NGUYỄN THỊ KIM TIẾN
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIM TIẾN
NGÀNH: LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH
QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
KHÓA VIII NĂM 2017
HÀ NỘI - 2019
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ KIM TIẾN
QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH THEO PHÁP
LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật Hiến pháp và Luật hành chính
Mã số: 8.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. NGUYỄN LINH GIANG
1
ước quốc tế về quyền con người, quy định về quyền con người nói chung và
quyền của người đồng tính nói riêng đã được ghi nhận trong các văn bản quy
phạm pháp luật như Hiến pháp, Bộ luật Dân sự, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Lao
động, luật Hôn nhân Gia đình... Tuy nhiên, các quy định này còn chưa phù
hợp với quy luật vận động phát triển của xã hội trong nước cũng như quá
trình hội nhập quốc tế. Dù pháp luật đã có tính cởi mở trong việc đảm bảo các
quyền con người nhưng trên thực tế vẫn không thể đảm bảo được hết các
quyền của những người đồng tính. Thực tiễn các quan hệ xã hội phát sinh
những năm gần đây cho thấy các nhu cầu về mong muốn kết hôn, tình trạng
phân biệt đối xử còn phổ biến, nhiều quan hệ mới phát sinh cần phải được
điều chỉnh. Vì vậy, việc xây dựng cơ sở pháp lý là vô cùng quan trọng và cần
thiết nhằm đảm bảo và thực thi các quyền của người đồng tính.
Vì những lý do trên, tác giả đã chọn đề tài “quyền của người đồng tính
theo pháp luật Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình với
mục đích nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về quyền của người
đồng tính, từ đó chỉ ra những bất cập và hạn chế đối với quy định của pháp
luật về quyền của nhóm người này để đưa ra các giải pháp sửa đổi, bổ sung,
bảo vệ quyền của người đồng tính phù hợp với thực tiễn xã hội trong nước và
nhân quyền quốc tế.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến
quyền của người đồng tính. Trước tiên phải kể đến những công trình nghiên
cứu liên quan đến quyền con người tạo tiền đề cho việc nghiên cứu quyền của
người đồng tính như: Giáo trình Quyền con người của GS.TS Võ Khánh Vinh
xuất bản năm 2011; Sách chuyên khảo Cơ chế bảo đảm và bảo vệ quyền con
người của GS.TS Võ Khánh Vinh xuất bản năm 2011; Giáo trình lý luận và
pháp luật về quyền con người của Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội xuất
Thanh Tùng và Luận văn Thạc sĩ của tác giả Vũ Thị Ngọc Anh về Hoàn thiện
3
pháp luật về quyền chuyển đổi giới tính hiện nay và Luận án Tiến sĩ Luật
Hành chính - Hiến pháp của tác giả Trương Hồng Quang về Quyền của người
đồng tính, song tính, chuyển giới và liên giới tính theo Pháp luật Việt Nam
hiện nay bảo vệ năm 2019 tại Học viện Khoa học Xã hội.
Về các văn kiện quốc tế nghiên cứu về các quyền của người đồng tính,
song tính và chuyển giới (viết tắt là LGBT) bao gồm các công trình như: Bộ
nguyên tắc Yogyakarta, Bản Tuyên bố chung trong việc chấm dứt bạo lực và
vi phạm nhân quyền dựa trên xu hướng tính dục và bản dạng giới (Joint
statement on ending acts of violence and related human rifhts violations based
on sexual orientation and gender identity), Nghị quyết 17/19 (17/19 Human
rights, sexual orientation and gender A/HRC/RES/17/1) của Hội đồng Nhân
quyền LHQ thông qua tháng 6/2011, cẩm nang Sinh ra tự do và bình đẳng Xu hướng tính dục và Bản dạng giới trong Luật Nhân quyền quốc tế (Born
Free Equal - sexual Orientation and Gender Identity in International Human
Rights Law).
