Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận vốn ngân hàng đối với sự phát triển của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn quận 7 thành phố hồ chí minh - Pdf 43

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

ĐINH CÔNG DANH

GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
VỐN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Đồng Nai, 2012


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

ĐINH CÔNG DANH

GIẢI PHÁP NÂNG CAO KHẢ NĂNG TIẾP CẬN
VỐN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA TRÊN ĐỊA BÀN QUẬN 7
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH


ngân hàng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm hỗ trợ cho công việc phát
triển là vô cùng cần thiết.
Riêng đối với Quận 7- thành phố Hồ Chí Minh, qua 15 năm thành lập- được
đánh giá là một trong những khu vực phát thiển nhanh chóng và mạnh mẽ nhất của
một thành phố năng động và phát triển nhất của Việt Nam, điều đó cho thấy quá
trình hội nhập là một yêu cầu tất yếu và càng phải được thực hiện nhanh chóng,
mà trong đó việc ưu tiên phát triển DNNVV theo đúng hướng thông qua việc
vận dụng các lợi thế hiện có đóng vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của
Quận 7 nói riêng và thành phố Hồ Chí Minh nói chung.


2

Theo số lượng thống kê hiện tại của Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa
Việt Nam, trên 97% số lượng doanh nghiệp ở Việt Nam là các DNNVV, sử
dụng trên 30% tổng vốn đầu tư và hơn 50% số lao động trong các DN, tạo ra trên
40% số hàng hóa tiêu dùng và xuất khẩu, trên 47% GDP, đóng góp gần 40% ngân
sách Nhà nước, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc huy động nguồn lực
cho đầu tư phát triển và có ý nghĩa then chốt trong quá trình giải quyết các vấn đề
xã hội như xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm cho người lao động.
Tuy nhiên, các DNNVV còn có những khó khăn, hạn chế cần phải khắc
phục như trình độ công nghệ lạc hậu, năng lực quản trị còn yếu kém, khả năng tài
chính còn hạn hẹp, khó tiếp cận nguồn vốn tín dụng, thiếu liên kết, hợp tác giữa
các DN…
Các DNNVV trên địa bàn quận 7- Thành phố Hồ Chí Minh có đặc điểm
chung là vốn ít, kỹ thuật công nghệ còn lạc hậu, quy mô sản xuất nhỏ, chất lượng
sản phẩm thấp,..., nên rất khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm trên thị trường
trong và ngoài nước. Nhìn chung các DN trên địa bàn quận 7- hiện nay đang
gặp khó khăn thách thức trong quá trình hội nhập kinh tế, đặc biệt là khó khăn
về vốn để mở rộng sản xuất kinh doanh, phát triển doanh nghiệp, nhất là khả năng

+ Tìm hiểu những khó khăn trong việc tiếp cận nguồn vốn của các ngân
hàng thương mại đối với các DNNVV.
+ Trên cơ sở phân tích và kiểm định mô hình những nhân tố tác động đến
sự phát triển của DNNVV trên địa bàn quận 7, tìm hiểu mức độ ảnh hưởng của
nguồn vốn tín dụng đối với sự phát triển DNNVV, để từ đó gợi ý một số giải
pháp nhằm thúc đẩy và nâng cao khả năng tiếp cận nguồn vốn tín dụng của
DNNVV góp phần phát triển DNNVV và gia tăng tính cạnh tranh của doanh
nghiệp.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng: đối tượng nghiên cứu của đề tài là các DNNVV ngoài quốc doanh
trên địa bàn quận 7, TP.HCM


4

- Phạm vi: Địa bàn nghiên cứu tại Quận 7- TP.HCM
Đề tài giới hạn nghiên cứu các DNNVV trên địa bàn quận 7- TP.HCM
một cách tổng quát, không đi sâu nghiên cứu DNNVV ở một lĩnh vực hoạt động
cụ thể nào cả.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
- Phương pháp lý thuyết: Nghiên cứu cơ sở lý luận ở các tài liệu tham khảo, các
dữ liệu thứ cấp ở quận 7- Tp.HCM.
- Phương pháp chuyên gia: phỏng vấn, điều tra bằng phiếu khảo sát
chuyên gia, từ đó xây dựng bảng câu hỏi điều tra khảo sát doanh nghiệp. Sử
dụng các phương pháp khảo sát, thống kê, tổng hợp để phân tích và đánh giá
thực trạng các DNNVV tại quận 7- TP-HCM.
+ Xây dựng tiêu chí đánh giá, công cụ đánh giá và kết quả đánh giá: Luận văn
đưa ra phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, mô hình phân tích
nhân tố khảo sát kết hợp với phân tích bằng phần mềm Excel và kiểm định mô
hình hồi quy bằng phần mền SPSS; trong đó xây dựng Bảng câu hỏi để cho

