BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
ĐẶNG THÁI DƢƠNG
HÀ NỘI - 2016
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỆN ĐẠI HỌC MỞ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SỸ
BẢO VỆ QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM HIỆN NAY
ĐẶNG THÁI DƢƠNG
CHUYÊN NGÀNH: LUẬT KINH TẾ
MÃ SỐ: 60380107
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. NGUYỄN THỊ DUNG
HÀ NỘI - 2016
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU ....................................................................................................... 1
Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ PHÁP LUẬT BẢO VỆ QUYỀN
LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG ...................................................................................... 6
1.1.
Khái quát chung về quyền lợi ngƣời tiêu dùng........................................... 6
1.1.1 Khái niệm người tiêu dùng .............................................................................. 6
1.1.2. Các quyền lợi cơ bản của người tiêu dùng ...................................................... 7
1.1.3. Vị trí, vai trò của người tiêu dùng .................................................................... 8
1.2.
Sơ lƣợc lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật bảo vệ ngƣời
tiêu dùng tại Việt Nam .................................................................................. 8
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng .............................. 8
1.2.2. Nội dung của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng............................ 10
1.2.3. Giai đoạn từ trước năm 1999 ......................................................................... 12
1.2.4. Giai đoạn từ năm 1999 đến năm 2010........................................................... 13
1.2.5. Từ năm 2010 đến nay .................................................................................... 15
1.3.
Kinh nghiệm pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùngcủa một
số nƣớc trên thế giới .................................................................................... 15
2.4.
Quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa,
dịch vụ đối với ngƣời tiêu dùng theo quy định của Luật Bảo vệ quyền
lợi ngƣời tiêu dùng Việt Nam ..................................................................... 41
2.4.1. Trách nhiệm cung cấp thông tin cho người tiêu dùng ...................................42
2.4.2. Trách nhiệm cung cấp bằng chứng giao dịch cho người tiêu dùng ...............45
2.4.3. Trách nhiệm của thương nhân trong việc thực hiện hợp đồng theo mẫu và
điều kiện giao dịch chung ..............................................................................46
2.4.4. Trách nhiệm bảo hành hàng hóa, linh kiện, phụ kiện....................................49
2.4.5. Trách nhiệm thu hồi hàng hóa có khuyết tật ................................................. 51
2.4.6. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra ............. 53
2.5.
Chế tài xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùng ... 57
2.5.1. Chế tài hình sự ............................................................................................... 57
2.5.2. Chế tài dân sự ................................................................................................ 59
2.5.3. Chế tài hành chính ......................................................................................... 60
2.6.
Một số đánh giá, nhận xét về pháp luật bảo vệ quyền lợi của ngƣời
tiêu dùng ở nƣớc ta hiện nay ...................................................................... 62
Tiểu kết Chƣơng 2 .................................................................................................. 65
Chƣơng 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT BẢO VỆ
QUYỀN LỢI NGƢỜI TIÊU DÙNG Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ...................... 66
Biểu đồ 2.4
Tỷ lệ người tiêu dùng lựa chọn đâu là các cơ quan quản lý nhà
nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ...................................... 38
Biểu đồ 2.5
Tỷ lệ người tiêu dùng chọn đâu là các Tổ chức xã hội tham gia
bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng .................................................... 41
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 17/11/2010 và có hiệu lực từ ngày
01/7/2011 trên cơ sở kế thừa Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
1999. Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ra đời đã tạo lập hành lang pháp lý cần
thiết cho việc bảo vệ người tiêu dùng, xác lập được sự ổn định trong quan hệ giữa
người tiêu dùng với các tổ chức, cá nhân kinh doanh. Đồng thời, Luật Bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng cũng đã tạo ra một bước ngoặt quan trọng trong hoạt động bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam.
