VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
--------------VÕ THỊ THƢƠNG
KHỞI KIỆN VỤ ÁN DÂN SỰ BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU
DÙNG THEO PHÁP LUẬT
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: Luật kinh tế
Mã số
: 8.38.01.07
LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS.NGUYỄN TRỌNG ĐIỆP
HÀ NỘI, 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi. Các số
liệu, ví dụ và trích dẫn trong luận văn đảm bảo độ tin cậy, chính xác và trung
thực. Những kết luận khoa học của luận văn chưa từng được công bố trong bất
kỳ công trình khoa học nào khác.
Tác giả luận văn
VÕ THỊ THƢƠNG
Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
KKTT
Khởi kiện tập thể
Luật BVQLNTD
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
NTD
Người tiêu dùng
TAND
Tòa án nhân dân
TCXH
Tổ chức xã hội
THADS
Thi hành án dân sự
VINASTAS
Hội tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt
Nam
41
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việc thừa nhận hội nhập kinh tế quốc tế, nền kinh tế thị trường hiện nay
đã làm thay đổi căn bản những vấn đề về nhận thức và phương pháp điều tiết
của Nhà nước ta trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. BVQLNTD cũng
đã thực sự trở thành một lĩnh vực pháp luật độc lập, có vị trí đáng kể trong hệ
thống pháp luật Việt Nam, nhất là khi Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
được ban hành vào năm 2010. Nhiều vụ việc vi phạm quyền lợi người tiêu dùng
không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của một hoặc một vài người tiêu dùng cụ thể
mà còn ảnh hưởng đến đông đảo người tiêu dùng và toàn xã hội cũng như ảnh
hưởng đến trật tự quản lý kinh tế. Người tiêu dùng Việt Nam đang phải sống
trong một môi trường không an toàn, quyền và lợi ích hợp pháp bị vi phạm
nghiêm trọng. Thực trạng công tác bảo vệ người tiêu dùng tại Việt Nam cho
thấy, các vụ vi phạm quyền lợi người tiêu dùng có xu hướng ngày càng gia tăng
cả về số lượng và mức độ. Chính vì vậy, việc cơ quan quản lý nhà nước can
thiệp để giải quyết những trường hợp này không chỉ là để bảo vệ quyền lợi chính
đáng của người tiêu dùng mà còn nhằm bảo đảm trật tự, sự ổn định trong hoạt
động quản lý nhà nước.
Xuất phát từ quan điểm coi mối quan hệ giữa người tiêu dùng và tổ chức
cá nhân kinh doanh là mối quan hệ dân sự thông thường, cho nên việc khởi kiện
vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về bản chất phải được giải quyết
theo các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự thông qua hệ thống tòa án.
Chính vì lý do đó, tôi chọn đề tài “Khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu nhằm làm rõ
một số vấn đề lý luận, thực tiễn về khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng tạo điều kiện cho người tiêu dùng bảo vệ quyền lợi và lợi ích
viết “Một số vấn đề lý luận về quyền được thông tin của người tiêu dùng”, TS.
Nguyễn Văn Cương, đăng trên tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 8(304) năm
2013; Bảo vệ người tiêu dùng khi có tranh chấp - Cần biện pháp đặc biệt, TS.
2
Nguyễn Ngọc Điện; Bài viết “Hòa giải - Một phương thức giải quyết tranh
chấp thay thế”, ThS. Dương Quỳnh Hoa, Viện Nhà nước và Pháp luật; Luận
án tiến sĩ Luật học đề tài “Xây dựng và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh
chấp thay thế đối với các quan hệ thương mại trong giai đoạn hiện nay ở
nước ta”, TS. Dương Quỳnh Hoa; Nguyễn Thị Vân Anh (2010), “Thực trạng
pháp luật Việt Nam về bảo vệ người quyền lợi người tiêu dùng”, Tạp chí Luật
học, (11), tr. 3-11.