Nội dung đề tài nghiên cứu được trình bày theo 03 chương chính.
 Chương 1: Cơ sở lý luận về DNNVV và vốn tín dụng ngân hàng đối với sự
phát triển của DNNVV.
Nội dung chương 1 đi vào tìm hiểu và phân tích các đặc điểm, vai trò
DNNVV, Vốn tín dụng ngân hàng trên các nghiên cứu cơ sở lý luận, Khái niệm
DNNVV, Kinh nghiệm hỗ trợ DNNVV của một số nước trên thế giới.


6

 Chương 2: Tổng quan thực trạng và phương pháp nghiên cứu về nguồn
vốn tín dụng ngân hàng đối với sự phát triển các DNNVV ở Quận 7 - TP.
Hồ Chí Minh
Nội dung chương 2 tập trung nghiên cứu, phân tích và đánh giá thực trạng của
các DNNVV ở Quận 7- TP.HCM hiện nay về
+ Về vốn tín dụng;
+ Các yếu tố khác
 Về trình độ kỹ thuật, công nghệ sản xuất;
 Về vấn đề đất đai và mặt bằng sản xuất đối với các DN sản xuất;
 Về khả năng cạnh tranh, trình độ của đội ngũ quản lý và lực lượng lao
động;
 Chương 3: Giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận vốn tín dụng ngân hàng
đối với sự phát triển DNNVV trên địa bàn Quận 7- TP. Hồ Chí Minh.
Nội dung chương 3 gợi ý và đề xuất một số giải pháp hỗ trợ tiếp cận vốn tín
dụng ngân hàng cho các DNNVV ở Quận 7- TP.HCM, bao gồm
 Giải pháp về tài sản đảm bảo
 Giải pháp về lãi suất cho vay
 Giải pháp về phương án sản xuất kinh doanh.
 Giải pháp về sự minh bạch trong báo cáo tài chính của DN.




Tín dụng trung và dài hạn gồm : Cho vay theo dự án, cho vay hợp vốn


8



Các hình thức tài trợ tín dụng chuyên biệt gồm: Cho thuê tài chính, bảo
lãnh ngân hàng

1.1.2. Vai trò của tín dụng ngân hàng đối với DNNVV
Trong nền kinh tế thị trường sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp
nhỏ và vừa là một tất yếu khách quan, trong quá trình hoạt động sản xuất kinh
doanh các DN sử dụng vốn tín dụng ngân hàng để đáp ứng nhu cầu về vốn cũng
như để tối ưu hoá hiệu quả sử dụng vốn của mình. Vốn tín dụng ngân hàng đầu tư
cho các DNNVV đóng vai trò rất quan trọng, nó chẳng những thúc đẩy sự phát
triển khu vực kinh tế này mà thông qua đó tác động trở lại thúc đẩy hệ thống ngân
hàng, đổi mới chính sách tiền tệ hoàn thiện các cơ chế chính sách về tín dụng,
thanh toán ngoại hối… Để thấy được vai trò của tín dụng ngân hàng trong việc
phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, ta xét một số vai trò sau:
+ Tín dụng ngân hàng góp phần đảm bảo cho hoạt động của các doanh
nghiệp nhỏ và vừa được liên tục.
Trong nền kinh tế thị trường đòi hỏi các DN luôn cần phải cải tiến kỹ thuật
thay đổi mẫu mã mặt hàng, đổi mới công nghệ máy móc thiết bị để tồn tại đứng
vững và phát triển trong cạnh tranh, trên thực tế không một DN nào có thể đảm
bảo đủ 100% vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh cho DN mình, do vậy vốn tín
dụng của ngân hàng đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp đầu tư xây dựng cơ
bản, mua sắm máy móc thiết bị cải tiến phương thức kinh doanh, từ đó góp phần

