Một số giải pháp nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN nhỏ và vừa trên địa bàn Quận Bình Thạnh Tp.Hồ Chí Minh - Pdf 24

1
ĐẶT VẤN ĐỀ
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
- Vốn đối với một Doanh nghiệp (DN) là quyết định sự thành bại và phát triển
của DN đó. Các Doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV) rất khó tiếp cận những nguồn
vốn vay, nhất là từ các tổ chức tín dụng (TCTD). DNNVV muốn phát triển sản xuất
kinh doanh (SXKD) thì không thể tự mình đáp ứng được tất cả nhu cầu về vốn kinh
doanh mà cần phải có nguồn vốn bổ sung từ bên ngoài DN, do đó DNNVV rất cần hỗ
trợ nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng.
- Theo hiệp hội DNNVV, cùng nghiên cứu của phòng Thương mại và Công
nghiệp Việt Nam (VCCI) thì “Chỉ có khoảng 30% DNNVV tiếp cận được vốn vay từ
ngân hàng”. Số liệu từ Bộ Kế hoạch và Đầu tư công bố gần đây cũng khẳng định:
“chỉ có khoảng một phần ba DNNVV có khả năng tiếp cận vốn vay ngân hàng, số
còn lại khó tiếp cận hoặc không tiếp cận được. Không ít DN cho rằng, thủ tục các
ngân hàng đặt ra quá sức với họ, thậm chí ngay cả khi có chính sách ưu đãi của
Chính phủ cũng chỉ có rất ít số DNNVV vay được”.
- Để nền kinh tế đứng vững và phát triển trong giai đoạn đất nước đẩy nhanh quá
trình công nghiệp hóa thì DNNVV là thành phần không thể thiếu trong quá trình xây
dựng và phát triển bền vững.
- Để tìm ra một mô hình và đề xuất một số giải pháp bổ sung nguồn vốn vay
dùng cho SXKD của DNNVV nên Tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: Một số giải pháp
nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn vay để phát triển SXKD của các DN
nhỏ và vừa trên địa bàn Quận Bình Thạnh - Tp.Hồ Chí Minh, để thực hiện làm
đề tài luận văn tốt nghiệp cao học kinh tế của mình.
2. MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
2.1. Mục tiêu tổng quát Tìm hiểu về nguồn vốn SXKD và nhu cầu vốn cho sự
phát triển SXKD của các DNNVV tại Quận Bình Thạnh, Tp.Hồ Chí Minh. Từ đó
tìm ra những yếu tố tác động đến khả năng tiếp cận được các nguồn vốn vay từ các
TCTD và gợi ý một số giải pháp nhằm nâng cao khả năng tiếp cận các nguồn vốn
2
vay để phát triển SXKD cho các DNNVV tại Quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí

- Địa bàn nghiên cứu là một số DNNVV kinh doanh các ngành nghề trên địa
bàn Quận Bình Thạnh, Tp. Hồ Chí Minh. Đề tài nghiên cứu một số DNNVV hoạt
động các lĩnh vực theo phương pháp xác suất ngẫu nhiên tại một số DNVVV trên
địa bàn Quận để thực hiện việc khảo sát nghiên cứu.
3.2.3. Phạm vi về thời gian
- Số liệu thứ cấp sẽ được thu thập từ năm 2011 trở về trước để làm cơ sở lý
luận và thực tiễn. Số liệu thứ cấp qua các năm đã được công bố trên các phương
tiện truyền thông, báo cáo tổng kết từ UBND Quận Bình Thạnh, từ Tổng cục Thống
kê, Từ Phòng Kinh tế, Chi cục Thuế Quận Bình Thạnh, …
- Số liệu sơ cấp sử dụng trong việc thực hiện nghiên cứu đề tài được tiến hành
khảo sát thực tế tại các DN trên địa bàn quận Bình Thạnh. Khảo sát DNNVV về
việc khả năng tiếp cận nguồn vốn vay trong năm 2011 và nhu cầu vay vốn để phát
triển SXKD của DNNVV trong năm 2012 và các năm tiếp theo.