Ngoài ra phải kể đến một số các bài viết như: Đặc điểm của quan hệ tiêu
dùng và pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Nguyễn Thị Thư, Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật số 10/2012, Viện Nhà nước và Pháp luật; Pháp luật và
vấn đề bảo vệ người tiêu dùng, Đặng Vũ Huân, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số
chuyên đề về pháp luật và tiêu dùng tháng 1 năm 2005; Luật Bảo vệ người tiêu
dùng có nên quy định tổ chức là người tiêu dùng, Lê Hồng Hạnh, Trần Thị
Quang Hồng, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp số 20/2010, Văn phòng quốc hội.
Để có một cái nhìn dễ dàng về khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng cần thiết phải tạo nên một cơ sở lý luận rõ ràng, ngắn gọn, dễ hiểu giúp
cho người khởi kiện là các cá nhân hay các tổ chức có thể nắm bắt được các trình
tự, thủ tục khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Cho nên tôi
chọn đề tài “Khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp
luật Việt Nam hiện nay” làm luận văn thạc sĩ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở lý luận chung về khởi kiện vụ án dân
sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam, đề xuất một số
đích nghiên cứu, luận án kết hợp chặt chẽ giữa các phương pháp trong suốt
quá trình nghiên cứu của toàn bộ nội dung luận văn. Tùy thuộc vào đối
tượng nghiên cứu của từng chương, mục trong luận văn, tác giả vận dụng,
chú trọng các phương pháp khác nhau cho phù hợp.
4
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa lý luận của luận văn
Luận văn đã khái quát được những vấn đề lý luận trong khởi kiện vụ án
dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay, đồng
thời kết quả của hoạt động nghiên cứu lý luận góp phần làm nguồn tư liệu tham
khảo trong công tác đào tạo và nghiên cứu.
Luận văn đánh giá được những thành công và hạn chế trong khởi kiện vụ
án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay.
Từ đó đề xuất được một số giải pháp nâng cao hiệu quả khởi kiện vụ án dân sự
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay.
Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
Theo các vấn đề lý luận tác giả đã nghiên cứu và phân tích hoạt động khởi
kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam
hiện nay. Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần giúp người tiêu dùng
nói riêng và các tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói chung có thêm cơ
sở khoa học để từ đó thực hiện tốt việc khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng theo pháp luật Việt Nam hiện nay.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội
dung của luận văn gồm 3 chương chính như sau:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng.
người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan (trong trường hợp có yêu cầu độc lập). Vậy, khởi
kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là việc người tiêu dùng hoặc tổ chức xã
hội tham gia BVQLNTD có đủ điều kiện khởi kiện theo quy định của pháp luật yêu cầu
Tòa án giải quyết vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.
6
1.1.2. Đặc điểm khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
Để hiểu được đặc điểm khởi kiện vụ án dân sự bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng ta đi làm rõ các đặc điểm chủ yếu liên quan đến bản chất của chủ thể, quan
hệ pháp luật.
- Đặc điểm của chủ thể trong khởi kiện vụ án dân sự BVQLNTD
Chủ thể trong khởi kiện vụ án dân sự BVQLNTD bao hàm hai đối tượng
là người khởi kiện (sau đây gọi chung là “Người tiêu dùng”) và người bị khởi
kiện (gọi chung là tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ).