chiếm lĩnh ưu thế trong cạnh tranh trước các doanh nghiệp lớn trong nước và nước
ngoài là một vấn đề khó khăn, Xu hướng hiện nay của các doanh nghiệp này là
tăng cường liên doanh, liên kết, tập trung vốn đầu tư và mở rộng sản xuất, trang bị
kỹ thuật hiện đại để tăng sức cạnh tranh, tuy nhiên để có một lượng vốn đủ lớn
đầu tư cho sự phát triển trong khi vốn tự có lại hạn hẹp, khả năng tích luỹ thấp thì
phải mất nhiều năm mới thực hiện đượ, và khi đó cơ hội đầu tư phát triển không
còn nữa, như vậy có thể đáp úng kịp thời, các doanh nghiệp nhỏ và vừa chỉ có thể
tìm đến tín dụng ngân hang, chỉ có tín dụng ngân hàng mới có thể giúp doanh
nghiệp thưc hiện được mục đích của mình là mở rộng phát triển sản xuất kinh
doanh.


10

Ngoài ra, vốn TDNH còn góp phần nâng cao hiệu quả sủ dụng vốn, tránh
tình trạng sử dụng vốn sai mục đích, bảo đảm cho hoạt động của doanh nghiệp
được liên tục thuận lợi, góp phần nâng cao khẳ năng cạnh tranh của DN, giúp
doanh nghiệp hạn chế rủi ro.
Mặt khác, TDNH còn góp phần thúc đẩy hình thành thị trường tài chính của
khu vực kinh tế tư nhân, nhờ hoạt động tín dụng mà thị trường này được hình
thành và phát triển, đây là nơi giải quyết các quan hệ cung cầu về vốn nhằm thỏa
mãn nhu cầu phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, góp phần thúc đẩy quá trình
tích tụ và tập trung vốn, tư liệu sản xuất, khoa học công nghệ để phát triển khu vực
kinh tế tư nhân, nhờ có đồng vốn tín dụng của ngân hàng thương mại đã giúp họ
tăng trưởng, tăng lợi nhuận, ứng dụng công nghệ mới để tăng năng suất, hạ giá
thành sản phẩm, góp phần khai thác mọi tiềm năng về lao động, mở rộng sản xuất,
thuê nhiều nhân công, giải quyết việc làm tận dụng mọi nguồn lao động trong xã
hội. Nó cũng góp phần phát triển ngành nghề mới và các ngành nghề truyền thống,
các DNNVV thường có tính chất năng động trong xu thế hội nhập, việc tham gia
thị trường góp phần phát triển các ngành nghề truyền thống cũng như phát triển


Nhật Bản

Lĩnh vực kinh
doanh

Vốn sản xuất

Số lao

Doanh thu

kinh doanh

động

hàng năm

(USD)

(người)

(USD)

Sản xuất công nghiệp

Dưới 1 triệu

Thương mại- dịch vụ




12

Hàn Quốc

Sản xuất công nghiệp

Dưới 600.000

1- 299

50.000150.000

Thương mại- Dịch vụ < 20.000


cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm.
Bảng 1.2. Quy mô DNNVV tại Việt Nam

