Nghiên cứu đặc trưng nguồn phát thải các chất BTEX trong không khí trong nhà tại khu vực hà nội và đánh giá ảnh hưởng của chúng đến sức khỏe con người - Pdf 65

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Nguyễn Xuân Trƣờng

NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƢNG NGUỒN PHÁT THẢI CÁC CHẤT
HỌ BTEX TRONG KHÔNG KHÍ TRONG NHÀ TẠI KHU VỰC HÀ
NỘI VÀ ĐÁNH GIÁ ẢNH HƢỞNG CỦA CHÚNG ĐẾN SỨC KHỎE
CON NGƢỜI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội – 2019


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
---------------------

Nguyễn Xuân Trƣờng

NGHIÊN CỨU ĐẶC TRƢNG NGUỒN PHÁT THẢI CÁC CHẤT
HỌ BTEX TRONG KHÔNG KHÍ TRONG NHÀ TẠI KHU VỰC HÀ
NỘI VÀ ĐÁNH GIÁ ẢNH HƢỞNG CỦA CHÚNG ĐẾN SỨC KHỎE
CON NGƢỜI

Chuyên ngành: Hóa môi trường
Mã số: 60440120

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN ..................................................................................................... 3
1.1. Ô nhiễm không khí ........................................................................................................... 3
1.1.1. Khái niệm .................................................................................................................. 3
1.1.2. Các nguồn gây ô nhiễm không khí ............................................................................ 3
1.2. Ô nhiễm không khí trong nhà ........................................................................................... 5
1.2.1. Khái niệm .................................................................................................................. 5
1.2.2. Các chất ô nhiễm BTEX trong nhà............................................................................ 6
1.3. Ảnh hưởng của BTEX đến sức khỏe con người ............................................................. 10
1.3.1. Benzen ..................................................................................................................... 11
1.3.2. Toluen ...................................................................................................................... 12
1.3.3. Etyl benzen .............................................................................................................. 12
1.3.4. Xylen ....................................................................................................................... 13
1.4. Các nghiên cứu trên thế giới và trong nước về ô nhiễm BTEX trong không khí. .......... 13
1.4.1. Tổng quan hai phương pháp lấy mẫu trên thế giới .................................................. 13
1.4.2. Các nghiên cứu trên thế giới về ô nhiễm BTEX trong không khí trong nhà và ngoài
trời ..................................................................................................................................... 15
1.4.3. Các nghiên cứu ở Việt Nam về ô nhiễm BTEX trong không khí trong nhà ........... 19
CHƢƠNG 2: THỰC NGHIỆM.............................................................................................. 23
2.1. Mục đích nghiên cứu và đối tượng nghiên cứu .............................................................. 23
2.1.1. Mục đích nghiên cứu ............................................................................................... 23
2.1.2. Đối tượng nghiên cứu .............................................................................................. 23
2.3. Thiết bị, dụng cụ lấy mẫu ............................................................................................... 24
2.4. Phương pháp và chiến dịch lấy mẫu tại các trường học ................................................. 25
2.4.1. Phương pháp lấy mẫu .............................................................................................. 25
2.4.2. Các bước lấy mẫu và vận chuyển ............................................................................ 26
2.5. Phân tích BTEX .............................................................................................................. 27
2.5.1. Phương pháp phân tích sắc ký khí khối phổ (GC – MS) ......................................... 27
2.5.2 Hóa chất, dụng cụ phân tích ..................................................................................... 29
2.5.3. Chuẩn bị dung môi CS2 ........................................................................................... 31
2.5.4. Quy trình phân tích BTEX bằng GC-MS ................................................................ 34

