VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ HUY THỊNH
MIỄN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội, năm 2020
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VŨ HUY THỊNH
MIỄN TRÁCH NHIỆM BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG
HỢP ĐỒNG MUA BÁN HÀNG HÓA THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 8.38.01.07
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. PHẠM KIM ANH
Hà Nội, năm 2020
2.3. Miễn trách nhiệm do lỗi của bên có quyền ........................................... 39
2.4. Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại do các bên có thỏa thuận......... 42
Tiểu kết chương 2 ........................................................................................ 44
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN
PHÁP LUẬT VỀ CÁC TRƯỜNG HỢP MIỄN TRÁCH NHIỆM
BỒI THƯỜNG THIỆT HẠI TRONG HỢP ĐỒNG MUA BÁN
HÀNG HÓA ................................................................................................... 45
3.1. Thực tiễn áp dụng quy định pháp luật về miễn trách nhiệm bồi thường
thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa ................................................. 45
3.2. Một số giải pháp hoàn thiện pháp luật về miễn trách nhiệm bồi thường
thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa và tổ chức thực hiện nhìn từ góc
độ áp dụng pháp luật .................................................................................... 45
Tiểu kết chương 3 ........................................................................................ 70
KẾT LUẬN .................................................................................................... 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................ 73
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BLDS
Bộ luật dân sự
LTM
Luật thương mại
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong xu thế phát triển tự do hóa thương mại hiện nay, hoạt động mua bán
sự kiện bất khả kháng; Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên
kia; Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan nhà
nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm ký kết hợp
đồng; Trường hợp miễn trách nhiệm do các bên tự thỏa thuận [23].
Còn theo quy định của BLDS 2015, vấn đề miễn trách nhiệm bồi thường
thiệt hại không được quy định tập trung mà nằm rải rác trong các điều luật.
Nhưng tựu trung lại có ba trường hợp không phải chịu trách nhiệm bồi thường
thiệt hại trong hợp đồng là: do sự kiện bất khả kháng, hoàn toàn do lỗi của bên
có quyền và do các bên thỏa thuận [21].
Thứ nhất do sự kiện bất khả kháng, vấn đề này được quy định tại BLDS
2015, theo đó trường hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện đúng nghĩa vụ do
sự kiện bất khả kháng thì không phải chịu trách nhiệm dân sự [21, Điều 351].
Trong khi đó phần định nghĩa về sự kiện bất khả kháng lại được nêu tại Điều
156 BLDS 2015 “Sự kiện bất khả kháng là sự kiện xảy ra một cách khách quan
không thể lường trước được và không thể khắc phục được mặc dù đã áp dụng
mọi biện pháp cần thiết và khả năng cho phép” [21, Điều 156].
Thứ hai do lỗi của bên có quyền, theo đó “Bên có nghĩa vụ không phải
chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được
là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền” [21, Điều 351].