Quy mô
Khu vực

Doanh
nghiệp
siêu nhỏ
Số lao
động

Doanh nghiệp nhỏ

Doanh nghiệp vừa

Tổng
nguồn
vốn

Số lao
động

Tổng nguồn
vốn

Số lao động

Nông, lâm 10 người
nghiệp và trở xuống


từ trên 20 tỷ
đồng đến
100 tỷ đồng

từ trên 200
người đến
300 người

Thương mại 10 người
và dịch vụ
trở xuống

10 tỷ
đồng trở
xuống

từ trên 10
người đến
50 người

từ trên 10 tỷ
đồng đến 50
tỷ đồng

từ trên 50
người đến
100 người

Nguồn: Nghị định số 56/2009/NĐ-CP



15

hay giá trị gia tăng, đóng góp 30% giá trị xuất khẩu trực tiếp. Nhật Bản có khoảng
hơn 6 triệu DNNVV, chiếm tới 99,7% số doanh nghiệp của cả nước. Trung Quốc,
tổng số DNNVV là 39,8 triệu, chiếm 99% các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh
và 48,5% tổng số vốn kinh doanh.
Từ đó có thể thấy vai trò của DNNVV trong nền kinh tế là hết sức quan
trọng, thể hiện qua bốn yếu tố sau:
Thứ nhất, tạo được nhiều việc làm cho người lao động, góp phần xóa đói
giảm nghèo. Giải quyết vấn đề kinh tế- an sinh xã hội, tác động trực tiếp đến tốc
độ tăng trưởng kinh tế.
Thứ hai, đóng góp vào tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước –
GDP, đóng góp đáng kể vào thu ngân sách nhà nước, huy động được nhiều nguồn
vốn trong xã hội nhằm đầu tư và phát triển kinh tế.
Thứ ba, góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động
và phân công lao động giữa các vùng- địa phương, thu hút được ngày càng nhiều
lao động tham gia vào thị trường việc làm, chủ yếu tập trung vào các ngành phi
nông nghiệp, công nghiệp và giúp chuyển đổi cơ cấu kinh tế địa phương, cơ cấu
ngành, cơ cấu thành phần kinh tế, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế chung của
cả quốc gia.
Thứ tư, góp phần đào tạo lực lượng lao động cơ động, linh hoạt, giải quyết
việc làm tạo điều kiện cho người lao động tham gia sản xuất và phát triển
nguồn nhân lực.
Ngoài ra, DNNVV có một số đóng góp khác như: góp phần tạo môi
trường kinh doanh, tự do cạnh tranh đem lại lợi ích cho người tiêu dùng, đẩy
nhanh tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế; phát huy được tiềm lực trong nước
trong điều kiện nền kinh tế có xuất phát điểm với nguồn vốn thấp, trình độ khoa
học kỹ thuật lạc hậu, trình độ kỹ năng của lao động còn yếu, góp phần tạo lập

khả năng đổi mới sản phẩm khá nhanh trong điều kiện giới hạn về vốn và công nghệ;
hoặc có thể điều chỉnh phương án sản xuất kinh doanh một cách nhanh chóng khi
thị trường có sự biến đổi.
- Thứ tư: Năng lực xoay chuyển vòng vốn nhanh chóng, do nguồn vốn xuất


17

phát điểm không cao, yêu cầu để tồn tại là phải nhanh chóng thu hồi vốn để đưa
vào đầu tư sản xuất kinh doanh cho các đợt kinh doanh mới, giảm chi phí lãi suất
ngân hang hoặc sự truợt giá của tiền tệ, đa số các DN đều phải nhanh chóng thích
ứng trong thị truờng qua việc thu hồi vốn kinh doanh của mình nhằm duy trì sản
xuất kinh doanh.
1.4.2. Nhược điểm của DNNVV
- Thứ nhất: Hạn chế về vốn và khả năng huy động vốn. Nguồn vốn
hoạt động của các DNNVV có thể được trông đợi từ nhiều con đường khác nhau
như từ nguồn tự có, từ người thân, bạn bè, vay từ các tổ chức tín dụng hay từ thị
trường chứng khoán, tuy nhiên, thường các DNNVV chưa đủ mạnh, đủ uy tín và
niềm tin để có thể được vay vốn ở các ngân hàng thương mại và huy động trên thị
trường chứng khoán. Vì thế, các DN chỉ có thể huy động vốn từ người thân hoặc từ
các thị trường phi chính thức để đáp ứng nhu cầu của mình, đây cũng là lý do chính
tác giả chọn đề tài để phục vụ yêu cầu này.
- Thứ hai: Dễ xảy ra khả năng xung đột giữa lợi ích DN và lợi ích xã hội.
Đa số các DNNVV được hình thành bằng nguồn vốn tự có, vì thế mục tiêu hoạt
động của các doanh nghiệp bao giờ cũng đặt mục tiêu lợi nhuận trên hết vì lợi ích
của chính họ, điều này có thể làm tổn hại đến lợi ích của xã hội. Những biểu hiện
của xung đột lợi ích này khá phong phú và đa dạng như: ý thức chấp hành pháp
luật kém, thiếu quan tâm đến vấn đề môi trường; không công khai minh bạch tình
hình hoạt động của DN.
- Thứ ba: Dễ từ chối những lĩnh vực kinh doanh không đem lại lợi nhuận