4. NÔI DUNG NGHIÊN CỨU
4.1 Cơ sở lý luận về vấn đề nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận chung về DNNVV, vai trò của nguồn vốn vay phát
triển SXKD của các DNNVV của những nước phát triển, cùng với các chủ trương
chính sách nhằm hỗ trợ vốn vay để phát triển SXKD của các DNNVV tại Việt
Nam. Trên cơ sở nghiên cứu nguồn vốn SXKD của các DNNVV trên địa bàn Quận
Bình Thạnh để từ đó đưa ra những gợi ý về giải pháp nhằm giúp cho DNNVV dễ
dàng tiếp cận các nguồn vốn vay từ các tổ chức tín dụng.
4.2 Thực trạng vấn đề nghiên cứu
- Đánh giá thực trạng hoạt động SXKD của các DNNVV và khả năng tiếp cận
các nguồn vốn vay của các DNNVV từ các TCTD để phát triển SXKD trên địa bàn
quận Bình Thạnh.
4
- Tìm ra những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận nguồn vốn vay từ
các TCTD ảnh hưởng như thế nào đến việc phát triển SXKD của DNNVV.
4.3 Giải pháp đề xuất
- Từ khảo sát về nhu cầu nguồn vốn vay sử dụng để phát triển SXKD của các

Doanh số
(Triệu EURO)
Tổng số tài sản
( Triệu EURO)
DN vừa Từ 51 đến 250 lao động 50 43
DN nhỏ Từ 1 đến 50 lao động 10 10
DN siêu nhỏ Từ 1 đến 9 lao động 2 2
“Nguồn : European Recommendation 0f 06 may, 2003”
Theo như Bộ Kinh tế, Tài chính và Công nghiệp Cộng Hoà Pháp (MEF) thì
“Không tồn tại một định nghĩa thống nhất về DNNVV. Các tiêu chí được áp dụng
6
khác nhau tuỳ thuộc vào các văn bản pháp quy liên quan đến chính sách hỗ trợ
DNNVV của các nước”.
Luật cơ bản về DNNVV của Nhật Bản ban hành ngày 03/12/1999 thì tiêu chí
để xác định DNNVV là:
Bảng 1.2. Tiêu chuẩn DNNVV của Nhật bản
Lĩnh vực Số lao động tối đa ( người) Số vốn tối đa ( triệu Yên)
Sản xuất 300 300
Bán buôn 100 100
Bán lẻ 50 50
Dịch vụ 100 50
“ Nguồn: Chính sách hỗ trợ phát triển DNNVV Nhật bản, JICA,MIP,1999”
Trong Nghị định 90/2001 NĐ-CP ban hành ngày 23/11/2001 của Chính phủ
Nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về trợ giúp phát triển DNNVV thì
“DNNVV là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp
luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỷ đồng hoặc số lao động trung bình
hàng năm không quá 300 người.” và các địa phương phải “Căn cứ vào tình hình kinh
tế - xã hội cụ thể của ngành, địa phương, trong quá trình thực hiện các biện pháp,
chương trình trợ giúp có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động
hoặc một trong hai chỉ tiêu nói trên.”

200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200
người đến 300
người
II. Công nghiệp
và xây dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến
200 người
từ trên 20 tỷ
đồng đến
100 tỷ đồng
từ trên 200
người đến 300
người
III. Thương mại
và dịch vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ đồng
trở xuống
từ trên 10
người đến

1.1.1.3 Khái niệm về tín dụng: Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng
là sản phẩm của nền kinh tế hàng hóa. Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái
kinh tế - xã hội. Quan hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã
nguyên thủy bắt đầu tan rã. Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là
đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa. Thời kỳ này, tín dụng được thực
hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa. Về sau, tín dụng đã chuyển
sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ.
Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn
tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính
cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất. Do hoạt
động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay
gọi là con nợ. Do đó, Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là
người cho vay, và một bên là người đi vay. Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ
chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả, Thực chất, tín dụng là
biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng
nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời
sống, theo nguyên tắc hoàn trả.
1.1.1.4 Đặc điểm, vai trò của tín dụng
a. Đặc điểm của tín dụng: Phân phối của tín dụng mang tính hoàn trả, Hoạt
động của tín dụng có sự vận động đặc biệt của giá cả.
b. Vai trò của tín dụng: Tín dụng là công cụ thúc đẩy quá trình tái sản xuất
mở rộng và góp phần điều tiết vĩ mô nền kinh tế, Tín dụng góp phần thúc đẩy quá
trình tích tụ và tập trung vốn, Tín dụng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông xã hội,
Tín dụng góp phần thực hiện chính sách xã hội.
c. Các loại tín dụng:
- Tín dụng thương mại: là quan hệ tín dụng giữa các doanh nghiệp dưới
hình thức mua bán chịu hàng hóa. Đây là quan hệ tín dụng giữa các nhà sản xuất -
kinh doanh được thực hiện dưới hình thức mua bán, bán chịu hàng hóa. Hành vi
mua bán chịu hàng hóa được xem là hình thức tín dụng - người bán chuyển giao
9

quốc tế, các cá nhân người nước ngoài và giữa các doanh nghiệp của các nước với
nhau.
1.1.2. Đặc điểm và Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế quốc dân
11
1.1.2.1 Đặc điểm của DNNVV trong nền kinh tế quốc dân
* Về các điểm mạnh
- DNNVV dễ khởi sự. Hầu hết các DNNVV có số vốn ít, số lao động không
nhiều, diện tích mặt bằng không lớn, các điều kiện làm việc giản đơn đã có thể bắt
đầu kinh doanh (KD) ngay sau khi có ý tưởng kinh doanh.
- Tính linh hoạt cao. Vì hoạt động với quy mô nhỏ cho nên hầu hết các
DNNVV đều rất năng động và dễ thích ứng với sự thay đổi nhanh chóng của thị
trường. Trong một số trường hợp các DNNVV còn năng động trong việc đón đầu
nhiều biến động đột ngột các thể chế, chính sách quản lý kinh tế xã hội, hay các dao
động đột biến trên thị trường.
- Có lợi thế trong việc duy trì và phát triển các ngành nghề truyền thống.
- DNNVV có lợi thể về sử dụng lao động: Quan hệ lao động trong các
DNNVV thường có tính chất thân thiện, gần gủi hơn so với các DN lớn. Do đó
người lao động thường dễ dàng được quan tâm, động viên, khuyến khích hơn trong
công việc.
* Về các điểm yếu: Bên cạnh các điểm mạnh được thì các DNNVV còn có
các điểm yếu nhất định như: DNNVV thiếu các nguồn lực để thực hiện các ý tưởng
kinh doanh lớn, hoặc các dự án đầu tư lớn, không có các lợi thế kinh tế theo quy mô
và bị yếu thế trong các mối quan hệ tín dụng với ngân hàng, với Chính phủ và báo
chí. Nhiều DNNVV bị phụ thuộc rất lớn vào các DN lớn trong quá trình phát triển
SXKD của DN mình.
1.1.2.2 Vai trò của DNNVV trong nền kinh tế quốc dân
Việt Nam cũng như nhiều trên thể giới, các DNNVV đóng vai trò rất quan
trọng trong việc thúc đẩy sự PTKT và có vai trò quan trọng trong mạng lưới SXKD
trên toàn cầu.
*Về khía cạnh kinh tế

thành phần kinh tế thay đổi nhờ sự tăng mạnh của các cơ sở kinh tế ngoài quốc
doanh và việc sắp xếp lại các DN nhà nước. Sự phát triển các DNNVV cũng kéo
13
theo sự thấy đổi của cơ cấu ngành kinh tế thông qua sự đa dạng hóa các ngành nghề
và lấy hiệu quả kinh tế làm thước đo. Việc phát triển các DNNVV còn có tác dụng
duy trì và thúc đẩy sự phát triển của các ngành nghề truyền thống và sản xuất ra các
SP mang bản sắc văn hóa dân tộc, khai thác thế mạnh của đất nước.