Tuy nhiên, sau hơn 05 năm thi hành, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
đã bộc lộ một số bất cập. Quy định pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn
hạn chế chưa bắt kịp với sự thay đổi thực tiễn trong lĩnh vực thương mại, một số
quy định về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng còn mang tính tuyên ngôn, khó thực
hiện; quy định của pháp luật hiện hành chưa xây dựng được một cơ chế giải quyết
các khiếu nại, tranh chấp hữu hiệu để người tiêu dùng có thể tự bảo vệ mình; các
quy định về thẩm quyền xử lý vi phạm chưa được phân định rõ ràng, cụ thể; có
nhiều vấn đề phát sinh trong thực tế mà chưa có quy định pháp luật điều chỉnh hay
nhiều quy định pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng chưa đồng bộ, thống
chế pháp lý để từ đó có những giải pháp bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trên cơ
sở đó, tác giả lựa chọn đề tài: “Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo pháp luật
Việt Nam hiện nay” để làm luận văn thạc sỹ Luật Kinh tế. Việc nghiên cứu đề tài
này tạo ra cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng cho việc hoàn thiện pháp luật bảo vệ
quyền lợi người tiêu dùng trong thời kỳ hội nhập hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tại Việt Nam hiện nay, những quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng
đã giúp các cơ quan quản lý nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình trong lĩnh
vực thương mại nói chung và bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng nói riêng. Pháp luật
về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tuy còn một là lĩnh vực mới mẻ, nhưng thực
tiễn đã nảy sinh nhiều tồn tại, bất cập. Chính vì thế, có khá nhiều công trình nghiên
cứu có giá trị, đáng chú ý là các công trình như: “Giáo trình Luật Bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng” của trường Đại học Luật Hà Nội;“Sổ tay Công tác Bảo vệ Người
2
Tiêu dùng” do Cục Quản Lý Cạnh Tranh - Bộ Thương Mại biên soạn năm 2006; đề
tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ: “Nghiên cứu hoàn thiện cơ chế pháp lý bảo vệ
người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam” do Viện Khoa học pháp lý
– Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện; Về Luận án Tiến sỹ, Thạc sỹ Luật học có liên quan
đến đề tài nghiên cứu như: Luận án Tiến sỹ Luật học “Hoàn thiện pháp luật bảovệ
quyền lợi người tiêu dùng ở việt nam hiện nay”của tác giả Nguyễn Thị Thư (2013);
Luận văn Thạc sỹ Luật học “Pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong
giao dịch điện tử ở Việt Nam” của tác giả Nguyễn Ngọc Quyên (2012) ...
Ngoài ra còn một số bài viết trên các tạp chí khoa học như: “Hoàn thiện pháp
luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay” của tác giả Đinh
Thị Hồng Trang (Tạp chí Dân chủ & Pháp luật số tháng 12/2014) hay bài viết
“Hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm nhằm nâng cao hiệu quả bảo vệ
người tiêu dùng ở Việt Nam”của tác giả Trương Hồng Quang (Tạp chí Luật học số
2010 đến nay.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, Luận văn chủ yếu dựa trên các phương
pháp nghiên cứu sau:
Ở chương 1, Luận văn được thực hiện trên cơ sở nguyên lý của chủ nghĩa Mác
- Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm lập pháp của Đảng, Nhà nước và các
chủ trương chính sách, Nghị quyết của Đảng, Nhà nước về kinh tế thị trường để đưa
ra những khái niệm, đặc điểm của vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng theo quy
định của pháp luật Việt Nam hiện hành.
Ở chương 2, Luận văn sử dụng chủ yếu là phương pháp phân tích, tổng hợp,
so sánh, khảo sát thực tiễn, thu thập số liệu liên quan đến thực tiễn triển khai thi
hành pháp luật bảo vệ người tiêu dùng.
Ở chương 3, Luận văn sử dụng phương pháp tổng hợp để đưa ra các kiến nghị
nhằm hoàn thiện vấn đề nghiên cứu.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa về mặt lý luận: Luận văn là công trình nghiên cứu một cách có hệ
thống về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, những quy định còn bất cập,
chưa phù hợp tồn tại trong quy định của pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng trong
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, từ đó kiến nghị những sửa đổi
hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.