Tuy nhiên, còn nhiều vấn đề về quyền của người đồng tính vẫn chưa
được nghiên cứu sâu ở Việt Nam. Các công trình nghiên cứu trên chỉ mới tiến
hành nghiên cứu các quyền của cộng đồng LGBT nói chung hoặc nghiên cứu
về quyền của người đồng tính trên thế giới từ đó so sánh và xây dựng bài học
cho Việt Nam trong việc xây dựng các quyền. Tuy nhiên, người đồng tính,
song tính và người chuyển giới khác nhau về bản chất, vì vậy các nghiên cứu
này chưa thể phân tích sâu về quyền của người đồng tính, mà chỉ dừng lại ở
mức độ chung nhất các quyền của nhóm người này. Đồng thời, hầu hết các
bài báo khoa học và luận văn thạc sĩ được xây dựng trước năm 2015 khi luật
hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Hình sự 2015
chưa có hiệu lực, và còn nhiều khía cạnh pháp luật đổi mới cũng như các
5
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu về thời gian: Luận văn nghiên cứu các số liệu dựa
trên cáo cuộc khảo sát và các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành từ
giai đoạn năm 2014 đến năm 2019
Phạm vi nghiên cứu về không gian: Pháp luật Việt Nam liên quan đến
các nhóm quyền của người đồng tính. Có rất nhiều nhóm quyền của người
đồng tính cần phải được nghiên cứu, nhưng tác giả tập trung vào các quyền
như quyền tự do hôn nhân, quyền không bị phân biệt đối xử trong đời sống
Chính trị, Dân sự, Kinh tế, Văn hóa - Xã hội và các quyền trong lĩnh vực
Hình sự nhằm đảm bảo chất lượng cho Luận văn.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Để hoàn thành luận văn này, tác giả sử dụng phương pháp luận duy vật
biện chứng của chủ nghĩa Mác Lê - Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm
của Đảng và Nhà nước Việt Nam về quyền con người, quyền công dân cũng
như các chuẩn mực quốc tế về quyền con người.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp phân tích, tổng hơp tài liệu: Được sử dụng để phân tích các
báo cáo khoa học, các công trình nghiên cứu đã được công bố, các sách
chuyên khảo, các khảo sát có liên quan đến đề tài luận văn để làm rõ các khái
niệm và cơ sở lý luận của đề tài trong chương 1.
Phương pháp phân tích, đánh giá, tổng hợp số liệu: Được sử dụng trong
chương 2 để phân tích thực trạng người đồng tính hiện nay và quy định của
pháp luật hiện hành liên quan đến quyền của người đồng tính.
Phương pháp phân tích, so sánh, mô hình giả định: Được sử dụng để đưa
ra những giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật Việt Nam về quyền của
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NGƯỜI ĐỒNG TÍNH VÀ
QUYỀN CỦA NGƯỜI ĐỒNG TÍNH
1.1. Hệ thống các khái niệm
1.1.1. Khái niệm xu hướng tính dục
Trước đây, có rất nhiều cách hiểu khác nhau về người đồng tính. Bên
cạnh một số quan điểm cho rằng đồng tính là một giới tính thứ ba bên cạnh
giới tính nam và nữ thì một số khác lại cho rằng đồng tính là một hiện tượng
trái với các quy luật tự nhiên, một căn bệnh có thể lây lan và có khả năng
chữa trị nếu áp dụng các biện pháp y học và thực hiện phương pháp điều trị.
Cùng với các quan điểm khắt khe về đồng tính, thì quá trình nghiên cứu và sự
phát triển về y học đã đưa ra những quan điểm mới về đồng tính và người
đồng tính. Theo đó, đồng tính được cho là một điều hoàn toàn tự nhiên của
con người, là bản năng và không thể thay đổi bởi sự tác động của các yếu tố
bên ngoài. Trước khi tìm hiểu như thế nào là người đồng tính, người đồng
tính khác những người “bình thường” như thế nào thì chúng ta phải hiểu như
thế nào là xu hướng tính dục?
Xu hướng tính dục là cụm từ dùng để “chỉ việc chịu sự hấp dẫn (có tính
bền vững) về tình cảm, sự lãng mạn, trìu mến và hấp dẫn về tình dục của một
người đối với đối tượng nào đó” [53]. Do đó việc một người bị hấp dẫn về
mặt tình cảm có thể diễn ra giữa những người khác giới với nhau hoặc cũng
có thể xảy ra giữa những người cùng giới tính sinh học với mình, thậm chí có
thể bị hấp dẫn bởi cả hai hoặc không bị hấp dẫn bởi bất kỳ một giới tính nào.
