VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
LÃ TRƯỜNG ANH
TRÁCH NHIỆM CỦA CÁC TỔ CHỨC XÃ HỘI TRONG
BẢO VỆ QUYỀN LỢI CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG THEO
PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 9 38 01 07
LUẬN ÁN TIẾN SĨ LUẬT KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. BÙI NGUYÊN KHÁNH
Hà Nội, 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi.
Các số liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận án đảm bảo độ tin cậy, chính xác và
trung thực. Những kết luận khoa học của luận án chưa từng được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào.
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lã Trường Anh
MỤC LỤC
4.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật
về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu
dùng...............................................................................................................149
4.2. Giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách
nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở
Việt Nam hiện nay.........................................................................................152
KẾT LUẬN.................................................................................................. 172
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN
QUAN ĐẾN LUẬN ÁN……………………………………………….........140
TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................................... 176
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT
NTD
: Người tiêu dùng
XHCN
: Xã hội chủ nghĩa
TAND
: Tòa án nhân dân
BLTTDS
: Bộ luật Tố tụng Dân sự
không đúng như nội dung cam kết qua trang web, chương trình bán hàng trên
tivi, facebook...Nhiều trang web bán hàng lợi dụng việc mua hàng qua mạng
đã giao hàng không đúng như thông tin giới thiệu…
Với việc ký kết 16 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 11
hiệp định đã có hiệu lực thi hành, có thể nói chưa bao giờ Việt Nam lại mở
cửa, hội nhập quốc tế sâu và rộng như lúc này. Có thể khẳng định rằng, vấn đề
bảo vệ quyền lợi NTD không chỉ là vấn đề thời sự của mỗi quốc gia, mà còn
là vấn đề của khu vực và toàn cầu do tính xuyên biên giới của nó. Trong bối
cảnh đó, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách, văn bản quy
1
phạm pháp luật cũng như áp dụng nhiều biện pháp để thực thi có hiệu quả
nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi NTD trong điều kiện mới.
Tuy nhiên, điều cần nhấn mạnh là, trong bối cảnh cụ thể của Việt Nam
bên cạnh việc hoàn thiện thể chế, các mục tiêu bảo vệ quyền lợi NTD chỉ có
thể thực hiện được khi thiết lập các thiết chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
đầy đủ và hiệu quả. Kinh nghiệm quốc tế đã chứng tỏ rằng, sự hiện diện của
các thiết chế của Nhà nước trong bảo vệ quyền lợi NTD tuy cần thiết song
thiếu đầy đủ và toàn diện. Để thực thi hiệu quả nhiệm vụ bảo vệ quyền lợi
NTD trong điều kiện hội nhập sâu và rộng như hiện nay, cần phải thiết lập,
củng cố, tăng cường mạng lưới các tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi
NTD trong các lĩnh vực của đời sống xã hội.
Từ cách tiếp cận trên, Luật Bảo vệ quyền lợi NTD năm 2010 đã dành
một Chương quy định vai trò, vị trí của tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi
NTD. Tuy nhiên, do phải đối mặt với nhiều rào cản khách quan lẫn chủ quan,
đặc biệt là cơ chế tham gia nên trên thực tế, hoạt động của các tổ chức xã hội
vẫn gặp nhiều khó khăn và bộc lộ nhiều bất cập, chưa thực sự trở thành một
thiết chế hữu hiệu trong công tác bảo vệ người tiêu dùng ở nước ta hiện nay.
nhận được sự hỗ trợ về mặt tài chính của địa phương như Kiên Giang, Đồng
Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu… thì hoạt động của các Hội này được thực hiện rất
có hiệu quả, mang lại lợi ích thiết thực cho NTD. Các quy định pháp luật hiện
hành ở Việt Nam mới quy định cơ chế hỗ trợ tài chính cho hoạt động của tổ
chức bảo vệ NTD ở mức độ nguyên tắc và thiếu hiệu quả. Từ những phân tích
trên cho thấy, hoạt động của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của
người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay đang gặp những vướng
mắc, bất cập về hành lang pháp lý, đưa đến vai trò, trách nhiệm của các tổ
chức này trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng không được đề cao. Đây
cũng là lý do mà tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài: “Trách nhiệm của các
tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng theo pháp luật
Việt Nam hiện nay” để thực hiện Luận án Tiến sĩ luật học.