4
Ý nghĩa về mặt thực tiễn: Luận văn nghiên cứu các quy định pháp luật hiện
hành về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, với kết quả phân tích đánh giá quy định
của pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật về bảo vệ quyền lợi của người tiêu
dùng, Luận văn góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ quyền lợi của người
tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay. Bên cạnh đó, Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho những người quan tâm nghiên cứu về pháp luật bảo vệ quyền lợi của
được coi là người tiêu dùng theo cách hiểu của pháp luật bảo vệ người tiêu dùng. Ví
dụ: một chủ hộ bán bún chả, khi mua bún từ chủ hộ chuyên sản xuất bún sẽ không
được coi là người tiêu dùng mà chỉ những người vào bún chả hoặc ăn bún chả từ
quán ăn của chủ hộ bán bún chả mới là người tiêu dùng.
Tuy nhiên, cũng có quan niệm khác cho rằng, người tiêu dùng phải bao gồm
cả những tổ chức, những doanh nghiệp mua hàng hoá, dịch vụ của người khác để
sử dụng vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung ứng dịch vụ của mình.
Ở nhiều quốc gia trên thế giới, với tư cách là khái niệm pháp lý, khái niệm
người tiêu dùng chỉ mới được sử dụng phổ biến khoảng từ những năm 1960 trở lại
đây. Người tiêu dùngđược hiểu là người mua, sử dụng hàng hoá, dịch vụ cho các
6
mục đích không phải là mục đích thương mại. Ở Việt Nam, khái niệm người tiêu
dùng đã được thừa nhận trong Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
1999 và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010. Hai văn bản quy phạm
pháp luật này đều quy định: “Người tiêu dùng là người mua, sử dụng hàng hóa,
dịch vụ cho mục đích tiêu dùng, sinh hoạt của các nhân, gia đình, tổ chức”.[1, tr.8].
Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng Việt Nam không quy định về hàng hóa,
dịch vụ tiêu dùng. Tuy vậy, có thể hiểu được rằng, đó là những gì được phép lưu
thông và được người ta mua về để sử dụng cho các mục đích sinh hoạt, tiêu dùng cá
nhân, cho gia đình. Cũng tương tự các nước, điều kiện về mục đích cũng được sử
dụng để xác định người tiêu dùng theo Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm
2010. Người tiêu dùng mua, sử dụng hàng hóa cho mục đích sinh hoạt, tiêu dùng.
Như vậy, trong một nền kinh tế, sức mua của người tiêu dùng chính là đòn
bẩy, là động lực thúc đẩy các hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ phát triển. Bởi
vậy, bảo vệ các quyền lợi cơ bản của người tiêu dùng được đặt ra như một yêu cầu
tất yếu khách quan, cần có sự kết hợp của nhiều biện pháp, mà trước hết là việc
hoàn thiện các quy định của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
tiêu dùng góp phần quyết định giá cả, số lượng, chất lượng hàng hoá. Có thể nói,
người tiêu dùng có ảnh hưởng lớn đến những quyết sách về kinh tế, dù là của khu
vực nhà nước hay của khu vực tư nhân, người tiêu dùng tạo ra nền kinh tế thị
trường và quyết định sự phát triển của nó. Tuy nhiên, đây là mối quan hệ hai mặt
của một vấn đề, nên người tiêu dùng cũng bị ảnh hưởng theo hai chiều tích cực và
tiêu cực từ nền kinh tế thị trường.
Ngoài ra, người tiêu dùng là mục tiêu phấn đấu của các doanh nghiệp trong
cạnh tranh. Bởi lẽ, việc giành giật thị trường trong đó có bao hàm cả giành giật
người tiêu dùng. Theo nghĩa đó, người tiêu dùng là một trong những yếu tố thúc đẩy
sản xuất phát triển sản xuất, phát triển kinh tế. Vì vậy, chính sách kinh tế vĩ mô của
các quốc gia khi khuyến khích phát triển và tăng trưởng kinh tế thường bao hàm cả
chính sách kích cầu, tăng “cường độ” và mức độ tiêu dùng trong dân chúng tức là
tăng tính cách và chức năng “người tiêu dùng” trong xã hội.