Trong nền kinh tế thị trường, người tiêu dùng nắm trong tay quyền lực to
lớn. Thị trường chủ yếu do NTD điều tiết. Là lực lượng đông đảo nhất trong xã
hội, quyết định tiêu dùng của NTD ảnh hưởng to lớn đến hoạt động kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ trên thị trường. NTD quyết định hàng hoá, dịch vụ mà tổ
chức, cá nhân sẽ kinh doanh. Mức độ tiêu dùng của NTD chính là thước đo cho
sự tồn tại của sản phẩm hàng hoá, dịch vụ trên thị trường.[10]
Ở Việt Nam, khái niệm người tiêu dùng chỉ thực sự được biết đến và quan
tâm khi nền kinh tế thị trường hình thành. Khái niệm người tiêu dùng được định
nghĩa trong Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ngày 27/4/1999 thì
"Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ cho mục đích tiêu
dùng, sinh hoạt của cá nhân, gia đình và tổ chức" (Điều 1). Luật Bảo vệ quyền
lợi NTD 2010 ra đời thay thế Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD 1999 có nhiều
quy định mới so với Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi NTD, tuy nhiên, nội hàm khái
niệm NTD vẫn không thay đổi “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng
là bằng công cụ pháp luật. Nhưng thực tế không thể trông chờ toàn bộ vào nhà
nước mà nhà nước làm việc đó do sức ép của xã hội dân sự và đôi khi nhờ xã
hội dân sự nhà nước có được thông tin. NTD nhận thông tin đã qua “bộ lọc” của
Chính phủ và nhiều người cảm thấy yên tâm và tuyệt đối tin tưởng vào “bộ lọc”
này. Tuy nhiên không ít người tự sàng lọc lấy thông tin vì họ muốn dùng khả
năng đánh giá của mình hơn là những “bộ lọc” đó. Xã hội dân sự dưới dạng các
8
tổ chức như các hội từ thiện, các hiệp hội, các công đoàn, các nhóm tương trợ,
các phong trào xã hội, các hiệp hội kinh doanh, các liên minh, và các đoàn luật
sư…. sẽ đem đến sự đa dạng về thông tin cho các đối tượng có nhu cầu khác
nhau. Qua đó sẽ thiết lập thế quân bình trong thông tin khi mà nhà nước không
muốn hoặc không thể cung cấp thông tin cho xã hội. Mặt khác đây cũng là
nguồn thông tin hữu ích cho nhà nước làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách
và pháp luật của nhà nước.
Chỉ khi không còn hạn chế về thông tin, thì NTD mới có đầy đủ quyền lựa
chọn hàng hóa, dịch vụ phù hợp với mục đích của mình, đồng thời một thị
trường cạnh tranh lành mạnh mới được hình thành. Thực tế cho thấy sự hạn chế
về thông tin là lí do phát sinh các khuyết tật của thị trường như: lừa đảo, trái với
các quy luật thị trường, méo mó thị trường, cạnh tranh không lành mạnh… và
đương nhiên NTD là đối tượng chịu hậu quả đầu tiên và nặng nề nhất. Trước
tình trạng hạn chế về thông tin giữa các chủ thể của thị trường thì nhà nước với
công cụ pháp luật sẽ thực hiện vai trò điều tiết xã hội, lành mạnh hóa thị trường
thông qua những quy định về quyền nghĩa vụ thông tin của các bên, các quy
định phạt vi phạm nghĩa vụ thông tin… Trong khi đó, vai trò thông tin bổ trợ
của xã hội dân sự sẽ góp phần khỏa lấp những khoảng trống về thông tin mà nhà
nước không đảm đương được. Thông tin về thị trường từ xã hội dân sự cũng là
những thông tin mà người ta có thể kiểm chứng một cách cụ thể nhất.
Thứ hai, yếu thế về năng lực tài chính:
tiếp cận các công cụ pháp lý đủ mạnh, đủ tin cậy trong quá trình giải quyết tranh
chấp của công dân đơn lẻ là điều có thể khẳng định. Một phần nguyên nhân khác
nằm ở năng lực hệ thống pháp luật chưa cho phép (hoặc không đủ) để NTD dễ
dàng tiếp cận dù bất cứ điều kiện, hoàn cảnh xã hội và năng lực tài chính khi
quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.