3
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1. Mục đích nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận án là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận
pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của
NTD; phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi trách
nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam
hiện nay; từ đó, đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật
về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD.
2.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích trên, tác giả xác định các nhiệm vụ nghiên cứu
như sau:
- Nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về trách nhiệm của các
tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo quy định của pháp luật;
- Nghiên cứu so sánh trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ
Để thực hiện được mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu, luận án dựa trên quan
điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác- Lê Nin, tư tưởng
Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng, nhà nước ta về chính sách và pháp luật
về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD.
4.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, tác giả sử dụng phương pháp nghiên
cứu cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích: được tác giả sử dụng khi đánh giá, bình luận
các quan điểm, các quy định của pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã
hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD… Phương pháp này được tác giả sử dụng
trong tất cả các chương của luận án, đặc biệt nhấn mạnh ở Chương 1, Chương
2, Chương 3 của luận án.
- Phương pháp tổng hợp: được tác giả sử dụng khi đánh giá nhằm rút
ra những kết luận tổng quan, những quan điểm, đề xuất và kiến nghị hoàn
thiện pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi
5
của NTD. Phương pháp này được tác giả sử dụng chủ yếu trong Chương 4 của
luận án.
- Phương pháp so sánh luật học: được tác giả sử dụng khi phân tích,
đánh giá các quy định pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong
bảo vệ quyền lợi của NTD hiện hành của Việt Nam trong mối tương quan với
các quy định pháp luật các nước nhằm làm sáng tỏ những điểm chung, sự
khác biệt, trên cơ sở đó gợi mở kinh nghiệm cho Việt Nam. Phương pháp này
được tác giả sử dụng chủ yếu trong Chương 2.
- Phương pháp thống kê: được tác giả vận dụng nhằm thu thập các văn
bản quy định pháp luật mới nhất về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong
bảo vệ quyền lợi của NTD; các công trình nghiên cứu về trách nhiệm của các
về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD. Chỉ ra
quá trình tham gia bảo vệ NTD của các tổ chức xã hội ở một số nước trên thế
giới. Đây là cơ sở, bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng pháp luật về trách
nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam
hiện nay. Ngoài ra, luận án còn nghiên cứu một cách toàn diện về thực trạng
điều chỉnh pháp luật và thực trạng thực hiện trách nhiệm của các tổ chức xã
hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD theo pháp luật Việt Nam hiện nay, bao
gồm trách nhiệm về: Phản biện và giám định xã hội; giáo dục NTD; đại diện
giải quyết khiếu nại của NTD; thay mặt khởi kiện dân sự vì quyền lợi của
NTD. Thông qua đó, đề tài đã phát hiện và chỉ ra: (i) Những ưu điểm và hạn
chế của pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền
lợi của NTD ở Việt Nam trong thời gian vừa qua; (ii) Những bất cập trong quá
trình áp dụng pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ
quyền lợi của NTD. Đề tài đưa ra các quan điểm, yêu cầu và đề xuất các giải
pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm
của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam hiện nay.
7
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Về mặt lý luận, luận án đã xây dựng, cung cấp cơ sở khoa học về mặt lý
luận, thực tiễn và pháp lý về trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ
quyền lợi của NTD ở Việt Nam hiện nay. Thông qua việc nhận diện đa chiều về
trách nhiệm của các tổ chức xã hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD; trên cơ sở
đánh giá thực trạng pháp luật và đưa ra các quan điểm, yêu cầu và giải pháp hoàn
thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm của các tổ chức xã
hội trong bảo vệ quyền lợi của NTD ở Việt Nam trong thời gian tới.
- Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo
Ở khía cạnh lí luận chung, những khái niệm, lí thuyết căn bản và
nguyên lí trong pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD được đề cập khá chi tiết
trong các nghiên cứu như:
- Báo cáo “Thực thi trách nhiệm bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của
các hiệp hội nghề nghiệp trong bảo vệ người tiêu dùng – cơ sở lý luận và thực
tiễn ở Việt Nam” của ThS. Viên Thế Giang và Lê Tuấn Tú tại Hội thảo “Các
tổ chức chính trị xã hội, xã hội nghề nghiệp, các tổ chức xã hội, cộng đồng và
quyền con người”: tác giả đã chỉ ra các tổ chức xã hội đã có nhiều nỗ lực
trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, thực thi tốt trách nhiệm của các
tổ chức xã hội, các hiệp hội nghề nghiệp là biện pháp bảo đảm quyền lợi cho
người tiêu dùng. Sự tham gia của các tổ chức xã hội, các hiệp hội nghề nghiệp
trong bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng sẽ tạo “thế lực cân bằng”, là đối trọng
tương xứng giữa người tiêu dùng và người cung ứng hàng hóa, dịch vụ.
- Đề tài cấp Bộ năm 2006 với tiêu đề: “Bảo đảm quyền của NTD trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta” của Viện
nghiên cứu con người – Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, do TS.
Tường Duy Kiên làm Chủ nhiệm đề tài. Đề tài đã phân tích và làm rõ cơ sở lý
luận về bảo đảm quyền của người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường định
9
hướng xã hội chủ nghĩa, cụ thể đề tài đã làm sáng tỏ khái niệm người tiêu
dùng, phân biệt người tiêu dùng với khách hàng.
- TS. Đặng Vũ Huân với bài viết “Pháp luật và vấn đề bảo vệ người
tiêu dùng” đăng trên Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số chuyên đề về pháp luật
và tiêu dùng tháng 1 năm 2005, bài viết tiếp cận vấn đề bảo vệ NTD theo kinh
tế học. Tác giả phân tích mối quan hệ kinh tế giữa NTD và tổ chức, cá nhân
sản xuất kinh doanh trong kinh tế thị trường, từ đó có thể thấy NTD giữ vị trí
rất quan trọng đối với nền kinh tế. Bài viết cũng đã chỉ ra một số nguyên nhân
dẫn đến quyền lợi của NTD chưa được bảo đảm. Trong đó, một trong những
Hội tiêu chuẩn và bảo vệ NTD Việt Nam. Đồng thời, cuốn sách cũng nêu lên
vấn đề xâm hại quyền lợi của NTD diễn ra ngày càng phổ biến và trầm trọng
ở nước ta, lý giải các nguyên nhân gây ảnh hưởng tới quyền lợi của NTD
cũng như đề ra các biện pháp để bảo vệ NTD hữu hiệu nhất.
- Cuốn “Bàn về tiêu dùng của Chủ nghĩa xã hội” của Trần Tri Hoằng,
Nxb Chính trị quốc gia, 1999 là công trình tiên phong nghiên cứu những vấn
đề mang tính lý luận về tiêu dùng. Cuốn sách đã tổng kết thực tiễn tiêu dùng
hơn 40 năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Trung Quốc, đặc biệt trong thời kỳ
cải cách, mở cửa từ năm 1978 đến nay dựa trên cơ sở lý luận của C. Mác- Ph.
ĂngGhen, V. I. Lê Nin về vấn đề tiêu dùng và tham khảo thành tựu lý luận về
tiêu dùng trong kinh tế học phương Tây. Trong cuốn sách này, ông đã trình
bày năm vấn đề lớn: Quan niệm về tiêu dùng; hệ thống tiêu dùng; cơ cấu tiêu
dùng; hành vi tiêu dùng và quyền lợi của người tiêu dùng. Tác giả tiến hành
tìm hiểu một cách toàn diện về lý luận cơ bản, các quy luật vận hành, diễn
biến, các quan hệ của tiêu dùng: giữa sản xuất với tiêu dùng, phân phối với
tiêu dùng, trao đổi với tiêu dùng. Ngoài những vấn đề mang tính lý luận về
tiêu dùng, tác giả cũng đã đề cập đến một số quyền của NTD như: quyền được
tìm hiểu; quyền được lựa chọn; quyền bảo đảm chất lượng, giá cả, an toàn,
cân đong; quyền sửa chữa, thay đổi, trả lại tiền và đòi bồi thường. Quyền của
NTD tuy chưa được đề cập và phân tích một cách đầy đủ, nhưng
11
đây có thể xem là sự gợi mở cho các công trình sau, kế thừa và tiếp tục làm rõ
hơn các vấn đề lý luận liên quan đến bảo vệ quyền lợi NTD.
