hạn
chế hiệu quả việc hình thành nhân cách lệch lạc của cá nhân. Ngược lại, sống trong môi
trường gia đình không an toàn, không lành mạnh thì có thể tác

13



14


dân chủ và nhân ái, được tạo điều kiện phát triển phẩm chất và năng lực, không bị
tổn hại về thể chất và tinh thần, không có tệ nạn xã hội, không bạo lực. Ngoài ra,
yếu tố tinh thần còn thể hiện qua phương pháp dạy học, giáo dục học sinh của giáo
viên, các chuẩn mực nền nếp truyền thống trong nhà trường, giữa giáo viên với học
sinh, học sinh với học sinh, giáo viên với giáo viên.
Nhưng môi trường giáo dục hiện nay quá tập trung vào kiến thức sách vở,
nặng nề về lí thuyết mà thiếu sự giáo dục về kĩ năng sống, đạo đức nhân cách dẫn
đến học sinh thiếu hiểu biết về đạo đức, pháp luật, vấn đề tình dục, bạo lực học
đường… Do sự tác động của mặt trái của nền kinh tế thị trường, những mối quan hệ
thực dụng đang len lỏi vào môi trường giáo dục làm biến tướng quan hệ thầy trò.
Một bộ phận xã hội, gia đình, học sinh và giáo viên coi trọng giá trị vật chất hơn giá
trị tinh thần, lấy giá trị vật chất làm giá trị thước đo tinh thần. Sự thiếu quan tâm của
gia đình và xã hội, phó mặc cho nhà trường trong công tác giáo dục học sinh cũng
trở thành rào cản rất lớn dẫn đến việc giáo dục không đạt hiệu quả như kì vọng.
Không được giáo dục tốt những bài học về nhân cách dễ hình thành nhân thân xấu
như coi thường pháp luật, đạo đức, coi thường nhân phẩm, thân thể, tài sản của
người khác…
+ Những yếu tố tiêu cực thuộc về môi trường bạn bè
Cùng với cha mẹ, thầy cô thì bạn bè chính là người trẻ thường xuyên gần
gũi, tiếp xúc, có cùng quan điểm suy nghĩ với lứa tuổi. Đây chính là môi trường có
ảnh hưởng tới quan điểm, suy nghĩ, nhận thức, lối sống, thói quen, cách cư xử.
Nếu trẻ tiếp xúc với nhóm bạn bè tốt thì trẻ hình thành các đặc điểm nhân thân tích
cực như biết quan tâm, lo lắng, có kĩ năng sống, lễ phép, chăm học… Ngược lại
khi chơi với bạn bè xấu thích chơi bời, lêu lổng thì dễ nhiễm những thói hư tật xấu
như nghiện games, cờ bạc, ma tuý, bạo lực học đường…
+ Những yếu tố tiêu cực thuộc về môi trường kinh tế, xã hội vĩ mô

hợp những nhân tố tiêu cực thuộc về nhân thân người phạm tội có thể tác động, ảnh

hưởng đến việc phát sinh tình hình tội phạm do người 18 tuổi thực hiện. Những
nhân tố này bao gồm:
+ Sai lệch về sở thích, nhu cầu và cách thức thoả mãn nhu cầu
Mỗi con người là những thực thể riêng biệt có những nhu cầu, sở thích khác
nhau để đem lại cho con người niềm vui trong cuộc sống. Đa số những người phạm
16


tội là những người có ý thức sai lệch, nhu cầu không đúng chuẩn mực, đi ngược lại
với những giá trị đạo đức xã hội. Bên cạnh đó, họ có các sở thích không lành mạnh
như thích ăn diện, tham gia những cuộc chơi thác loạn…
+ Hạn chế về ý thức pháp luật và khả năng kiểm soát hành vi
Mỗi con người có một trình độ nhận thức về pháp luật khác nhau, không phải
ai cũng am hiểu về pháp luật và biết được hành vi của mình là vi phạm pháp luật.
Chính sự thiếu hiểu biết đã dẫn đến sự coi thường pháp luật, ý thức tuân thủ pháp
luật kém, chống đối pháp luật. Có những người mặc dù biết hành vi của mình là trái
pháp luật nhưng vẫn thực hiện, luôn đặt nhu cầu, sở thích và mục đích cá nhân cao
hơn pháp luật.
Thứ hai, căn cứ vào mức độ tác động của nguyên nhân và điều kiện trong việc
làm phát sinh tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện phân chia thành:

- Nguyên nhân và điều kiện chủ yếu làm phát sinh tình hình tội phạm do
người dưới 18 tuổi thực hiện là những nhân tố được coi là đóng vai trò quan trọng
trong việc làm phát sinh tình hình tội phạm do người dưới 18 tuổi thực hiện và
chiếm tỉ lệ đáng kể trong tổng số nhân tố làm phát sinh tình hình tội phạm do người
dưới 18 tuổi thực hiện.
- Nguyên nhân và điều kiện thứ yếu thì ngược lại so với nguyên nhân và điều
kiện chủ yếu đây là những nhân tố hạn chế và chiếm tỉ lệ không đáng kể trong tổng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status