Luật BVQLNTD năm 2010 của Việt Nam định nghĩa trên cơ sở đặc thù quản
lý hoạt động thương mại, cụ thể: Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ là tổ chức, cá nhân thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá
10
trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ hàng hóa hoặc cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: Thương nhân theo quy định của Luật
thương mại và cá nhân hoạt động thương mại độc lập, thường xuyên, không
phải đăng ký kinh doanh [14]. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ là
chủ thể hết sức quan trọng trong việc bảo đảm quyền lợi NTD. Quyền lợi của
NTD được bảo đảm chủ yếu trong quan hệ nghĩa vụ với tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hoá, dịch vụ. Quy định về nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh
hàng hoá, dịch vụ đối với NTD, vì thế là một bộ phận không thể thiếu trong hệ
thống pháp luật bảo vệ NTD. Điều đó thể hiện qua các đặc điểm cụ thể như sau:
Thứ nhất, có nghĩa vụ bảo đảm chất lượng, số lượng và sự an toàn của hàng
hóa, dịch vụ. Nhà làm luật thiết kế trách nhiệm này cho tổ chức, cá nhân sản
xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ nhằm đáp ứng quyền được an toàn của NTD,
sự an nguy của NTD phụ thuộc rất lớn vào thái độ của chủ thể thực hiện nghĩa
vụ. Bên cạnh việc tuân thủ các điều kiện bảo đảm chất lượng đối với sản phẩm
trước khi đưa ra thị trường, hàng hóa nhập khẩu, xuất khẩu và hàng hóa lưu
thông trên thị trường thì họ còn phải chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm
do mình sản xuất, kinh doanh hoàn lại hoặc đổi hàng mới, nhận lại hàng có
khuyết tật bị NTD trả lại; ngưng sản xuất, thông báo biện pháp khắc phục hậu
quả khi phát hiện sản phẩm, hàng hóa gây mất an toàn hoặc không phù hợp với
NTD; phải chấp hành đầy đủ các quy định của pháp luật về đảm bảo an toàn sản
phẩm; đối với hàng hóa, dịch vụ khi sử dụng có thể đe dọa gây ảnh hưởng về
sức khỏe, tính mạng, tài sản và môi trường, tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh
doanh phải cảnh báo trước cho NTD về những nguy cơ đó; giải thích rõ ràng và
hướng dẫn cách sử dụng hàng hóa cùng nhiều biện pháp phòng tránh các tác hại
có thể xảy ra”. Trong trường hợp để xảy ra thiệt hại về sức khỏe, tính mạng và
tài sản cho NTD khi sử dụng đúng các hướng dẫn về hàng hóa, dịch vụ do tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ cung cấp, tổ chức cá nhân kinh
doanh phải tiến hành ngay mọi biện pháp nhằm ngăn chặn, thu hồi sản phẩm và
12
bồi thường thiệt hại cho NTD.
Thứ tư, ưu thế về thông tin. Thông tin của xã hội dân sự cũng tác động
ngược cho tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Các nhà buôn có lẽ
quan tâm nhiều đến nhu cầu, mong muốn và các động thái của thị trường từ
chính khách hàng, hiệp hội người tiêu dùng hơn là các thông tin chính thống của
nhà nước để điều chỉnh hoạt động của mình. Thực tế cho thấy, trong các quan
hệ mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ với tổ chức, cá nhân kinh doanh NTD
luôn ở thế thụ động, hạn chế về thông tin và năng lực kiểm chứng chất lượng,
giá trị thật của hàng hóa và dịch vụ được cung cấp trong khi bên bán, bên cung
ứng dịch vụ luôn ở thế chủ động về nguồn hàng, kiểm soát được chất lượng,
thông tin sản phẩm trước khi tới tay người tiêu dùng. Vì vậy, nghĩa vụ thông tin
đầy đủ, chính xác, trung thực của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch
vụ là một nghĩa vụ hợp lý và hết sức quan trọng để bảo đảm cho NTD thực hiện
quyền được thông tin của mình. Bởi chính vì tính cần thiết của nghĩa vụ này, mà
hầu hết các lĩnh vực pháp luật liên quan đều bắt buộc tổ chức, cá nhân kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ thực hiện nghĩa vụ cung cấp thông tin đầy đủ, chính
xác, trung thực; thể hiện các thông tin trung thực về chất lượng, số lượng, giá
chỉnh của Luật Thương mại cho dù quan hệ này có chủ thể là tổ chức kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ (thương nhân) và mục đích tham gia vào các quan hệ
tiêu dùng là để thỏa mãn các nhu cầu về lợi ích vật chất (quan hệ tài sản) trong
đó có mục đích lợi nhuận của thương nhân. Quan hệ pháp luật tiêu dùng là hình
thức pháp lý của các quan hệ xã hội (trao đổi hàng hóa, dịch vụ) giữa người bán
và người mua đối với hàng hóa, giữa bên cung ứng dịch vụ và bên thụ hưởng
dịch vụ… Quan hệ pháp luật tiêu dùng hình thành trên cơ sở các quy phạm pháp
luật điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia quan hệ với những
mục đích cụ thể, được áp dụng khi phát sinh sự kiện pháp lý. Quy phạm pháp
luật về BVQLNTD được coi là trọng tâm trong nội dung quan hệ pháp luật tiêu
dùng, các quy phạm pháp luật chuyên ngành khác có ý nghĩa bổ trợ trong từng
mối quan hệ tương ứng.