- Iain Ramsay, Consumer Law and Policy: Text and Materials on
Regulating Consumer Markets: học giả đề cập sâu sắc về vai trò của Nhà
nước trong hoạt động bảo vệ quyền lợi NTD, các quan điểm, chính sách về
pháp luật bảo vệ NTD ở nhiều quốc gia trên thế giới trong bối cảnh khủng
hoảng kinh tế từ đó đưa ra các nhận định về cách thức xây dựng chính sách và
- Committee on Consumer Policy - Directorate for Science, Technology
and Industry-OECD, Best Practices for Consumer Policy: Report on the
Effectiveness of Enforcement Regimes: Nghiên cứu này xem xét chế độ thực thi
nào có hiệu quả về mặt chi phí trong việc đảm bảo tuân thủ nghiêm mặt pháp
lệnh về bảo vệ quyền lợi NTD được lập ra để ngăn ngừa các tổn thất tài chính.
Nghiên cứu đưa ra 5 mô hình để thực thi pháp luật bảo vệ NTD gồm: (i) Mô
hình dựa vào hệ thống pháp luật hình sự về xử phạt; (ii) Mô hình trong đó các
cơ quan hành chính chủ yếu sử dụng hệ thống pháp luật dân sự để đưa ra các
hình thức xử phạt và các biện pháp khắc phục hậu quả; (iii) Mô hình trong đó
các cơ quan hành chính có quyền áp dụng các biện pháp xử phạt tài chính;
(iiii) Mô hình chủ yếu dựa vào khiếu nại của NTD lên cán bộ thanh tra; (iv)
Mô hình chủ yếu dựa vào việc sắp xếp và thực thi các quyền hạn riêng. Qua
đó, học giả nghiên cứu phát triển một khung lý thuyết về đánh giá tính hiệu
quả về mặt chi phí của các phương án thực thi này thông qua các nghiên cứu
thực tiễn tại các quốc gia như: Anh, Australia, Bỉ, Hà Lan.
- Alternative consumer dispute resolution in the EU, Committee for
Consumer Affairs (CCA) - Social and Economic Council (SER): Báo cáo
nhìn nhận các cơ chế hiện tại như Quy định thành lập Trình tự giải quyết vụ
việc khiếu kiện nhỏ của EU (the Regulation establishing a European Small
Claims Procedure); Nghị quyết về Thương lượng (the Mediation Directive) và
Nghị quyết về bảo vệ lợi ích NTD (the Injunctions Directive) chưa tạo nên
chuyển biến thực sự tích cực trong hoạt động giải quyết tranh chấp tiêu dùng
ở Châu Âu. Theo báo cáo, rào cản lớn nhất trong việc sử dụng cơ chế phối
13
hợp ADR đối với các vụ việc vượt ra ngoài phạm vi lãnh thổ chính nằm ở sự
thiếu các thông tin cần thiết về địa lý, lĩnh vực, đặc điểm giao dịch đặc biệt
trong hoạt động thương mại điện tử.
Việt Nam”, NXB Chính trị - Hành chính, năm 2009; Nguyễn Khắc Mai, “Vị
trí, vai trò các hiệp hội quần chúng ở nước ta”, NXB Lao động, năm 1996.