- Góp phần tăng cường và phát triển các mối quan hệ kinh tế
Các DNNVV hình thành và phát triển trong những ngành nghề khác nhau luôn
có mối quan hệ mật thiết với nhau và có mối liên kết với các DN lớn. Nhiều DN
nhỏ khi mới ra đời chỉ nhằm mục đích làm vệ tinh cung cấp các SP cho các DN
lớn. Mối quan hệ giữa DNNVV và các DN lớn cũng chính là nguyên nhân thành
công của nền kinh tế Nhật Bản trong nhiều thập kỹ qua. Do đó, khi các DNNVV
Việt Nam phát triển sẽ góp phần tăng cường các môi quan hệ liên kết hỗ trợ lẫn
nhau giữa các DNNVV và giữa DNNVV với các DN lớn. Nhờ đó mà các rủi ro
kinh doanh sẽ được chia sẽ và góp phần tăng hiệu quả kinh tế xã hội.
- Tạo cơ sở để hình thành các DN lớn.
Kinh nghiệm PTKT ở nhiều nước cho thấy hiện nay phần lớn các công ty và
các tập đoàn kinh tế đa quốc gia đều trưởng thành từ các DNNVV. Với cách xem
xét đó DNNVV chính là nguồn tích lũy vốn ban đầu và là cái nôi cho các DN lớn.
Hầu hết các cơ sở dân doanh ở Việt Nam khi mới ra đời do thiếu kinh nghiệm và
chưa thiệt hiểu biết về thị trường nên họ thường là chọn quy mô kinh doanh vừa và
nhỏ để bắt đầu sự nghiệp kinh doanh. Sau một thời gian tích lũy thêm vốn, kinh
nghiệm và khẳng định được vị thế của mình trên thị trường, họ mới tiến hành mở
rộng kinh doanh và phát triển với quy mô lớn hơn.
* Vê khía cạnh xã hội
- Tạo việc làm cho người lao động, góp phân giảm tỷ lệ thất nghiệp
Đặc điểm chung của các DNNVV là ít vốn và hoạt động chủ yếu trong các
ngành sử dụng nhiều lao động. Do dó, DNNVV ở tất cả các nướccó thể tạo công ăn
việc làm cho một sô lượng lớn người lao động. Nhiều nước trên thể giới, kể cả các

DN không có khả năng sinh lời vì chưa đem vào lưu thông, trở thành những nguồn
vốn lớn cung ứng cho các DN SXKD đang thiếu hụt nguồn vốn, từ đó tạo ra giá trị
15
gia tăng lớn hơn, mang lại lợi ích lớn hơn cho nền kinh tế và cho xã hội. Các TCTD
đóng một vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế và phát triển đất nước.
- TCTD góp phần thúc đẩy hình thành thị trường tài chính, tạo nguồn lực tài
chính để góp phần hỗ trợ cho các DNNVV. TCTD là nơi giải quyết các quan hệ
cung cầu về nguồn vốn cho các DN nhằm thoả mãn nhu cầu vốn cho việc phát triển
SXKD của các DNNVV.
- TCTD góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn, tài trợ cho DN
bổ sung tư liệu sản xuất, nâng cao khoa học công nghệ, ứng dụng công nghệ mới
vào hoạt động SXKD của DNNVV, tạo điều kiện để tăng năng suất lao động, tăng
lượng SP, giảm giá thành sản xuất, nâng cao lợi nhuận của DN.