Thứ ba do các bên thỏa thuận, vấn đề này không được nêu một cách trực
tiếp mà ta phải tự suy ra thông qua điểm e khoản 2 Điều 398 BLDS 2015 quy
2
định về nội dung của hợp đồng thì hợp đồng có thể có điều khoản về “Trách
nhiệm do vi phạm hợp đồng” [21] trừ trường hợp tại khoản 3 Điều 405 BLDS
2015 “Trường hợp hợp đồng theo mẫu có điều khoản miễn trách nhiệm của bên
đưa ra hợp đồng theo mẫu, tăng trách nhiệm hoặc loại bỏ quyền lợi chính đáng
của bên kia thì điều khoản này không có hiệu lực, trừ trường hợp có thỏa thuận
trong hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam hiện nay có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn. Việc nghiên cứu có hệ thống, toàn diện những vấn đề lý luận và thực
tiễn của pháp luật về các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong hợp đồng mua bán hàng hóa sẽ đóng góp những tri thức đối với khoa học
pháp lý nói chung và hoàn thiện hệ thống pháp luật điều chỉnh các trường hợp
miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa nói
riêng, thúc đẩy nền kinh tế xã hội phát triển. Đây cũng là lý do mà người viết
lựa chọn đề tài “Miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán
hàng hóa theo pháp luật Việt Nam” để nghiên cứu và làm Luận văn Thạc sĩ
luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong phạm vi kiến thức và sự quan sát của tác giả, hiện nay chưa có nhiều
công trình nghiên cứu một cách tổng quát về các trường hợp đề miễn trách
nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa. Một số công
trình có đề cập đến vấn đề này nhưng không phải là phần chính yếu. Có thể kể
đến các công trình tiêu biểu sau đây:
Thứ nhất, nhóm các luận văn, luận án:
- Đề tài Khoa học cấp bộ “Vấn đề không thực hiện đúng hợp đồng trong
pháp luật thực định Việt Nam” của Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí
4
Minh, do tác giả Đỗ Văn Đại làm chủ nhiệm đề tài năm 2010. Đề tài làm rõ
những quy định của BLDS 2005, LTM 2005 và thực tiễn xét xử ở Việt Nam
liên quan đến việc không thực hiện đúng hợp đồng. Đặc biệt, đề tài tập trung
nhấn mạnh vào việc nghiên cứu những giải pháp liên quan đến xử lý việc không
thực hiện đúng hợp đồng đã được giao kết hợp pháp. Từ đó đưa ra các kiến
nghị nhằm hoàn thiện các quy định về không thực hiện đúng hợp đồng trong
pháp luật Việt Nam.
Thứ hai, nhóm các bài báo đăng trên các tạp chí khoa học chuyên ngành
như: Tạp chí Luật học, Tạp chí Khoa học Pháp lý...
Bài viết “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn đối với điều khoản bất khả
kháng trong hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế” của tác giả Nông Quốc Bình
năm 2012 – Tạp chí Luật học số 5/2012. Bài viết tập trung vào những vấn đề
mang tính lý luận và thực thực tiễn về điều khoản bất khả kháng như tiêu chí
xác định, cơ sở pháp lý để hưởng quyền miễn trừ, điều kiện để được hưởng
quyền thoát khỏi trách nhiệm trong trường hợp bất khả kháng và điều khoản
hardship trong hợp đồng, trên cơ sở phân tích những phán quyết tại Trung tâm
trọng tài quốc tế Việt Nam (VIAC).
Bài viết “Góp ý dự thảo BLDS (sửa đổi) về điều khoản miễn trừ trách
nhiệm và hạn chế quyền lợi trong hợp đồng” của tác giả Lê Nết năm 2005 –
Tạp chí Khoa học Pháp lý số 2/2005. Bài viết đã phân tích những mặt tồn tại
của các quy định trong BLDS 1995 về điều khoản miễn trách nhiệm và quyền
lợi trong hợp đồng. Trên cơ sở đó, đề xuất để hoàn thiện các quy định của
pháp luật.
Thứ ba, nhóm các sách chuyên khảo:
6
- Công trình “Giải quyết tranh chấp hợp đồng thương mại quốc tế, nhận
dạng tranh chấp, biện pháp ngăn ngừa và phương pháp giải quyết” của tác giả
Nguyễn Ngọc Lâm năm 2015. Công trình này đã cung cấp một cái nhìn tổng
quan về hợp đồng, nhận dạng những rủi ro tranh chấp tiềm ẩn trong hoạt động
thương mại nói chung cũng như ký kết hợp đồng thương mại nói riêng. Vấn đề
miễn trách nhiệm trong hợp đồng cũng được công trình này nhắc đến dưới góc
độ xem các trường hợp miễn trách nhiệm là biện pháp ngăn ngừa tranh chấp
trong hợp đồng thương mại quốc tế.
- Công trình nghiên cứu “Luật hợp đồng Việt Nam - Bản án và bình luận
trong LTM 2005.