Theo các nghiên cứu đã được công bố, hiện nay có các xu hướng tính dục sau:
(1) Xu hướng tính dục phổ biến nhất hiện nay chính là xu hướng tính dục
khác giới (hay còn gọi là những người có xu hướng tính dục dị tính) là khả
năng một người nào đó bị hấp dẫn cả về mặt tình dục và tình cảm đối với
8
9
vậy, cần sử dụng chính xác thuật ngữ xu hướng tính dục song tính để chỉ
những người bị hấp dẫn bởi cả hai xu hướng tính dục này.
(4) Xu hướng tính dục vô tính là xu hướng tính dục dùng để chỉ những
người không bị hấp dẫn bởi bất kỳ cứ giới tính nào. Đây là xu hướng tính dục
còn mang nhiều tranh cãi, vì việc xác định xu hướng tính dục của một người
xem việc người đó có bị hấp dẫn bởi giới tính nào hay không thường phụ
thuộc vào yếu tố chủ quan nên việc một người có hay không bị hấp dẫn bởi
giới tính nào rất khó xác định trên thực tiễn. Đối với những người vô tính vì
không bị hấp dẫn và có tình cảm với bất kỳ giới tính nào, nên họ thường
mong muốn có một người bạn đời để chia sẻ, còn những vấn đề về tình dục,
tình yêu đối với họ như là một điều xa lạ. Việc hình thành và phát triển các xu
hướng tính dục này tuân theo các quy luật tự nhiên và là một hiện tượng hết
sức tự nhiên của con người. Nhưng quá trình hình thành, phát triển và lộ diện
của nó tiến triển một cách chậm chạm phụ thuộc vào các yếu tố chính trị, kinh
tế, văn hóa, xã hội theo từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
Năm 1973, Hiệp hội tâm lý Hoa Kỳ (APA) đã loại đồng tính ra khỏi
danh sách những bệnh tâm thần, đồng thời khẳng định “Bản chất của đồng
tính luyến ai không bao hàm sự suy yếu về mặt nhận thức, sự ổn định, độ tin
cậy, khả năng trong các mối quan hệ xã hội hoặc ngành nghề nói chung”
đồng thời kêu gọi các chuyên gia sức khỏe hàng đầu loại bỏ đồng tính ra khỏi
những bệnh tâm thần [45]. Đến năm 2001, sau 5 năm nghiên cứu, Hiệp hội
Tâm thần Trung Quốc cũng đã loại bỏ đồng tính khỏi danh sách các bệnh tâm
thần không chữa khỏi và khẳng định đồng tính là một xu hướng tính dục hoàn
toàn tự nhiên của con người, đồng thời khẳng định đây cũng không phải là
giới tính thứ ba bên cạnh giới tính nam và giới tính nữ [45]. Và đồng tính
chính thức được Tổ chức Y tế Thế giới - cơ quan của Liên Hợp Quốc cố vấn
cho các nước về lĩnh vực y tế đã loại bỏ đồng tính ra khỏi danh sách các bệnh
phải là một căn bệnh có thể chữa trị, càng không phải là lựa chọn có ý thức
11
của mỗi người và không thể nỗ lực trong việc thay đổi xu hướng tính dục của
mình.
1.1.2. Khái niệm giới tính và bản dạng giới
1.1.3.1. Khái niệm giới tính
Giới tính (sex) là khái niệm dùng để chỉ sự khác biệt giữa nam và nữ về
mặt sinh học, gen và các yếu tố di truyền khác. Do đó, giới tính được xác định
là các đặc điểm sinh học tạo nên sự khác biệt giữa nam và nữ, bao gồm các
yếu tố bẩm sinh, mang tính đồng nhất, do yếu tố sinh học quyết định và không
thể thay đổi được giữa nam và nữ. Ví dụ phụ nữ có bộ phận sinh dục nữ, có
thể mang thai, cho con bú, còn nam giới có thể sản xuất tinh trùng từ bộ phân
sinh dục của mình.
Giới tính có các đặc điểm cơ bản sau:
Thứ nhất, giới tính hoàn toàn được quy định hoàn toàn bởi gen, cụ thể là
hai cặp nhiễm sắc thể XY và XX. Trong đó XY là cặp nhiễm sắc thể của nam
giới, còn XX là cặp nhiễm sắc thể quy định cho nữ giới.