- TCTD góp phần khai thác tiềm lực lao động của DNNVV, với nhu cầu phát
triển SXKD của DNNVV, có ngân hàng giải ngân, đáp ứng được nhu cầu về vốn,
DN có cơ hội mở rộng hoạt động SXKD, sẽ tăng thêm mua sắm máy móc thiết bị,
tuyển thêm nhân công lao động, từ đó thu hút được một lượng lao động đang dư dôi
trong xã hội, góp phần giải quyết việc làm, giảm tỷ lệ thất nghiệp.
- TCTD góp phần phát triển ngành nghề truyền thống, tạo điều kiện để phát
triển những ngành nghề mới. Ngày nay xu hướng hộp nhập quốc tế sâu rộng, các
ngành nghề truyền thống luôn được khuyến khích bảo tồn và phát triển, và cũng mở
ra những ngành nghề mới, đáp ứng nhu cầu đa dạng của thị trường tiêu dùng ngày
càng tăng. Những DNNVV là những DN dễ dàng thích ứng với khả năng nhạy cảm
của thị trường và TCTD là bà đỡ cho DNNVV.
Những nghiên cứu của các nhà kinh tế và của các chính phủ đã chỉ ra được
rằng DNNVV chính là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế và đổi mới DN. Ở Hoa
kỳ là quốc gia có rất nhiều tập đoàn kinh tế lớn, nhưng chính phủ Hoa kỳ vẫn rất
chú trọng quan tâm đặc biệt đến các DNNVV. DNNVV đã đóng góp vào việc thúc
đẩy tăng trưởng kinh tế nhưng DNNVV cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc tồn
tại và phát triển hoạt động SXKD, mở rộng thị trường và tăng trưởng. Với nguồn

vay được. Để hoàn thành công trình đầu tư và dự án dở dang, một số DN đành chấp
nhận lãi suất vay cao trong ngắn hạn, nhưng nhìn chung, nhiều DN khó trụ được lâu
17
dài với mức lãi suất cao này. Hơn nữa, các điều kiện cho vay của các ngân hàng
cũng rất khó khăn để tiếp cận nguồn vốn, dù lãi suất cao. Theo điều tra của Bộ Kế
hoạch đầu tư (KHĐT), có tới 1/3 DN vừa và nhỏ không thể tiếp cận nguồn vốn vay,
nên dầu tư và kinh doanh cầm chừng và 1/3 tuy có tiếp cận được nhưng gặp khó
khăn. Do đó, với các nguồn vốn vay lãi suất cao hiện trên 20%, các DN cần lựa
chọn phương án đầu tư và kinh doanh có hiệu quả cao nhất để có thể sử dụng các
nguồn vốn này, hoặc tạm thời chỉ sử dụng một số vốn vay lãi suất cao để mua các
trang thiết bị cần thiết nhất, tránh đầu tư tràn lan. Với đa số các DN đang gặp khó
khăn về huy động nguồn vốn cho SXKD đang sử dụng nhiều cách thức, biện pháp
được để tháo gỡ như kêu gọi liên doanh, liên kết giữa các thành viên trong hội để
đầu tư vào các dự án khả thi; giới thiệu để các thành viên của hội vay vốn ngân
hàng như lãi suất hiện nay nhưng được trả nợ theo cách thức khác nhau phù hợp với
điều kiện từng DN. Huy động thêm các nguồn vốn khác từ nội bộ cán bộ nhân viên
của DN và các hình thức liên kết khác để cùng nhau vượt qua giai đoạn khó khăn,
với những ưu đãi nhất định dành cho họ lâu dài sau này.