14
Tuy nhiên, điểm khác biệt so với các quan hệ pháp luật dân sự thông
thường, cơ chế pháp lý bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng phải giải quyết được
đặc thù cơ bản của quan hệ pháp luật tiêu dùng về mặt thể chế là: khắc phục tình
trạng bất cân xứng giữa NTD và cá nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ. Đây là nguyên tắc và cũng là nhiệm vụ cơ bản của pháp luật
BVQLNTD.
Trên cơ sở đó, để khắc phục được tình trạng bất cân xứng của NTD và cá
nhân, tổ chức sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ, đòi hỏi về mặt thể chế
phải xác định đầy đủ: quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ
chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa dịch vụ; trách nhiệm của các cơ quan, tổ
chức xã hội cũng như bản thân NTD dùng trong việc bảo vệ quyền của người
tiêu dùng; cơ chế giải quyết khiếu nại, khởi kiện và tố cáo của NTD. Trong quá
trình đó, hoạt động bảo vệ NTD cần dự liệu các vấn đề được đặt trong trạng thái
“động” bởi tác động của quá trình hội nhập cũng như sự phát triển nhanh chóng
của khoa học – kỹ thuật.
giao dịch dân sự (Bộ luật Dân sự)…
Điểm khác biệt cơ bản nhất trong phương pháp điều chỉnh giữa Luật
gốc về quyền lợi người tiêu dùng và các Luật bổ trợ là nội dung điều chỉnh
của các quy định bổ trợ được xây dựng theo hướng can thiệp vào quy trình
sản phẩm từ khi sản xuất để đạt được mục đích bảo vệ người tiêu dùng, còn
luật gốc sẽ cung cấp những công cụ pháp lý đặc biệt và ưu tiên hơn cho người
tiêu dùng để bảo vệ quyền lợi của mình.
Qua đó cho thấy, do tính chất bao trùm và rộng lớn của các quy định pháp
luật về BVQLNTD của Việt Nam, tính chất tương hỗ giữa luật chuyên ngành và
luật gốc trong hoạt động điều chỉnh từng khía cạnh của quan hệ tiêu dùng là đặc
biệt cần thiết. Trong chừng mực nào đó, tính tương hỗ này có thể là nguyên
nhân của sự chồng chéo giữa các quy định về cùng một vấn đề (thực trạng này
không hiếm trong thực tiễn lập pháp của Việt Nam), nhưng vẫn là cần thiết
16
trong bối cảnh chưa thể pháp điển hóa lĩnh vực pháp luật này.
Thứ ba, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong mối quan hệ tiêu dùng
hay trong các tranh chấp tiêu dùng, đòi hỏi không chỉ bao gồm vấn đề giữa NTD
và doanh nghiệp mà còn có sự tham gia, phối của các tổ chức xã hội và cơ quan
nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, về mặt thiết chế đòi hỏi luôn luôn có sự hoàn
thiện và nâng cao hoạt động bảo vệ người tiêu dùng của bộ máy cơ quan bảo vệ
người tiêu dùng. Công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cần được xã hội
hóa, triển khai toàn diện trên nhiều mặt để trở thành trách nhiệm của toàn xã hội.