việc đổi mới công nghệ.
Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng dành một sự chú ý đặc biệt với việc hỗ trợ tài
chính nhằm giúp các DNNVV tháo gỡ những khó khăn, cản trở việc tăng vốn trong
quá trình sản xuất kinh doanh như khả năng tiếp cận thấp, thiếu sự đảm bảo về vốn
vay... Các biện pháp hỗ trợ này được thực hiện thông qua ba thể chế tài chính thuộc


19

Chính phủ: Công ty Đầu tư kinh doanh nhỏ, Ngân hàng Hợp tác Trung ương về
Thương mại & Công nghiệp và Công ty Đầu tư an toàn quốc gia. Các hỗ trợ trên
có thể dưới dạng các khoản cho vay thông thường với lãi suất cơ bản hoặc các
khoản vay đặc biệt với những ưu đãi theo các mục tiêu chính sách, trong đó phải
kể đến kế hoạch cho vay nhằm cải tiến quản lý của các doanh nghiệp nhỏ không
đòi hỏi phải có thế chấp hoặc bảo lãnh. Ngoài ra, Hiệp hội bảo lãnh tín dụng còn
thực hiện bảo lãnh cho các DNNVV vay vốn của các tổ chức tín dụng tư nhân trên
cơ sở hợp đồng bảo lãnh. Hệ thống bảo lãnh đặc biệt này có chức năng như một
mạng lưới an toàn, nhằm giảm nhẹ những rối loạn về tín dụng và góp phần làm giảm
các vụ phá sản của DNNVV.
Ngoài ra, các DNNVV thực hiện đổi mới công nghệ sẽ được hưởng các chính
sách hỗ trợ cho hoạt động nghiên cứu và phát triển. Các khoản trợ cấp, bảo lãnh
vốn vay và đầu tư trực tiếp cho DNNVV được tiến hành theo các quy định của
Luật xúc tiến các hoạt động sáng tạo của DNNVV. Theo Luật này, các DNNVV
được hỗ trợ bởi các quỹ rủi ro thuộc các địa phương, còn Hệ thống nghiên cứu đổi
mới kinh doanh nhỏ Nhật Bản cung cấp tài chính cho DNNVV có hoạt động kinh
doanh mang tính chất đổi mới trong các giai đoạn đầu thiết kế sản phẩm hoặc các
quy trình sản xuất mới.
1.5.1.2. Singapore
Là một trong những quốc gia có diện tích nhỏ hẹp nhưng đảo quốc Singapore
có số lượng DNNVV chiếm 90% số doanh nghiệp được thành lập, riêng trong ngành

theo nguyên tắc hoạt động của quỹ là cùng chia sẻ rủi ro với các tổ chức tín dụng,
dựa vào đây các tổ chức tín dụng ngày càng tin tưởng hơn vào việc tài trợ vốn vay
đối với các DNNVV. Ngoài ra, Đài Loan còn áp dụng các biện pháp khác như
giảm lãi suất đối với những khoản vay phục vụ mục đích mua sắm máy móc thiết
bị, đổi mới công nghệ, phát triển sản xuất và nâng cao tính cạnh tranh, mặt khác
còn mời các chuyên gia đến giúp các DNNVV tối ưu hóa cơ cấu vốn và tăng
cường các điều kiện vay vốn.