1.2. Sơ lƣợc lịch sử hình thành, phát triển của pháp luật bảo vệ ngƣời tiêu
dùng tại Việt Nam
1.2.1. Khái niệm và đặc điểm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
Khái niệm pháp luật bảo vệ người tiêu dùng: Pháp luật bảo vệ người tiêu dùng
8
là hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành hoặc thừa nhận,
điều chỉnh các quan hệ giữa người tiêu dùng và các nhà kinh doanh chuyên nghiệp
(hay còn gọi là thương nhân) khi người tiêu dùng mua, sử dụng hàng hóa, dịch vụ
của thương nhân nhằm bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng, hợp pháp của người tiêu
dùng. Theo đó các văn bản quy phạm pháp luật này quy định quyền của người tiêu
dùng, nghĩa vụ của thương nhân đối với sản phẩm, ngăn chặn các giao dịch không
công bằng, bảo vệ lợi ích chính đáng của người tiêu dùng.
Có thể thấy những quan hệ mua bán giữa thương nhân với người tiêu dùng chỉ
thuần túy là đối tượng điều chỉnh truyền thống của luật dân sự. Quan hệ này không
về bảo vệ người tiêu dùng như Sale of Goods Act 1979 (luật bán hàng). Unfair
Contract Terms Act 1977 (luật về các điều khoản không công bằng) và đến
Consumer Protection Act 1987 (luật bảo vệ người tiêu dùng) thì trách nhiệm sản
phẩm được quy định chung với luật bảo vệ người tiêu dùng theo hướng dẫn của
Chỉ thị 85/374/EEC năm 1985 của Hội đồng châu Âu về trách nhiệm sản phẩm.
Ở Việt Nam, quy định về trách nhiệm sản phẩm được quy định trong Luật Bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010.
Thứ ba, thiết lập những ngoại lệ so với những nguyên tắc tố tụng dân sự
truyền thống nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng tham gia giải quyết
tranh chấp liên quan đến việc quyền lợi của mình bị vi phạm
Đây là những ngoại lệ về điều kiện hình thức khi khởi kiện hoặc giảm nhẹ
nghĩa vụ chứng minh. Chẳng hạn như khởi kiện tập thể (class action ở Hoa Kỳ,
Sammelklage ở Đức) hoặc đảo nghĩa vụ chứng minh (Beweislastumkehr – Đức).
Theo Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Việt nam, người tiêu dùng cũng
được giảm nhẹ nghĩa vụ chứng minh, họ chỉ phải chứng minh sự thiệt hại còn nhà
cung cấp hàng hóa, dịch vụ sẽ phải chứng minh về việc không tồn tại mối quan hệ
nhân quả giữa hành vi sản xuất, cung cấp hàng hóa, dịch vụ với những thiệt hại của
người tiêu dùng hay chứng minh mình không có lỗi (Điều 42).[15, tr.24-25]
1.2.2. Nội dung của pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng.
Từ thực tế triển khai công tác bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng tại Việt Nam
hơn 10 năm qua kết hợp tham khảo quy định của nhiều nước trên thế giới, Luật Bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng bao gồm những nhóm nội dung cơ bản sau:
10
Thứ nhất, Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định về quyền và nghĩa
vụ của người tiêu dùng
Đối với quyền của người tiêu dùng, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu Việt
Nam đặc biệt lưu ý một số quyền sau: Quyền được cung cấp thông tin; Quyền được
dùng tự kiểm tra về số lượng, khối lượng của hàng hóa.
Thứ ba, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng quy định các hành vi bị
cấm, giải quyết tranh chấp và xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi
người tiêu dùng
Hiện nay, nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng, pháp luật Việt Nam đã
xây dựng hệ thống các chế tài áp dụng đối với tổ chức, cá nhân kinh doanh có hành vi
xâm phạm quyền lợi hợp pháp của người tiêu dùng. Ngoài những quy định về trách
nhiệm của các cá nhân, tổ chức kinh doanh trong việc bảo vệ người tiêu dùng, pháp
luật về bảo vệ người tiêu dùng cần có hệ thống các chế tài xử lý vi phạm nhằm bảo
đảm quyền lợi của người tiêu dùng nói riêng, thiết lập một trật tự xã hội trong quan
hệ mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ nói chung. Việc áp dụng chế tài dân sự hoặc
hình sự hay hành chính phụ thuộc vào tính chất, mức độ của hành vi vi phạm.