Đặc biệt là công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm quyền lợi người tiêu dùng
của các cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Đây là một chế định
rất quan trọng trong việc bảo đảm hiệu quả và hiệu lực điều chỉnh pháp luật
BVQLNTD.
Thứ tư, cơ chế pháp luật BVQLNTD còn xác lập những ngoại lệ so với
Nhóm thứ hai, là khởi kiện vụ án dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người khác, được quy định tại khoản 3, Điều 187 BLTTDS năm 2015.
“Tổ chức xã hội tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng có quyền đại diện
cho người tiêu dùng khởi kiện bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng hoặc tự mình
khởi kiện vì lợi ích công cộng theo quy định của Luật bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng.”
Tóm lại, đối với quyền khởi kiện thì điều cơ bản nhất người khởi kiện cần
biết đó là khi quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị xâm phạm thì cá nhân, cơ
quan, tổ chức có thể tự mình hoặc thông qua người khác để khởi kiện.
Năng lực hành vi tố tụng dân sự: Năng lực hành vi tố tụng dân sự là khả
năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người
đại diện tham gia tố tụng dân sự [4]. Về năng lực hành vi tham gia tố tụng thì có
thể chia thành hai nhóm:
18
Đối với tổ chức xã hội tham gia BVQLNTD: Người đại diện theo pháp
luật là người có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng, người đại diện theo pháp luật
có thể ủy quyền cho người khác có đủ điều kiện để tham gia tố tụng.
Đối với cá nhân là NTD: Tùy vào độ tuổi và thể chất thì pháp luật chia ra
các trường hợp sau: Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người có đầy đủ năng lực lực
hành vi tố tụng dân sự trừ những người bị mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế
năng lực hành vi dân sự hoặc trường hợp khác do pháp luật quy định; Người
dưới 15 tuổi, người bị mất năng lực hành vi dân sự, thì việc bảo vệ quyền, nghĩa
vụ tố tụng dân sự của họ tại Tòa án do người đại diện theo pháp luật thực hiện;
Người từ đủ 15 tuổi - chưa đủ 18 tuổi, nếu đã tham gia hợp đồng lao động hoặc
thực hiện các giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình thì có thể tự mình
tham gia tố tụng và có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự. Những quan hệ
khác thì việc bảo vệ quyền, nghĩa vụ của họ do người đại diện theo pháp luật
Bộ luật Tố tụng dân sự, Bộ luật dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Thương mại...
Thứ ba, vụ án vẫn còn thời hiệu khởi kiện:
Thời hiệu khởi kiện là thời hạn mà các chủ thể có quyền khởi kiện được
quyền yêu cầu tòa án giải quyết các tranh chấp ở đây là giữa người tiêu dùng và
nhà cung cấp hàng hóa, dịch vụ để bảo vệ quyền, lợi ích bị xâm phạm. Hết thời
hạn đó thì chủ thể khởi kiện mất quyền khởi kiện, trừ trường hợp pháp luật có
quy định khác. Quy định thời hiệu khởi kiện góp phần quan trọng vào việc ổn
định các quan hệ kinh tế - xã hội, hạn chế việc lạm dụng quyền khởi kiện. Trên
thực tế có nhiều nguyên nhân khách quan mà việc khởi kiện không được thực
hiện trong thời hạn quy định. Để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của họ,
pháp luật quy định không tính vào thời hiệu khởi kiện khoảng thời gian xảy ra
sự kiện bất khả kháng; trở ngại khách quan; người có quyền khởi kiện chưa
thành niên, bị mất năng lực hành vi dân sự, bị hạn chế năng lực hành vi dân sự
mà chưa có người đại diện; người đại diện của họ bị chết mà chưa có người thay
20