21

1.5.1.4. Hàn Quốc
Hiện nay, với nền kinh tế được đánh giá xếp loại thứ 11 trên thế giới, Hàn
Quốc có trên 3.5 triệu DNNVV, chiếm 98% tổng số DN và thu hút hơn 13 triệu lao
động, chiếm 89% tổng số lao động cả nước, thể hiện tầm quan trọng của DNNVV
trong quá trình phát triển kinh tế-xã hội của Hàn Quốc. Để kích thích khu vực kinh tế
này phát triển, Chính phủ Hàn Quốc đã thực hiện nhiều chính sách, biện pháp như:
ban hành đạo luật khuyến khích hệ thống hợp đồng phụ để bảo vệ cho các DNNVV
trong mối quan hệ với DN lớn; Tổ chức hỗ trợ cho sự liên kết các DN trong ngành
công nghiệp nhằm giúp các DNNVV được ưu tiên thực hiện các hợp đồng sản xuất
các sản phẩm chuyên dụng của DN lớn và khuyến khích họ mua sản phẩm của
DNNVV, nhờ vậy mà các DNNVV duy trì ổn định hoạt động của mình và tạo điều
kiện để có sự liên kết tổ chức sản xuất giữa DN lớn và DNNVV. Đối với DN tiêu
thụ sản phẩm của DNNVV sẽ được vay 50% vốn, còn những DN giao hợp đồng
phụ sẽ được giảm thuế 10% nếu đầu tư vào các dự án thử nghiệm hoặc đầu tư vào
nâng cao kỹ thuật của DN thực hiện hợp đồng phụ.
Chính sách hỗ trợ về vốn, thuế, tín dụng cho DNNVV được coi là ưu tiên
tiếp theo trong chính sách phát triển DNNVV của nước này. Để hỗ trợ vốn cho
DNNVV, Chính phủ bắt buộc ngân hàng phải dành từ 35% toàn bộ vốn vay của
mình cho DNNVV, chính sách hỗ trợ về thuế bằng biện pháp cho ban hành chính

hỗ trợ phát triển DNNVV là khác nhau ở mỗi nền kinh tế, tùy theo tình hình kinh
tế-xã hội mà các nền kinh tế sử dụng linh hoạt chính sách hỗ trợ để phát triển
DNNVV một cách hiệu quả. Tuy vậy, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm thiết
thực cho phát triển DNNVV Việt Nam như sau:
- Mục tiêu hỗ trợ các DNNVV đều nhằm vào việc trợ giúp và tạo điều kiện
phát triển cho các DNNVV, giúp họ khai thác tốt hơn các tiềm năng kinh tế, đặc
biệt là các tiềm năng trong nước. Trước hết, hỗ trợ các doanh nghiệp phải có hiệu
quả, nghĩa là phải để tự doanh nghiệp nâng cao sức cạnh tranh trên thị trường, các
DN phải tự đứng vững trên đôi chân của chính mình, vai trò nhà nước chỉ mang tính
chất hỗ trợ chứ không bao cấp.


23

- Đa số các quốc gia đều hỗ trợ thuế, vốn, tín dụng, công nghệ thông tin cho
DNNVV với các hình thức chính là cấp tín dụng trực tiếp, cho vay với lãi suất
thấp, bảo lãnh tín dụng, trợ cấp nghiên cứu và phát triển,... Ngoài ra, có thể hỗ trợ
trong công tác marketing, phát triển thị trường, hỗ trợ về công nghệ, đào tạo bằng
các hình thức như chuyển giao công nghệ với giá ưu đãi hoặc hỗ trợ kỹ thuật của các
viện nghiên cứu, trực tiếp tổ chức các trung tâm đào tạo...
- Để phát triển khu vực DNNVV không chỉ cần có chương trình, chính sách hỗ
trợ, có quan điểm, chiến lược đúng đắn mà còn cần đến sự hợp tác chặt chẽ giữa
Chính phủ và cộng đồng doanh nghiệp, giữa các doanh nghiệp với nhau. Chính
phủ phải tạo nên môi trường hợp tác kinh doanh thuận lợi, tạo điều kiện cho các
DN đối thoại trực tiếp với chính phủ để trao đổi những khó khăn trong hoạt động
của DN. Điều này cho phép DNNVV hành động vừa độc lập, vừa kết hợp với nhau
để nâng cao sức cạnh tranh trong khu vực cũng như trên thị trường quốc tế. Chính
phủ phải có định hướng phát triển DNNVV rõ ràng, phù hợp với từng giai đoạn và
phải khuyến khích, điều tiết hợp lý bằng hệ thống chính sách linh hoạt và phù hợp
với yêu cầu của từng giai đoạn đó.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status