1.2.3. Giai đoạn từ trước năm 1999
Tại Việt Nam, vấn đề bảo vệ người tiêu dùng được đặt ra kể từ sau Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng cộng sản Việt Nam năm 1986, việc thừa nhận
nền kinh tế thị trường, hội nhập kinh tế quốc tế đã đánh dấu bước chuyển biến tích
cực của nền kinh tế nước ta từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Ở giai đoạn
này, do duy trì quá lâu cơ chế tập trung quan liêu bao cấp mà theo đó, hệ thống
phân phối theo chế độ tem phiếu đã thủ tiêu bản chất của quan hệ trao đổi theo quy
luật giá trị và quy luật cung cầu nên trong xã hội không hình thành quan hệ mua
bán. Mà không có quan hệ mua bán thì sẽ không có quan hệ giữa người tiêu dùng và
nhà sản xuất kinh doanh, không phát sinh nhu cầu phải bảo vệ quyền lợi người tiêu
dùng. Tuy nhiên, kể từ sau Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, nền kinh tế nước
ta đã chuyển từ nền kinh tế kế hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường có sự
quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Với việc hình thành nền
kinh tế thị trường, khái niệm người tiêu dùng xuất hiện với đúng nghĩa là thành tố
của thị trường. Cũng từ đây, ý kiến, nguyện vọng của người tiêu dùng không còn là
12
Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua và có hiệu lực từ
13
ngày 01/10/1999. Với 6 chương, 30 điều, Pháp lệnh này đã phần nào thể chế hóa
đường lối, chính sách của Đảng, cụ thể hóa các quy định của Hiến pháp năm 1992
về vấn đề bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Sự ra đời của Pháp lệnh Bảo vệ quyền
lợi người tiêu dùng đã đánh dấu một bước tiến dài của nhận thức trong lĩnh vực lập
pháp nói riêng và của xã hội nói chung về mối quan hệ dân sự giữa người tiêu
dùng và nhà sản xuất, kinh doanh. Ngoài ra, Pháp lệnh Bảo vệ quyền lợi người
tiêu dùng là văn bản pháp lý mang tính tổng hợp đầu tiên quy định đầy đủ quyền
và nghĩa vụ của người tiêu dùng, trách nhiệm của các ngành, các cấp chính
quyền, trách nhiệm của nhà sản xuất, các tổ chức xã hội đối với quyền lợi người
tiêu dùng; là chất xúc tác cho sự xuất hiện của hàng loạt các văn bản pháp quy
khác về bảo vệ người tiêu dùng.
Để thực thi Pháp lệnh bảo vệ người tiêu dùng, ngày 02/10/2001, Chính phủ
ban hành Nghị định số 69/2001/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Pháp lệnh Bảo vệ
người tiêu dùng. Nghị định gồm 6 chương, 24 Điều quy định chi tiết việc thi hành
Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng theo những nguyên tắc được nêu trong Pháp lệnh.
Nghị định không nhắc lại quyền của người tiêu dùng nhưng có thêm chương quy
định về tổ chức bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Nội dung các chương khác tương
tự như nội dung trong Pháp lệnh nhưng được quy định chi tiết hơn. Tuy còn ở mức
độ khác nhau, các quyền của người tiêu dùng nêu trong Pháp lệnh bảo vệ người tiêu
dùng 1999 của Việt Nam, về cơ bản, đã cụ thể hóa được 8 quyền của người tiêu
dùng được Quốc tế người tiêu dùng (CI) và Liên hợp quốc công bố.