Thứ 2, giới tính là yếu tố bẩm sinh, không bị thay đổi bởi yếu tố bên
ngoài. Giới tính là yếu tố không phụ thuộc vào yếu tố không gian, thời gian
hay bất kì tác động từ bên ngoài nào. Giới tính phát triển và duy trì ổn định ở
bất kì giai đoạn phát triển nào, được biểu hiện ra bên ngoài và có thể quan sát
được, gắn liền với chức năng sinh học của con người. Quá trình này thay đổi
theo quy luật sinh học, không phụ thuộc vào mong muốn hay ý chí chủ quan
của con người.
Do đó giới tính sinh học của một người được hiểu là các yếu tố bẩm sinh
được quy định bởi các yếu tố sinh học, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan
của con người, không chịu sự tác động của các yếu tố bên ngoài và không thể
nhận, nên khi những người đồng tính thực hiện chuyển đổi giới tính thì có thể
yêu khác với giới tính sau khi chuyển đổi. Tuy nhiên những người đồng tính
13
không mong muốn mình có một giới tính khác với giới tính mình được sinh ra
nên họ không có nhu cầu chuyển đổi giới tính của mình. Do đó tác giả làm rõ
hai khái niệm này để người đọc có thể hiểu rõ hơn về khái niệm xu hướng
tính dục và bản dạng giới để tránh cách hiểu sai lầm về hai khái niệm này,
cũng như phân biệt giữa người đồng tính và người chuyển đổi giới tính. Tuy
nhiên trong nội dung luận văn này, tác giả chỉ đề cập và phân tích các quyền
của người đồng tính với xu hướng tính dục đồng tính.
1.1.3. Khái niệm người đồng tính
Từ việc phân tích khái niệm giới tính, bản dạng giới cũng như xu hướng
tính dục nêu trên, chúng ta có thể hiểu đồng tính là một trong các xu hướng
tính dục của con người và không liên quan đến vấn đề giới tính. Ngoài xu
hướng tính dục dị tính chiếm số lượng đông đảo thì các xu hướng tính dục
còn lại chiếm số lượng nhỏ và không phải lúc nào cũng được bộc lộ và có thể
nhận biết một cách dễ dàng thông qua các yếu tố bên ngoài. Như vậy, một
người mang giới tính nam, hoặc nữ đều có thể mang xu hướng tính dục đồng
tính, hoặc dị tính, hoặc song tính hoặc là vô tính. Đây hoàn toàn không phải
lựa chọn mà nó xuất hiện với bản chất tự nhiên, không phụ thuộc ý chí của
con người, xuất hiện khi con người sinh ra và bộc lộ theo một giai đoạn nhất
định.
Đồng tính là viết tắt của cụm từ đồng tính luyến ái (homosexual), người
đồng tính là những người bị hấp dẫn về mặt tình cảm bởi những người cùng
giới tính, họ hoàn toàn thỏa mãn và hài lòng với giới tính mình được sinh ra,
không có mong muốn có giới tính khác với giới tính của mình. Trong đó nam
giới là người đồng tính nam (thường gọi là gay) và nữ giới gọi là đồng tính nữ
dục và không thể xem họ là người đồng tính.
Từ việc phân tích trên, có thể kết luận rằng người đồng tính không phải
là người mang các bệnh rối loạn tâm thần mà là một cá nhân mang một giới
tính nhất định không phải giới tính thứ ba, không phải trào lưu và cũng không
15
phải căn bệnh có thể lây lan và phụ thuộc vào mong muốn của mỗi người. Mà
người đồng tính gắn liền với xu hướng tính dục đồng tính, họ bị hấp dẫn về
tình cảm, sự lãng mạn, tình dục với những người cùng giới tính sinh học,
mong muốn gắn bó lâu dài với những người cùng giới tính, không có nhu cầu
thay đổi giới tính khác với giới tính sinh học của mình.
1.2. Vị trí quyền của người đồng tính trong hệ thống pháp luật về
quyền con người
Người đồng tính cũng như các chủ thể khác trong xã hội, đều là cá nhân
được sinh ra, tồn tại, được xã hội công nhận và tôn trọng, do đó quyền của
người đồng tính cũng chính là các quyền cơ bản của con người. Vì vậy trước
khi tìm hiểu về vị trí quyền của người đồng tính trong hệ thống pháp luật về
quyền con người, trước hết chúng ta cần hiểu quyền con người là gì?