1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, GIẢI QUYẾT VẦN ĐẾ NGHIÊN CỨU
1.2.1. Kinh nghiệm hỗ trợ nguồn vốn vay để SXKD để phát triển SXKD
các DNNVV
1.2.1.1 Kinh nghiệm từ Thái Lan
Trước cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 thì Chính phủ Thái lan
chưa có những chính sách đủ mạnh để khuyến khích phát triển SXKD cho các
DNNVV. Tuy nhiên sau năm 1997 thì Thái lan đã có những chính sách cụ thể để hỗ
trợ Phát triển SXKD của DNNVV, đây là những DN chủ chốt trong quá trình phục
hồi kinh tế từ sau giai đoạn khủng khoảng của Thái lan. Những năm đầu của thập
kỹ 60 của thế kỹ 20, Thái lan đã có những chính sách trợ giúp cho DNNVV. Văn
phòng tài chính DN nhỏ đã được thành lập từ năm 1963 và được chuyển thành Tập
đoàn Tài chính DN nhỏ. Nội dung chủ yếu các chính sách DNNVV của chính phủ

kết cấu hạ tầng tương đối tốt và có giá trị gia tăng cao.
- Hoạch định chương trình hành động nhằm phát triển DNNVV. Chương trình
này đề ra 18 biện pháp cần phải thực hiện để phát triển DNNVV, gồm các biện
19
pháp: Trợ giúp Tài chính cho các DNNVV; Thành lập và phát triển thị trường vốn
cho DNNVV; Đào tạo Doanh nhân và người lao động; Hỗ trợ phát triển công nghệ
mới; Hỗ trợ nghiên cứu và tìm kiếm thị trường; Phát triển các liên kết giữa các
DNNVV với DN lớn; Phát triển các hiệp hội DNNVV; Phát triển DNNVV ở nông
thôn: sửa đổi các quy định pháp luật gây cản trở cho DNNVV.
1.2.1.2 Kinh nghiệm từ Đài Loan
Phát triển DNNVV ở Đài loan đã được chú trọng từ rất lâu, chính quyền Đài
loan đã ban hành và thực hiện một hế thống chính sách phát triển DNNVV toàn
diện và rất có hiệu quả. Ngày nay, điểm nhấn mạnh trong chính sách trợ giúp
DNNVV của Đài loan là hoàn thiện khung pháp lý và tạo dựng môi trường cạnh
tranh thuận lợi cho các DNNVV. Một số chính sách mà Chính quyền Đài loan thực
hiện như sau:
- Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý trợ giúp cho DNNVV phát triển.
Những năm gần đây Chính quyền Đài loan tiến hành sửa đổi một số luật nhằm tạo
điều kiện thuận lợi cho hoạt động SXKD của các DNNVV. Cụ thể là, vào năm 1997
đã bổ sung một điều khoản về DNNVV vào Hiến pháp Đài loan, sửa đổi Luật lao
động vào năm 1998 nhằm mở rộng việc thuê mướn lao động ngoài nước, sửa đổi
luật Quy chế phát triển DNNVV vào năm 1999, sửa đổi Luật đất đai cho phép
DNNVV tiếp cận dễ dàng hơn với đất đai, sửa đổi các văn bản pháp lý về bảo vệ
môi trường
Thời gian gần đây Chính phủ Đài loan đã thành lập “Nhóm đặc trách thúc đẩy
DNNVV”. Nhóm này có chức năng rà soát các điều luật và kiến nghị sửa đổi luật
để tạo điều kiện thuận lợi nhất cho việc hoạt động của DNNVV. Nhóm này cũng
được quyền tham gia, góp ý vàoquá trình soạn thảo mọi văn bản luật và quy định có
liên quan tới các DNNVV. Dựa trên việc tiến hành thu thập ý kiến của các chủ
DNNVV và thực hiện các báo cáo định kỳ về việc xây dựng và sửa đổi các điều luật

1.2.1.3 Kinh nghiệm từ Nhật Bản
Nội dung chủ yếu như sau:
- Cải cách pháp lý: Việc cải cách pháp lý được Chính phủ Nhật bản đặc biệt
quan tâm và là ưu tiên hàng đầu của Chính phủ. Luật cơ bản về DNNVV ban hành
năm 1999 để trợ giúp cho việc cải cách cơ cấu để tăng tính thích nghi của DNNVV
với những thay đổi của môi trường kinh tế - xã hội để giúp cho việc tái cơ cấu DN.