Bảng 1.8: Bảng so sánh giá trị nồng độ BTEX trong không khí trong nhà ở các khu
chung cư ở thành phố Hà Nội với các thành phố khác trên thế giới. ........................21
Bảng 2.3: Nồng độ các chất chuẩn BTEX ................................................................30
Bảng 2.4: So sánh kết quả diện tích pic trên sắc ký đồ .............................................33
Bảng 2.5: Nồng độ các chất chuẩn BTEX ................................................................37
Bảng 2.6: Phương trình đường ngoại chuẩn của các hợp chất BTEX ......................37
Bảng 2.7: Giá trị hệ số rủi ro ung thư và nồng độ tham chiếu của các hợp chất
BTEX ........................................................................................................................44
Bảng 3.1: Nồng độ tối đa cho phép của các hợp chất BTX đối với không khí ngoài
trời trong một giờ và một năm. .................................................................................45
Bảng 3.2: Nồng độ các hợp chất BTEX trong không khí trong nhà ở 9 trường mầm
non ở Hà Nội được thu thập vào mùa đông ..............................................................46
Bảng 3.3: Nồng độ các hợp chất BTEX trong không khí trong nhà ở 8 trường mầm
non ở Hà Nội được thu thập vào mùa đông sau khi loại bỏ trường S8 .....................48
Bảng 3.4: Nồng độ các hợp chất BTEX trong không khí trong nhà ở 7 trường mầm
non tại Hà Nội được thu thập vào mùa hè.................................................................49
Bảng 3.5: So sánh giá trị trung bình và trung vị của các hợp chất BTEX theo mùa
khác nhau...................................................................................................................51


Bảng 3.6: So sánh nồng độ trung bình của các hợp chất BTEX trong không khí
ngoài trời và trong nhà giữa các nghiên cứu trên thế giới ........................................53
Bảng 3.7: Tỷ lệ I/O của các chất BTEX khi có mặt trẻ em trong lớp học ................58
Bảng 3.8: Tỷ lệ giữa các hợp chất BTEX theo mùa .................................................60
Bảng 3.9: Hệ số tương quan Spearman giữa các hợp chất BTEX theo mùa ............62
Bảng 3.10: Đánh giá ảnh hưởng không gây ung thư và nguy cơ gây ung thư bởi các
hợp chất BTEX trong không khí trong nhà vào mùa đông (trong dấu ngoặc đơn là
mùa hè). .....................................................................................................................64
Bảng 3. 11: Đánh giá ảnh hưởng không gây ung thư và nguy cơ gây ung thư bởi các
hợp chất BTEX trong không khí ngoài trời vào mùa đông (trong dấu ngoặc đơn là


Benzene, Toluene, Etylbenzene, Xylene

BTX:

Benzene, Toluene, Xylene

FID:

Flame Ionization Detector (Đầu dò ion hóa điện tử)

GC:

Hệ thống sắc ký khí (Gas Chromatography)

IAQ:

Chất lượng không khí trong nhà (Indoor Air Quality)

IARC:

Cơ quan Nghiên cứu ung thư quốc tế (International Agency for
Research on Cancer)

MS:

Đầu dò khối phổ (Mass Spectrometry)

NIOSH:



Tổ chức y tế thế giới (World Health Organization)


MỞ ĐẦU
Ngày nay, vấn đề ô nhiễm không khí, đặc biệt là ô nhiễm không khí trong
nhà không chỉ còn là vấn đề riêng của quốc gia hay khu vực mà nó đã trở thành vấn
đề toàn cầu. Những loại khí ô nhiễm gây hại cho sức khỏe con người như bụi, CO2,
NO2, CO, SO2 và các loại hợp chất hữu cơ dễ bay hơi đã gây ra 1,6 triệu ca tử vong
mỗi năm. Trong đó, hầu hết những ca nhiễm độc cấp tính là trẻ em dưới 5 tuổi [37].
Ở các nước đang phát triển, tỷ lệ tử vong đến từ nguyên nhân ô nhiễm không
khí trong nhà là khoảng 3,7% khiến ô nhiễm không khí trong nhà trở thành nguyên
nhân gây tử vong nguy hiểm nhất sau suy dinh dưỡng, quan hệ tình dục không an
toàn, thiếu nước sạch và không có hệ thống vệ sinh đầy đủ, sạch sẽ [37].
Con người dành khoảng 90% cho các hoạt động ở trong nhà như: làm việc,
học tập, nghỉ ngơi, vui chơi, giải trí, thể thao …. Do đó, chất lượng không khí trong
nhà trở thành yếu tố quan trọng đối với sức khỏe và sự phát triển bền vững của mỗi
cá nhân và cộng đồng nói chung [37]. Bên cạnh đó, hệ hô hấp của trẻ em chưa phát
triển một cách đầy đủ nên các em là nhóm đối tượng nhạy cảm với các chất ô nhiễm
không khí hơn so với người trưởng thành, phần lớn thời gian hoạt động học tập, vui
chơi của trẻ diễn ra tại các trường học [36]. Hiện nay, chất lượng không khí trong
các trường học ngày càng thu hút được sự quan tâm của các nhà nghiên cứu, trong
một số trường hợp, kết quả chỉ ra rằng không khí trong nhà ô nhiễm hơn không khí
ngoài trời[7]. Trong các loại khí gây ô nhiễm, BTEX (benzen, toluen, etyl benzen,
xylen) là họ các hợp chất hữu cơ điển hình thuộc nhóm các hợp chất hữu cơ dễ bay
hơi (VOCs), có khả năng gây rủi ro đến sức khỏe của con người. Các hợp chất này
có thể gây ra các ảnh hưởng sức khỏe khác nhau như: kích thích mắt, mũi và họng,
đau đầu, buồn nôn, tổn thương gan, thận và hệ thần kinh trung ương. Cơ quan
Nghiên cứu Ung thư Quốc tế (IARC) đã phân loại bezen là chất gây ung thư cho
người người (nhóm 1) và etyl benzen có khả năng gây ung thư cho người (nhóm

CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN
1.1. Ô nhiễm không khí
1.1.1. Khái niệm
Trong bầu khí quyển của trái đất thì tầng đối lưu là gần mặt đất nhất - tầng
của gió bão. Tại tầng này, các chất ô nhiễm thường xuyên được rửa sạch bởi mưa và
tuyết rơi. Ô nhiễm không khí được hiểu chủ yếu như là sự thay đổi bất thường thành
phần và nồng độ của các chất trong tầng không khí gần mặt đất - tầng đối lưu [4].
Do đó, ta có thể chấp nhận một định nghĩa về ô nhiễm không khí như sau:
“Ô nhiễm không khí có nghĩa là đã có mặt một hoặc nhiều chất gây ô nhiễm
trong bầu không khí xung quanh như bụi, khói, hơi, khí hay mùi...với khối lượng,
tính chất và thời gian đủ để gây hại đối với sự sống của người hay động, thực vật,
hoặc tác hại tới của cải vật chất hoặc cản trở quá mức đối với sự tồn tại bình yên
của sự sống và của cải vật chất trên trái đất” [4].
Trong một định nghĩa tương tự: “Ô nhiễm không khí có nghĩa là sự có mặt
của một hay nhiều chất ô nhiễm hoặc sự phối hợp của chúng trong không khí ngoài
trời với khối lượng và thời gian đủ để gây hại hoặc có chiều hướng gây hại đối với
sự sống của người, động, thực vật hoặc của cải vật chất” [4].
1.1.2. Các nguồn gây ô nhiễm không khí
Trong thực tế, có hai nguồn gây ra ô nhiễm không khí, đó là nguồn ô nhiễm
tự nhiên và nguồn ô nhiễm nhân tạo ngắn liền với các hoạt động của con người [4].
Nguồn ô nhiễm tự nhiên: [4]
- Gió lốc, bão sa mạc: làm tăng hàm lượng bụi ở một thời điểm và một không
gian nào đó.
- Núi lửa phun, cháy rừng …: phát tán vào bầu khí quyển một lượng bụi và
khí khổng lồ.

3


- Hiện tượng phân hủy, thối rữa xác động thực vật xảy ra thường xuyên sẽ


độc tính cao

- Sử dụng các sản phẩm thuốc trừ dịch hại
- Giao thông vận tải
- Thuốc trừ sâu

Các hợp chất cơ

- Các cơ sở sản xuất hóa chất

clo

- Các cơ sở sản xuất giấy và bột giấy
- Khử trùng bằng clo và các hợp chất chứa clo hoạt động.
- Đốt nhiên liệu

Hydrocacbon

- Công nghiệp sơn và vật liệu phủ
- Các cơ sở sản xuất linh kiện điện tử cần làm sạch bằng dung