- “Giáo trình luật thương mại quốc tế” của trường Đại học Luật Thành
phố Hồ Chí Minh năm 2015. Công trình này đã cung cấp những kiến thức cơ
bản về các vấn đề như: hợp đồng thương mại quốc tế, pháp luật về hoạt động
mua bán hàng hóa quốc tế, pháp luật về vận tải quốc tế, pháp luật về nhượng
quyền thương mại quốc tế, thanh toán quốc tế và giải quyết tranh chấp trong
kinh doanh quốc tế. Riêng vấn đề miễn trách nhiệm trong hợp đồng, giáo trình
đã nêu ra những kiến thức cơ bản trên cơ sở phân tích các quy định của pháp
luật Việt Nam và pháp luật quốc tế.
- “Giáo trình luật kinh tế” của tác giả Phạm Duy Nghĩa năm 2015. Giáo
trình đã đề cập đến hầu hết các lĩnh vực pháp luật cần thiết trong hoạt động
kinh tế như pháp luật về các loại hình doanh nghiệp, pháp luật về giải thể và
phá sản trong doanh nghiệp, pháp luật về hợp đồng, pháp luật về cạnh tranh,
pháp luật về tài phán kinh tế,… Công trình này đã vẽ nên một bức tranh toàn
cảnh về các vấn đề có liên quan trong đời sống kinh tế từ xưa đến nay trong xã
hội Việt Nam. Riêng vấn đề miễn trách nhiệm trong hợp đồng, giáo trình đã
8
nêu những vấn đề cơ bản về trường hợp miễn trách nhiệm do sự kiện bất khả
kháng và do thỏa thuận của các bên.
Nhìn chung các công trình, các bài viết nêu trên được tiếp cận, nghiên cứu,
nhận định và đánh giá dưới nhiều khía cạnh và ở các mức độ khác nhau về
những nội dung có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến pháp luật về miễn
trách nhiệm trong hợp đồng. Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu một
cách tổng thể về các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
hợp đồng mua bán hàng hóa. Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài “Miễn trách
nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa theo pháp luật
Việt Nam” là cấp thiết, không bị trùng lặp so với những công trình nghiên cứu
trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng
hóa.
Đồng thời nghiên cứu thực trạng các quy định pháp luật và thực tiễn áp
dụng pháp luật về các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
hợp đồng mua bán hàng hóa.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu làm rõ các vấn đề lý luận, đặc điểm và nội
dung cơ bản của pháp luật về các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt
hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa ở Việt Nam.
10
Về mặt nội dung, luận văn nghiên cứu liên quan đến một số nội dung cơ
bản của pháp luật về các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại
trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
Việc nghiên cứu pháp luật của các quốc gia khác trên thế giới chỉ mang
tính chất tham khảo, so sánh nhằm đánh giá những tiếp thu pháp luật quốc tế
có phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện kinh tế - xã hội ở Việt Nam hay không.
Về mặt thời gian, với đặc thù của hoạt động thương mại ở Việt Nam, đề
tài chỉ tập trung nghiên cứu pháp luật về các trường hợp miễn trách nhiệm bồi
thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa từ thời điểm LTM 2005,
BLDS 2015, Công ước Viên 1980.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin,
tư tưởng Hồ Chí Minh, về định hướng và giải pháp hoàn thiện các quy định
pháp luật về kinh tế thị trường và vai trò của nhà nước trong nền kinh tế thị
trường; về hội nhập kinh tế trong xu thế toàn cầu hóa, đa phương hóa.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa.
Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ là công trình khoa
học có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu, góp phần hoàn thiện hệ thống
pháp luật về các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp
đồng mua bán hàng hóa.