Luật tạo thuận lợi cho thành lập DN mới, Luật trợ giúp DNNVV đổi mới, Luật xúc
21
tiến các hệ thống phân phối có hiệu quả ở DNNVV và một hệ thống chính sách hỗ
trợ cũng được thiết lập nhằm hạn chế sự phá sản của các DNNVV
- Trợ giúp về nguồn vốn: Ba định chế tài chính thuộc Chính phủ là Công ty
Đầu tư KD nhỏ, Ngân hàng Hợp tác Trung ương về Thương mại và Công nghiệp,
Công ty đầu tư mạo hiểm quốc gia là những đầu mối để trợ giúp DNNVV về vốn.
DNNVV được vay vốn bằng các khoản vay thông thường với lãi suất cơ bản hoặc
là khoản vay đặc biệt với những ưu đãi theo các mục tiêu chính sách.
+ Hệ thống trợ giúp tăng cường cơ sở quản lý các DNNVV ở từng khu vực,
các khoản vay được thực hiện tuỳ theo điều kiện của từng khu vực thông qua một
quỹ chung từ chính quyền trung ương và các địa phương, và được ký quỹ ở một thể
chế tài chính tư nhân.
+ Kế hoạch cho vay để cải tiến quản lý của các DN nhỏ, không đòi hỏi phải
có thế chấp hoặc bảo lãnh.
+ Hệ thống bảo lãnh tín dụng giúp bảo lãnh cho các DNNVV vay vốn tại các
thể chế tài chính tư nhân. Hiệp hội bảo lãnh có chức năng mở rộng các khoản tín
dụng bổ sung và bảo lãnh tín dụng cho DNNVV. Hệ thống này được hoạt động từ
năm 1998 đến nay được xem là, có chức năng một mạng lưới an toàn để giảm nhẹ
những rối loạn vế tín dụng và giúp DNNVV tránh bị phá sản.
- Trợ giúp về công nghệ . DNNVV có thể được hưởng các chính sách trợ giúp
cho nghiên cứu và phát triển hoặc tiến hành các hoạt động KD dựa trên công nghệ
mới. Các khoản trợ cấp, bảo lãnh vay vốn, hay đầu tư trực tiếp cho DNNVV được
tiến hành theo các quy định của Luật xúc tiến các hoạt động sáng tạo của DNNVV.

1.2.1.5 Những chủ trương chính sách của nhà nước về Phát triển DNNVV
tại Việt Nam
Hệ thống thể chế hỗ trợ DNNVV tại Việt Nam hoạt động dưới sự chỉ đạo của
Thủ tướng được thành lập theo Nghị định 90/2001/NĐ-CP ngày 23/11/2001. Hội
đồng Khuyến khích phát triển DNNVV làm cố vấn cho Thủ tướng trong công tác
phát triển DNNVV do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm chủ tịch. Cục Phát
triển DNNVV là cơ quan điều phối chính sách liên quan tới DNVV ở cấp trung
ương đồng thời đóng vai trò là thư ký thường trực cho Hội đồng khuyến khích phát
triển DNNVV. Sở Kế hoạch và Đầu tư dưới sự chỉ đạo của Ủy ban Nhân dân tỉnh/
thành phố là cơ quan điều phối chính sách liên quan tới DNNVV ở cấp địa phương
đồng thời các Sở ban ngành khác cũng thực hiện các biện pháp hỗ trợ DNNVV. Các
cơ quan ban ngành của Chính phủ ở Trung ương phối hợp chặt chẽ với các tổ chức
23
đại diện cho khu vực tư nhân và các nhà cung cấp dịch vụ tư nhân cũng như nhà
nước hỗ trợ DNNVV nâng cao năng lực cạnh tranh.
Nguyên tắc cơ bản Hướng dẫn phát triển khu vực DNNVV ở Việt Nam được
tóm tắt theo (Quyết định Phê duyệt Kế hoạch phát triển DNNVV 2006-2010):
(1) Quan điểm của Đảng về phát triển kinh tế: “thực hiện nhất quán chính sách
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần. Các thành phần kinh tế kinh doanh theo
pháp luật đều là bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh”.