4


môi hữu cơ
- In ấn, sơn, vẽ…
- Các cơ sở sản xuất hóa chất hữu cơ
- Luyện cốc...
- Các cơ sở sản xuất hóa chất

trong nhà (Indoor Air Quality - IAQ) đề cập đến chất lượng không khí bên trong các
tòa nhà và công trình, đặc biệt là khi điều đó liên quan đến sức khỏe và sự tiện nghi
của người dân sinh sống trong tòa nhà. Sự hiểu biết và kiểm soát các chất ô nhiễm
có thể giúp giảm rủi ro của các vấn đề về sức khỏe do ô nhiễm không khí trong nhà
[3].
-

Ô nhiễm không khí trong nhà
Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển Kinh tế (OECD): Ô nhiễm không khí

trong nhà đề cập đến ô nhiễm hóa học, sinh học và vật lý của không khí ở trong nhà.

5


Điều đó có thể gây ra nhiều ảnh hưởng bất lợi cho sức khỏe. Các nguồn chính gây ô
nhiễm không khí trong nhà là bụi PM5, nitơ đioxit (NO2), sulfur đioxit (SO2),
cacbon monoxit (CO), focmaldehit và các hợp chất hydrocacbon đa vòng thơm
(PAHs). Ở các nước công nghiệp phát triển, ngoài NO2, CO và focmaldehit, còn có
amiăng, radon, thủy ngân, các loại sợi khoáng nhân tạo, các hợp chất hữu cơ dễ bay
hơi, chất gây dị ứng, khói thuốc lá, vi khuẩn và virut là các nhân tố chính gây ô
nhiễm[3].
1.2.2. Các chất ô nhiễm BTEX trong nhà
1.2.3.1. Tính chất hóa lý của BTEX
BTEX là cụm từ viết tắt của benzen, toluen, etyl benzen và xylen – là một
phần nhỏ của các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi (VOCs), thường được tìm thấy trong
thành phần của dầu khí như xăng, dầu thô, dầu diesel hoặc khí thải từ núi lửa và
cháy rừng. Các chất hữu cơ BTEX có cấu tạo như hình 1.1:

Hình 1.1: Các hợp chất thơm BTEX


p-Xylen

m-

o-

p-

CH3C6H4C CH3C6H4C CH3C6H4C
H3

H3

H3

Khối lượng
2

phân tử

87,12

92,15

106,17

106,17

106,17


0,867

0,864

0,88

0,86

3,0

2,3

-

2,4

2,4

2,4

Không

Không

-

Không

Không

-

0,232-

0,232-

0,248

0,248

0,232-0,248

Nồng độ
9

ngửi thấy 34 – 119
trong không

ppm

8 ppm

2 – 2,6
ppm

0,08 – 3,7 ppm

khí

10

- Phát sinh từ núi lửa và cháy rừng.
- Có trong dầu thô, xăng dầu và khói thuốc lá.
- Benzen được tạo ra chủ yếu từ dầu mỏ, được sử
dụng trong công nghệ sản xuất một số loại cao su,
dầu nhờn, thuốc nhuộm, chất tẩy rửa, thuốc bảo vệ

1

Benzen

thực vật.
Nhân tạo

- Benzen hiện diện trong không khí là do đốt than đá,
dầu, khí thải từ phương tiện giao thông, các trạm
xăng và khói thuốc lá. Đối với không khí trong nhà,
khói thuốc lá cũng là nguồn cung cấp benzen đáng
kể. Trung bình, 1 điếu thuốc lá thải ra từ 6 – 73 μg
benzen.

Tự nhiên

- Từ dầu thô và cây olu.
- Toluen được thêm vào trong quá trình sản xuất

2

xăng dầu và các nhiên liệu khác từ dầu thô, quá trình

Toluen

- Etylbenzen ứng dụng trong sản xuất stiren ở Mỹ và

3

Trung Quốc dùng làm monome để sản xuất nhựa

Etyl
benzen

Nhân tạo

polystiren, nó được tổng hợp từ benzen và etylen với
xúc tác axit. Một số sản phẩm có chứa etylbenzen:
xăng dầu, sơn, mực, thuốc bảo vệ thực vật, véc - ni,
thuốc lá.
- Dầu mỏ, nhựa than đá và nồng độ nhỏ trong quá

Tự nhiên

trình cháy rừng.
- Xylen phát sinh từ sản xuất công nghiệp: làm bao
bì, đóng tàu, nhiên liệu cho máy bay và các ngành