Có một số công trình nghiên cứu đã xác định tầm quan trọng của Tổ
chức bảo vệ quyền lợi NTD - là tổ chức xã hội, đại diện để bảo vệ quyền lợi
NTD theo quy định của pháp luật – trong công tác bảo vệ NTD hiện nay. Xây
dựng được cơ sở lý luận và điều kiện để khẳng định vai trò quan trọng của Tổ
chức bảo vệ quyền lợi NTD trong việc đảm bảo quyền lợi NTD. Đề xuất một
số vấn đề nâng cao năng lực của tổ chức này, mà trước hết cần phải luật hóa
vai trò của các tổ chức bảo vệ NTD như báo cáo tại Hội thảo quốc tế và
KASS tổ chức năm 2008 của tác giả Phan Huy Hồng: Vai trò của các tổ chức
bảo vệ NTD ở Việt Nam (2008): Bài viết xác định tầm quan trọng của Tổ chức
bảo vệ quyền lợi NTD - là tổ chức xã hội, đại diện để bảo vệ quyền lợi NTD
theo quy định của pháp luật – trong công tác bảo vệ NTD hiện nay. Bài viết
xây dựng được cơ sở lý luận và điều kiện để khẳng định vai trò quan trọng
của Tổ chức bảo vệ quyền lợi NTD trong việc đảm bảo quyền lợi NTD. Trên
cơ sở đó, đề xuất một số vấn đề nâng cao năng lực của tổ chức này, mà trước
hết cần phải luật hóa vai trò của các tổ chức bảo vệ NTD.
- PGS.TS. Nguyễn Thị Vân Anh (2012), Vai trò của Hội bảo vệ người
tiêu dùng trong việc bảo vệ người tiêu dùng, NXB Chính trị quốc gia – Sự
thật: tác giả đã đưa ra các cơ sở pháp lý của việc xác định vai trò của Hội bảo
vệ NTD trong việc bảo vệ quyền lợi của NTD. Tiếp đến, tác giả trình bày quá
trình hình thành và các hoạt động của Hội Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Việt Nam.
- TS. Thang Văn Phúc và TS. Nguyễn Minh Phương (đồng chủ biên):
Phát huy vai trò của các tổ chức xã hội ở Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia –
Sự thật (2012); TS. Thang Văn Phúc và TS. Nguyễn Minh Phương (đồng chủ
biên): Vai trò của các tổ chức xã hội đối với phát triển và quản lý xã hội,
15
trên thế giới như Thái Lan, Ấn Độ, Trung Quốc, Anh, Mỹ, Canada, Hướng
16
dẫn của Liên Hợp Quốc về bảo vệ NTD, của Tổ chức quốc tế NTD... Từ
những quy định cụ thể của pháp luật Việt Nam và kinh nghiệm của pháp luật
các nước về bảo vệ NTD, đề tài đưa ra những hạn chế của pháp luật bảo vệ
NTD Việt Nam đồng thời đưa ra các phương hướng và kiến nghị những giải
pháp rất có giá trị trong việc xây dựng Luật bảo vệ quyền lợi NTD.
- Đề tài “Nghiên cứu Vai trò của hội bảo vệ NTD trong việc bảo vệ
NTD ở Việt Nam”, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường của trường Đại học
Luật Hà Nội do TS.Nguyễn Thị Vân Anh làm chủ nhiệm năm 2011 nêu những
kiến thức tổng quan về bảo vệ NTD và Hội bảo vệ NTD như nêu cơ sở pháp
lý, thiết chế thực thi luật bảo vệ NTD trong đó có nêu vai trò của Hội trong
các mặt hoạt động như phản biện xã hội, giáo dục NTD, giải quyết khiếu nại
của NTD. Từ đó kiến nghị những phương hướng, giải pháp giúp nâng cao vai
trò của Hội trong việc bảo vệ NTD ở Việt Nam.
- Đề tài cấp Bộ “Tăng cường năng lực thiết chế thực thi pháp luật bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng” của Viện Khoa học Pháp lý (2012) do TS.