(Nghị quyết 14-NQ/TW, Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương Đảng
(Khoá IX) ngày 18 tháng 03 năm 2002 về tiếp tục đổi mới cơ chế, chính sách,
khuyến khích và tạo điều kiện phát triển kinh tế tư nhân).
(2) Nhà nước tạo môi trường về pháp luật và các cơ chế, chính sách thuận lợi
cho DN nhỏ và vừa thuộc mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng và cạnh tranh
lành mạnh nhằm huy động mọi nguồn lực trong nước kết hợp với nguồn lực từ bên
ngoài cho đầu tư phát triển.
(3) Phát triển DN nhỏ và vừa theo phương châm tích cực, vững chắc, nâng
cao chất lượng, phát triển về số lượng, đạt hiệu quả kinh tế, góp phần tạo nhiều

tượng dễ bị tổn thương nên nhiều chính sách trong thời gian qua đã tập trung hỗ trợ
tài chính DN, hỗ trợ các DN phát triển sản xuất, kinh doanh và lưu thông hàng hóa.
Còn theo Tổng thư ký, Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), TS
Phạm Thị Thu Hằng cho rằng, mặc dù Chính phủ có một số chính sách, chương
trình ưu đãi, hỗ trợ phát triển DN, nhưng các DNNVV còn chưa tiếp cận được hiệu
quả. Tỷ lệ DNNVV tham gia và các chương trình hỗ trợ của Chính phủ như:
Chương trình xúc tiến thương mại quốc gia, Quỹ đổi mới Khoa học Công nghệ v.v
còn rất khiêm tốn (dưới 10%). Do vậy, để hỗ trợ phát triển DNNVV Việt Nam trong
thời gian tới cần sửa đổi, xây dựng các văn bản luật, nghị định của Luật Chứng
khoán nhằm tạo điều kiện các DN sử dụng các kênh thu hút vốn khác như phát hành
trái phiếu nhằm giảm sự lệ thuộc vào thị trường tín dụng. Hoàn thiện mô hình Quỹ
Bảo lãnh tín dụng cho DNNVV cho phù hợp với tình hình mới nhằm trợ giúp
DNNVV tiếp cận nguồn cung tài chính phù hợp với điều kiện của DNNVV.
25
Theo Ông Tô Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội DNNVV Việt Nam, chính
phủ sớm thành lập Quỹ phát triển DNNVV để hỗ trợ tài chính phát triển DNNVV,
hình thành một nguồn kinh phí dành riêng hỗ trợ DNNVV mở rộng hoạt động
SXKD và nâng cao sức cạnh tranh, đặc biệt là dành kinh phí hỗ trợ DNNVV trên
một số lĩnh vực cần ưu tiên phát triển, khắc phục sự phân tán, chồng chéo, kém hiệu
quả khi sử dụng nguồn lực Nhà nước cho các chương trình hỗ trợ DNNVV. Kết
thúc buổi Hội thảo, TS Vũ Nhữ Thăng tổng kết những vấn đề quan trọng được đưa
ra để bàn luận tại Hội thảo trong đó tập trung vào những nội dung liệu chúng ta có
cơ chế nào để đánh giá một cách khách quan nhất, chính xác nhất tình hình khó
khăn của DN. Liên quan đến vấn đề ưu đãi thì nên giành ưu đãi vào đâu, trực tiếp
DNNVV hay vào các trung gian tài chính. Trong việc hoạch định chính sách cần có
sự phối hợp nhịp nhàng giữa các Bộ, giữa công cụ chính sách này với công cụ chính
sách khác để tạo ra được sự đồng bộ kích thích sự phát triển của DNNVV.
Hiện nay, các cơ quan đang gấp rút hoàn thiện để đưa ra một chương trình
hành động cho việc hỗ trợ DNNVV trong giai đoạn từ 2011 – 2015 và tầm nhìn
2020.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status