4

sản xuất có sử dụng xylen. Ngoài ra, xylen còn được

Xylen

phát hiện trong một loạt các sản phẩm tiêu dùng, bao

do hít vào sẽ qua màng phổi và đi vào máu. Trong máu, benzen di chuyển khắp cơ
thể và tích tụ trong tủy xương và mỡ. Trong gan và tủy xương, benzen bị chuyển
hóa thành các dẫn xuất như là phenol, muconic axit, S-phenyl-N-acethyl cysteine
(PhAC). Hầu như chúng ta có thể tìm thấy các chất chuyển hóa này trong nước tiểu
của người bị nhiễm sau khi bị phơi nhiễm trong vòng 48 giờ. Phơi nhiễm benzen
trong không khí trong khoảng thời gian 5-10 phút ở liều lượng 10.000-20.000 ppm
sẽ bị tử vong và ở liều lượng 700-3.000 ppm sẽ bị đờ đẫn, chóng mặt, tim đập
nhanh, nhức đầu, run, bấn loạn hoặc bất tỉnh. Trong hầu hết các trường hợp, các
triệu chứng trên sẽ mất đi sau một thời gian dài không bị phơi nhiễm và hít thở
không khí trong lành [32].
Tổ chức Nghiên cứu Ung thư Thế giới (IARC) và Cơ quan Bảo vệ Môi
trường Hoa Kỳ (US EPA) đã lần lượt liệt kê benzen thuộc nhóm I và nhóm A,
nhóm các chất gây ung thư nguy hiểm nhất đối với con người. Những người hít thở
benzen trong thời gian dài có thể bị gây tác hại cho mô, sự hình thành tế bào máu và
đặc biệt là xương tủy. Những ảnh hưởng này phá vỡ quá trình sản xuất máu bình
thường và giảm một số thành phần quan trọng trong máu. Lượng hồng cầu giảm
gây ra bệnh thiếu máu, bị chảy máu quá mức. Quá trình sản xuất máu có thể trở lại
bình thường sau khi ngưng phơi nhiễm benzen. Phơi nhiễm benzen quá mức có thể
gây hại cho hệ thống miễn dịch, làm tăng khả năng nhiễm trùng và giảm khả năng
phòng chống bệnh ung thư. Phơi nhiễm benzen thời gian dài có thể gây ung thư
những bộ phận hình thành máu còn gọi là bệnh bạch cầu. Việc phơi nhiễm benzen
có liên quan đến sự phát triển của một loại bệnh ung thư gọi là ung thư tủy cấp.
Ngoài ra, benzen có thể đi từ máu của người mẹ đến bào thai và tác động đến bào
thai và có các tác động giống với các tác động khi phơi nhiễm với người lớn [32].