Nguyễn Thị Vân Anh làm chủ nhiệm: Đề tài nghiên cứu những vấn đề lý luận
về năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD với
những nội dung: Làm rõ được khái niệm, đặc điểm thiết chế thực thi pháp luật
bảo vệ quyền lợi NTD; Nêu và phân loại được các thiết chế thực thi pháp luật
bảo vệ quyền lợi NTD ở trên thế giới và ở Việt Nam; Phân tích được vai trò,
nhiệm vụ quyền hạn của các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi
NTD liên quan tới vấn đề bảo vệ quyền lợi NTD; Đưa ra hệ thống các tiêu chí
xác định năng lực của các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ quyền lợi NTD
và các yếu tố ảnh hưởng đến năng lực của các thiết chế đó; Nghiên cứu kinh
nghiệm tăng cường năng lực các thiết chế thực thi pháp luật bảo vệ NTD ở
một số nước trên thế giới (tập trung vào nghiên cứu kinh nghiệm của một số
ở Việt Nam, do Viện Nhà nước và Pháp luật và Viện KAS tổ chức tại
TP.HCM tháng 11/2009;
+ Trong bài viết “Quyền của NTD và trách nhiệm của các cơ quan
nhà nước”, PGS.TS Đinh Ngọc Vượng đã nêu bật vai trò của các cơ quan quản
18
lý Nhà nước trong việc bảo vệ NTD. Đây là thiết chế cơ bản và quan trọng
nhất, bởi lẽ, NTD bị xâm phạm ở hầu hết tất cả lĩnh vực quản lý của Nhà
nước như quảng cáo, nhãn hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm...Và nhà nước
là chủ thể có trình độ, có phương tiện và có nguồn tài chính dồi dào để phát
hiện, ngăn chặn sự xâm phạm này. Bài viết đưa ra một số giải pháp giúp cơ
quan quản lý Nhà nước hoạt động hiệu quả hơn trong công tác bảo vệ NTD.
+ Trong bài viết “Thực trạng pháp luật của Việt Nam về các thiết chế
bảo vệ quyền lợi NTD”, báo cáo tại hội thảo Bảo vệ NTD – kinh nghiệm từ
pháp luật của Đức và liên minh Châu Âu với Việt Nam, do Bộ Tư pháp tổ
chức tại TP.HCM tháng 7/2010, GS.TS Lê Hồng Hạnh đã xác định các bộ
phận của thiết chế bảo vệ NTD, trong đó, mỗi thiết chế có vị trí và vai trò
khác nhau trong cơ chế bảo vệ quyền lợi NTD. Tuy nhiên, chúng vẫn có một
điểm chung hiện nay khá yếu, kém. Trên cơ sở phân tích quy định pháp luật
hiện hành, bài viết đề một số biện pháp nhằm nâng cao năng lực quản lý Nhà
nước của các thiết chế. Trong đó, nổi bật là việc bổ sung thủ tục tố tụng rút
gọn của Tòa án khi giải quyết các tranh chấp giữa NTD và nhà sản xuất, kinh
doanh. Cùng với quan điểm này, PGS.TS. Đinh Văn Thanh đã có bài viết “
Thủ tục xét xử rút gọn trong các vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi NTD – Nhu
cầu và định hướng lập pháp”, báo cáo tại hội thảo Pháp luật về bảo vệ NTD –
kinh nghiệm quốc tế, thực trạng và triển vọng ở Việt Nam, do ISL và KAS tổ
chức tại TP.HCM tháng 11/2009. Tác giả phân tích, luận giải sự cần thiết áp
dụng thủ tục xét xử rút gọn trong các vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi NTD.
luật và chính sách bảo vệ NTD của các quốc gia trên thế giới trong cuốn
“Handbook of Research on International Consumer Law”, Edward Elgar
Pub, 2010. Các tác giả phân tích những quy định cả về thể chế và thiết chế
bảo vệ NTD, những phương pháp tối ưu để thực thi pháp luật bảo vệ NTD
trên cơ sở so sánh pháp luật bảo vệ NTD của Hoa Kỳ và EU. Từ đó, đưa ra cái
nhìn sâu sắc về chính sách bảo vệ NTD cũng như mô hình các quy định
20