Bên cạnh việc ban hành Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng, còn có một số văn
bản quy phạm pháp luật liên quan đến vấn đề bảo vệ người tiêu dùng được ban hành
như: Chỉ thị số 31/1999/CT-TTg ngày 27/10/1999 của Thủ tướng Chính phủ về đấu
tranh chống sản xuất và buôn bán hàng giả, Pháp lệnh Chất lượng hàng hóa năm
người tiêu dùng cùng với sự phát triển, ổn dịnh, bền vững của xã hội và đất
nước.[15, tr.36-39]
1.3. Kinh nghiệm pháp luật về bảo vệ quyền lợi ngƣời tiêu dùngcủa một số
nƣớc trên thế giới
1.3.1. Kinh nghiệm pháp luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của Hoa Kỳ
Hoa Kỳ là một trong những quốc gia đi tiên phong trong công tác bảo vệ
người tiêu dùng. Ngay từ những năm 1960-1970, ở cấp liên bang và cấp bang, hàng
loạt đạo luật bảo vệ người tiêu dùng được ban hành. Hoa Kỳ là quốc gia tiên phong
15
cho phép áp dụng chế độ trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt theo đó người tiêu
dùng có quyền khởi kiện đòi bồi thường nhà sản xuất nếu bị thương tổn từ các
khuyết tật do hàng hóa có khuyết tật mà không cần phải chứng minh nhà sản xuất
có lỗi trong việc gây ra các khuyết tật ấy. Hoa Kỳ cũng là quốc gia thực hiện các
biện pháp cải cách cần thiết để khuyến khích người tiêu dùng sử dụng cơ chế khởi
nghiệp tập thể bảo vệ quyền lợi của mình, chống lại các hành vi vi phạm từ phía các
công ty, các tập đoàn doanh nghiệp.
Mục tiêu của chính sách bảo vệ người tiêu dùng của Hoa Kỳ là nhằm ngăn
chặn các hành vi kinh doanh gian dối trên thị trường. Để thực hiện mục tiêu này,
các cơ quan bảo vệ người tiêu dùng thực hiện 3 biện pháp sau:
- Xác định các hành vi kinh doanh gian dối, không lành mạnh gây thiệt hại tới
lợi ích người tiêu dùng.
- Ngăn chặn các hành vi kinh doanh gian dối, không lành mạnh thông qua
việc thực thi pháp luật.
- Hạn chế thiệt hại cho người tiêu dùng thông qua việc giáo dục người tiêu dùng.
Trách nhiệm bảo vệ người tiêu dùng được chia sẻ cho nhiều cơ quan khác
nhau ở cấp liên bang, bang và thành phố. Tuy nhiên, ở Hoa Kỳ, cơ quan chịu trách
nhiệm thực thi chủ yếu là Ủy ban Thương mại liên bang Hoa Kỳ. Ủy ban Thương
Theo quy định, các nhà sản xuất kinh doanh bắt buộc phải công bố tiêu chuẩn
chất lượng hàng của mình, đồng thời phải hướng dẫn cách sử dụng hàng hóa. Ở
Pháp có Trung tâm nghiên cứu và quan sát các điều kiện sinh sống (CREDOC),
Tổng cục Cạnh tranh tiêu dùng và chống hàng giả (DGCCRF), Viện tiêu dùng quốc
gia (INC), và còn có hàng trăm tổ chức quần chúng tự nguyện ở cấp quốc gia, quận
huyện và cơ sở để bảo vệ người tiêu dùng. Mỗi tổ chức quần chúng đó đều có cơ
quan ngôn luận của mình phát hành hàng chục vạn bản mỗi kỳ, tạo nên một sức ép
dư luận lớn đối với các nhà kinh doanh sản xuất. Nhà nước hàng năm trích một
phần ngân sách để trợ cấp cho các hội tiêu dùng này hoạt động có hiệu quả.
Khi có xảy ra tranh chấp, khiếu nại thì trước hết người tiêu dùng bàn bạc, thỏa
thuận trực tiếp với nhà kinh doanh, hoặc thông qua công đoàn (tức Hội nghề
nghiệp) của nhà kinh doanh. Tiếp đó, có thể nhờ sự can thiệp của Viện Tiêu dùng
quốc gia. Cuối cùng mới là nhờ luật pháp can thiệp. Ở Pháp, người tiêu dùng có thể
yêu cầu sự can thiệp của Viện Công tố quốc gia.
17