12
Ngoài ra luận văn còn có giá trị giúp bản thân tác giả nâng cao nhận thức
về lý luận, thực tiễn và có thể làm tài liệu tham khảo cho các cá nhân và tổ chức
muốn tìm hiểu về các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
hợp đồng mua bán hàng hóa, để từ đó vận dụng vào thực tiễn, nhằm bảo đảm
quyền và lợi ích hợp pháp của các bên trong hợp đồng nói chung và hợp đồng
mua bán hàng hóa nói riêng.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
có kết cấu làm 3 chương với những nội dung cơ bản như sau:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm bồi thường thiệt hại và
miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán hàng hóa
Chương 2: Các trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong
hợp đồng mua bán hàng hóa theo quy định của pháp luật Việt Nam
Chương 3: Thực tiễn áp dụng và kiến nghị hoàn thiện pháp luật về các
trường hợp miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong hợp đồng mua bán
hàng hóa.
13
CHƯƠNG 1
đầy đủ” hoặc “thực hiện không đúng”. BLDS 2015 không đề cập trực tiếp đến
khái niệm vi phạm hợp đồng nhưng thể hiện tinh thần đó trong phần “trách
nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự” theo đó vi phạm nghĩa vụ là việc
việc “không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn”, “thực hiện không đầy đủ nghĩa
vụ” hoặc “thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ” [21, Điều 351]. Với
quy định này ta thấy rằng LTM 2005 và BLDS 2015 có sự tương đồng khi quy
định về vi phạm.
Về phương diện học thuật, vi phạm hợp đồng được nhiều công trình
nghiên cứu đề cập.
Theo giáo trình luật thương mại tập 2 thì vi phạm hợp đồng là xử sự của
các chủ thể hợp đồng không phù hợp với các nghĩa vụ theo hợp đồng. Biểu hiện
cụ thể là không thực hiện hoặc thực hiện không đúng các nghĩa vụ trong hợp
đồng [5]. Với khái niệm, vi phạm hợp đồng chỉ bao gồm “không thực hiện”
hoặc “thực hiện không đúng” nghĩa vụ. Tuy nhiên khái niệm này chỉ tập trung
vào nghĩa vụ mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng nhưng lại bỏ qua nghĩa vụ
của các bên theo quy định của pháp luật. Mặc dù Điều 3 BLDS 2015 và Điều
11 LTM 2005 đều thể hiện tinh thần tôn trọng quyền tự do, tự nguyện thỏa
thuận trong hợp đồng tuy nhiên sự tự do thỏa thuận đó không được trái với các
quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đức xã hội. Chính vì thế việc
bỏ qua nghĩa vụ của các bên theo quy định của pháp luật trong khái niệm vừa
nêu là một sự thiếu sót.
Còn theo giáo trình Luật kinh tế thì vi phạm hợp đồng là hành vi của một
bên không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo các điều kiện
hợp đồng [17, tr 371]. Với khái niệm này vi phạm chỉ bao gồm “không thực
15
hiện” hoặc “thực hiện không đúng” nghĩa vụ. Đồng thời khái niệm sử dụng
cụm từ “điều kiện hợp đồng”, cụm từ này mang tính bao quát vì “điều kiện hợp
đồng” bao gồm bất kỳ điều kiện nào đã được các bên thỏa thuận cụ thể trong
Sở dĩ nói vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa là hành vi vi phạm “thỏa
thuận” giữa các bên trong hợp đồng là vì, khác các loại quyền và nghĩa vụ pháp
lý khác do nhà nước quy định, quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng
là do các bên tự mình tạo ra trên sơ sở thỏa thuận bình đẳng, tự do và tự nguyện.
Pháp luật thừa nhận sự ràng buộc pháp lý phát sinh từ những cam kết hợp pháp,
tự nguyện của các bên trong hợp đồng. Nói cách khác, hợp đồng là một sự kiện
pháp lý, mà trong đó các chủ thể bằng ý chí của mình tạo ra quyền và nghĩa vụ
ràng buộc pháp lý với các bên tham gia. Vì thế, vi phạm hợp đồng cũng là vi
phạm thỏa thuận giữa các bên.