11


1.3.2. Toluen
Con người có thể bị phơi nhiễm toluen từ nhiều nguồn như nước uống, thực


etylbenzen trong thời gian ngắn ở liều lượng cao có thể gây tổn thương mắt, gây tổn
thương màng nhầy ở mũi và thanh quản, nhức đầu, choáng váng, bất tỉnh. Tổ chức
Nghiên cứu Ung thư Thế giới đã xác định phơi nhiễm etylbenzen trong thời gian dài
có thể gây ra bệnh ung thư ở người [30].
1.3.4. Xylen
Xylen xâm nhập vào cơ thể người phần lớn qua đường hô hấp, qua đường ăn
uống và qua da thì ít hơn (chỉ khoảng 12% so với hấp thu vào phổi). Khi hít phải
xylen, khoảng 50-75% sẽ được hấp thu vào phổi. Sau đó, xylen vào máu và đi khắp
cơ thể. Hầu hết xylen sẽ được thải ra ngoài cơ thể sau 18 giờ kết thúc phơi nhiễm.
Khoảng 4-10% xylen có thể bị giữ lại trong mỡ một thời gian dài trước khi thải ra
ngoài [29].
Phơi nhiễm xylen ở hàm lượng cao trong thời gian ngắn có thể gây kích ứng
da, mắt, mũi, cổ họng, khó thở, suy giảm chức năng phổi, làm chậm các phản ứng
của thị giác, giảm trí nhớ, đau dạ dày và có thể một số thay đổi ở gan và thận. Đối
với xylen, khi bị phơi nhiễm ở liều lượng cao thì cho dù trong thời gian ngắn hay
dài đều ảnh hưởng đến hệ thần kinh, thiếu vận động cơ, chóng mặt, rối loạn và thay
đổi sự cân bằng của cơ thể. Một số trường hợp nhiễm xylen ở hàm lượng rất cao
trong thời gian ngắn đã bị tử vong, giảm trọng lượng và chậm phát triển xương, phụ
nữ mang thai khi nhiễm xylen ở liều lượng cao sẽ ảnh hưởng lên thai nhi. Tổ chức
Nghiên cứu Ung thư Thế giới và Cơ quan Bảo vệ Môi trường Hoa Kỳ đều không đủ
bằng chứng sau khi nghiên cứu thực nghiên cả trên người và xúc vật để chứng minh
xylen là chất gây ung thư ở người [29].
1.4. Các nghiên cứu trên thế giới và trong nƣớc về ô nhiễm BTEX trong không
khí.
1.4.1. Tổng quan hai phương pháp lấy mẫu trên thế giới
Các phương pháp lấy mẫu và phân tích hợp chất BTEX trong không khí được
dùng phổ biến trên thế giới là các phương pháp NIOSH 1501, phương pháp TO của
EPA ... [5]. Nhìn chung, có 2 phương pháp lấy mẫu chính là phương pháp lấy mẫu
chủ động và phương pháp lấy mẫu thụ động.

pháp lấy mẫu chủ động sử dụng trong luận văn là một hệ thống gồm: máy bơm hút
không khí với tốc độ thấp (0,2 lít/phút); mẫu khí được hút vào trong ống hấp phụ
chứa cacbon hoạt tính do hãng SKC, Mỹ sản xuất.

Hình 2.1: Dụng cụ lấy mẫu chủ động

14


Nguyên tắc hoạt động: mẫu không khí thực có chứa chất ô nhiễm họ BTEX
được hút vào trong ống thủy tinh có sẵn chất hấp thụ, ống than hoạt tính. Đồng thời,
điều chỉnh lưu lượng kế để lựa chọn tốc độ dòng phù hợp với mục đích nghiên cứu.
1.4.2. Các nghiên cứu trên thế giới về ô nhiễm BTEX trong không khí trong nhà
và ngoài trời
Theo thống kê, con người tại các thành phố lớn và tại các nước phát triển
ngày nay dành khoảng hơn 90% thời gian để làm việc và sinh hoạt trong các tòa nhà
[37]. Do đó, ô nhiễm không khí trong nhà có thể gây ra những rủi ro, tác động lâu
dài tới sức khỏe của con người. Hiện nay, trên thế giới có nhiều nghiên cứu được
công bố liên quan đến ô nhiễm không khí trong nhà như: Trung Quốc, Hồng Kông,
Mỹ, Canada, Tây Ban Nha …
Các nghiên cứu về chất lượng không khí ở các quốc gia đều phát hiện ra
nồng độ của hợp chất BTEX trong không khí trong nhà và nguồn phát sinh BTEX
gồm: quá trình đốt nhiên liệu hóa thạch, sử dụng khí gas, công nghiệp và hơi từ xe
cộ, sử dụng các chất khử mùi, chất đốt, tiêu thụ các sản phẩm có mùi thơm, sử dụng
tranh, các chất bám dính, hút thuốc lá hay từ các hoạt động giao thông. [29-32]
Theo một nghiên cứu của EPA cho 6 cộng đồng dân cư ở nhiều nơi khác
nhau trên lãnh thổ Hoa Kỳ cho thấy nồng độ của các hợp chất hữu cơ dễ bay hơi
trong nhà cao gấp 10 lần so với ngoài trời, ngay cả ở địa điểm có nguồn ô nhiễm
không khí ngoài trời đáng kể như gần nhà máy hóa dầu [35].
Năm 2012, BTEX được nghiên cứu tại 210 căn hộ ở Bắc Kinh, Trung Quốc,

Tại Hồng Kông, ở một loạt nghiên cứu ở các địa điểm trong nhà khác nhau
gồm có nhà ở, trường học, nhà hàng, trung tâm thương mại và văn phòng, chỉ có

16



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status