Quyền con người (human rights) là một phạm trù rộng, với nhiều cách
định nghĩa khác nhau được đưa ra. Theo tài liệu của Liên Hợp Quốc, có đến
gần 50 định nghĩa về quyền con người đã được công bố. Mỗi định nghĩa tiếp
cận ở mỗi góc độ khác nhau nên chỉ chỉ ra được những thuộc tính nhất định
không bao hàm được tất cả nội dung về quyền con người. Tính phù hợp của
mỗi định nghĩa phụ thuộc vào ý chí chủ quan của mỗi cá nhân. Tuy nhiên
khái niệm về quyền còn người được trích dẫn chủ yếu nhất hiện nay là khái
niệm được đưa bởi Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc. Theo đó “Quyền con
người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu (universal legal guarantees) có tác
dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động (actions)
Thứ nhất, quyền của người đồng tính chính là quyền con người
Người đồng tính cũng là các chủ thể trong mối quan hệ với quyền con
người, vì vậy họ cũng có những quyền cơ bản như quyền được đối xử công
bằng, quyền được tự do, và một trong những quyền quan trọng nhất là quyền
được công nhận và tôn trọng.
17
Hiện nay, chúng ta cần có cách nhìn nhận đúng đắn, chính xác hơn, toàn
diện hơn đối với những người đồng tính. Người đồng tính cũng cần được đảm
bảo các quyền về tự do, và tự do công khai xu hướng tính dục, tự do hôn nhân
là thể hiện một phần quyền tự do của người đồng tính. Tuy nhiên, thực tế khi
những người đồng tính công khai xu hướng tính dục, họ thường bị kì thị từ
phía gia đình, xã hội và những người được công khai. Công khai để sống
đúng bản chất con người, được xã hội tôn trọng và được mưu cầu hạnh phúc,
đó cũng là thể hiện quyền tự do của con người bằng khả năng tìm khiếm hạnh
phúc, giá trị và nhu cầu về mặt tình cảm của bản thân. Một trong những khía
cạnh thể hiện quyền được hạnh phúc đó là việc được tự do hôn nhân, xây
dựng gia đình và được Nhà nước tôn trọng, bảo vệ quan hệ hôn nhân đó. Tuy
nhiên, đây chính là vấn đề trở ngại nhất đối với các quyền của người đồng
tính vì bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố lịch sử, văn hóa, đạo đức và các quan
niệm truyền thống dẫn đến sự khó chấp nhận, thậm chí phản đối gay gắt
quyền kết hôn giữa những người đồng tính. Đối với người đồng tính hiện nay
đã xuất hiện các hình thức chung sống hợp pháp như: Cho phép kết hôn đồng
tính, công nhận hình thức kết hợp dân sự. Với các hình thức kết hợp dân sự,
những cặp đôi đồng tính được xem như những cặp vợ chồng. Nhưng thực tế
quyền của họ cũng bị hạn chế hơn những cặp vợ chồng dị tính khác như việc
hưởng các chính sách xã hội, thuế, cũng như quyền nhận nuôi con nuôi hay
thừa kế. Và đa phần hình thức kết hợp dân sự chỉ áp dụng trong phạm vi hẹp,
vậy họ cần được chú ý bảo vệ đặc biệt so với nhóm, cộng đồng người khác”.
Các nhóm người dễ bị tổn thương gồm: trẻ em, phụ nữ, người lao động di trú,
người thiểu số...). Hơn nữa, người đồng tính có xu hướng tính dục thuộc về số
ít và cũng có thể rơi vào đối tượng là trẻ em, phụ nữ, người khuyết tật…nên
người đồng tính vừa mang tính cá nhân, vừa mang yếu tố nhóm người bị yếu
thế cần được xã hội quan tâm và bảo vệ.
Nhìn từ nhiều góc độ khác nhau, thì các văn kiện quốc về về quyền con
19
người đều đề cập đến quyền nhóm và quyền cá nhân. Nếu như quyền của
người đồng tính được pháp điển hóa trong các văn kiện pháp luật quốc tế và
các quyền của họ được thừa nhận như quyền được kết hôn giữa những người
cùng giới tính, quyền được nhận nuôi con nuôi, quyền không bị phân biệt dựa
trên bản dạng giới và xu hướng tính dục. Khi các quyền riêng biệt khác được
ghi nhận, được tiếp cận, được thực hiện và bảo vệ thi trên thực tế thì tính chất
dễ bị tổn thương sẽ bớt chồng chéo trong vấn đề bảo vệ quyền giữa các quyền
của các nhóm và cá nhân (vì trong bản chất phụ nữ, trẻ em, người già, người
thiểu số hay người khuyết tật đều có thể có xu hướng tính dục đồng tính và
thuộc đối tượng người đồng tính).