Thứ ba, vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa là căn cứ để xác định trách
nhiệm vi phạm hợp đồng của các bên vi phạm.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng mua bán hàng hóa, tính hiệu quả mang
lại phần lớn phụ thuộc vào mức độ thiện chí, thái độ hợp tác của các bên. Tuy
nhiên, thực tế xảy ra không ít trường hợp có bên vi phạm hợp đồng làm ảnh
hưởng đến quyền và lợi ích của các bên còn lại. Chính vì vậy trách nhiệm do
vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa là một phần không thể thiếu để bảo vệ
quyền lợi của bên bị vi phạm.
Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng có thể được các bên tự thỏa thuận hoặc
do luật định. Điều kiện chung để phát sinh trách nhiệm do vi phạm hợp đồng
mua bán hàng hóa là có hành vi vi phạm hợp đồng của một bên hoặc cả hai bên.
17
Khi có vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa, pháp luật quy định các bên
có thể đồng thời áp dụng nhiều chế tài trong thương mại khác nhau đối với một
hành vi vi phạm. Các chế tài đó có thể là buộc thực hiện đúng hợp đồng, bồi
thường thiệt hại, phạt vi phạm, tạm ngừng thực hiện hợp đồng, đình chỉ thực
hiện hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng [23, Điều 292].
Các loại vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa
1.012.000.000 đồng và nợ lại số tiền 422.988.500 đồng. Đã quá thời hạn thanh
toán những công ty Phi Long vẫn không trả nợ dù công ty Hoàng Vỹ rất nhiều
lần yêu cầu thanh toàn tiền hàng. Vì vậy công ty hoàng vỹ khởi kiện yêu cầu
Tòa án buộc công ty Phi Long trả số tiền nợ mua dăm gỗ keo tràm là
422.988.500 đồng. Tại bản án sơ thẩm số 08/2019/KDTM-ST ngày 24/9/2019
của tòa án nhân thành phố Đông Hà, Tòa án đã quyết định, buộc công ty Phi
Long trả toàn bộ số tiền còn nợ cho công ty Hoàng Vỹ [34]. Qua ví dụ ta thấy
việc không trả tiền nợ đã vi phạm hợp đồng không thực hiện đúng nghĩa vụ
trong hợp đồng mà hai bên đã giao kết.
Thứ hai, Sự vi phạm hợp đồng đó phải là nguyên nhân dẫn đến hậu quả là
một bên không đạt được mục đích giao kết hợp đồng. Khi đã xác định được
một bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng thì ta mới tiếp tục xác định yếu tố cơ bản.
Vậy yếu tố cơ bản của vi phạm hợp đồng là gì? Căn cứ theo định nghĩa trong
LTM 2005 thì yếu tố cơ bản được giải thích là việc một bên không đạt được
mục đích của việc giao kết hợp đồng. Còn theo Công ước Viên 1980 tính cơ
bản được cho là thiệt hại đáng kể khiến một bên không đạt được những gì mà
họ mong đợi. Vậy ta thấy rằng sẽ rất khó khăn để có thể xác định tính cơ bản
trong vi phạm hợp đồng vì LTM 2005 không quy định như thế nào là mục đích
của việc giao kết hợp đồng, còn Công ước Viên 1980 cũng không giải thích rõ
19
sự mong đợi theo hợp đồng là gì. Vì vậy, việc xác định vi phạm nghĩa vụ hợp
đồng mua bán hàng hóa có cơ bản hay không sẽ do tòa án mà cụ thể là thẩm
phán hoặc cơ quan có thẩm quyền giải quyết tranh chấp cụ thể là trọng tài
thương mại quyết định căn cứ vào từng trường hợp, từng vụ tranh chấp cụ thể.
Ví dụ: Bản án kinh doanh, thương mại sơ thẩm số 356/2014/KDTM-ST ngày
07/4/2014 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 07/06/2011,
Công ty Cường Thịnh Phát (bên mua) và Công ty Ms Farlin Commodities (Bên
bán) ký kết hợp đồng mua bán hàng hóa số FARCOM/RCN/IVC/036/2011,