Qua sự phân tích nêu trên, có thể thấy quyền của người đồng tính là
những nhu cầu tự nhiên của con người bao gồm các quyền chung như mọi chủ
thể trong xã hội, ngoài ra còn có các quyền riêng biệt đặc thù, vừa mang bản
chất là quyền cá nhân, vừa mang bản chất là quyền của các nhóm người trong
xã hội. Dù là mang tính chất nhóm hay cá nhân, thì những người đồng tính
cũng cần được hưởng một cách đầy đủ, trọn vẹn nhất các quyền và giá trị cơ
bản nhất mà một con người cần phải có.
1.3. Quyền của người đồng tính trong các văn kiện quốc tế và pháp
luật một số quốc gia
dục tồn tại song song với xu hướng tính dục dị tính, thì chưa có quy định cụ
thể để bảo vệ người đồng tính khỏi sự phân biệt, đối xử này.
1.3.1.2. Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền
Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền là tuyên ngôn về các quyền của con
người được Đại Hội đồng Liên Hợp Quốc thông qua ngày 10 tháng 12 năm
năm 1948 tại Palais de Chailot, Pháp theo quyết định số 217A (III) và được
dịch ra 375 thứ ngôn ngữ khác nhau. Tuyên ngôn là công cụ pháp lý thể hiện
các quyền cơ bản mà con người được hưởng, đồng thời là khuôn mẫu chung
cho mỗi quốc gia, tổ chức, cá nhân về việc được tôn trọng các quyền tự do và
21
nhân quyền. Bản tuyên ngôn là khuôn mẫu chung cần đạt tới của tất cả mọi
quốc gia và dân tộc. Tinh thần của Tuyên ngôn nhân quyền là dùng truyền đạt
và giáo dục để nổ lực thúc đẩy các quốc gia thành viên tôn trọng các quyền
con người và các quyền cơ bản khác trong tuyên ngôn. Tại Điều 2, Tuyên
ngôn thế giới về Nhân quyền có nêu rõ: “Mọi người sinh ra đều tự do và bình
đẳng về nhân phẩm và các quyền” và “ai cũng được hưởng những quyền tự
do ghi trong bản Tuyên ngôn này không phân biệt đối xử vì bất cứ lý do nào,
như chủng tộc, màu da, nam nữ, ngôn ngữ, tôn giáo, chính kiến hay quan
niệm, nguồn gốc dân tộc hay xã hội, tài sản, dòng dõi hay bất cứ tình thân
trạng khác” [8, Điều 2]. Tuyên ngôn thế giới về Nhân quyền đã mở rộng đối
tượng trong việc cấm phân biệt đối xử bởi các “thân trạng khác”. Quy định
này có tính mở, vì vậy việc một người mang xu hướng tính dục hay bản dạng
giới khác cũng là đối tượng cần được bảo vệ, được hưởng các quyền tự do
trong bản Tuyên ngôn này. Và “mọi người” ở đây được hiểu là tất cả các cá
nhân bao gồm cả người đồng tính, dị tính, song tính hay vô tính đều được
hưởng những quyền như nhau. Tuy nhiên khi hưởng thụ những quyền của
mình cũng phải tuân thủ những hạn chế do pháp luật quy định và tôn trọng
không bị phân biệt đối xử vì khuynh hướng tính dục hay bản dạng giới của
họ. Mọi người đều bình đẳng trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ mà
không bị phân biệt đối xử vì những lý do trên, bất kể các quyền con người
khác có đồng thời bị ảnh hưởng bởi sự phân biệt đối xử đó hay không [55].
Nguyên tắc 3: Quyền được công nhận trước pháp luật
Mọi người ở mọi nơi đều có quyền được công nhận là một cá nhân trước
pháp luật. Những cá nhân thuộc các nhóm khuynh hướng tính dục và bản
dạng giới khác nhau đều được hưởng năng lực pháp luật trong mọi lĩnh vực
đời sống. Khuynh hướng tính dục và bản dạng giới của riêng mỗi người là
một phần không thể tách rời với nhân cách của họ và là một trong những bộ
phận cơ bản nhất của sự quyết tâm cá nhân, phẩm giá tự và tự do. Không ai bị
23