TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
NIÊN KHÓA: 2008 – 2012
ĐỀ TÀI:
Giảng viên hướng dẫn:
Th.S. Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Sinh viên thực hiện:
Trần Thị Ngọc Quyền
Bộ môn: Luật tư pháp
MSSV: 5085993
Lớp
Cần Thơ, năm 2012
: Tư pháp 2 k34
MỤC LỤC
Trang
LỜI NÓI ĐẦU.....................................................................................................1
1. Tính cấp thiết của đề tài..................................................................................1
2. Mục đích nghiên cứu đề tài ...........................................................................2
1.5.3. Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí
tuệ (Hiệp định TRIPS) .......................................................................................... 23
CHƯƠNG 2: QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ BẢO HỘ QUYỀN
CỦA NGƯỜI BIỂU DIỄN
2.1. Điều kiện bảo hộ quyền của người biểu diễn ................................................ 25
2.1.1. Chủ thể được bảo hộ quyền của người biểu diễn ....................................... 25
2.1.2. Các đối tượng được bảo hộ ....................................................................... 26
2.1.3. Thời điểm phát sinh quyền của người biểu diễn ........................................ 27
2.1.4. Thời hạn bảo hộ quyền của người biểu diễn .............................................. 28
2.2. Nội dung quyền của người biểu diễn ............................................................ 29
2.2.1. Quyền nhân thân ....................................................................................... 29
2.2.2. Quyền tài sản ............................................................................................ 31
2.3. Đăng ký bảo hộ quyền của người biểu diễn.................................................. 32
2.3.1. Khái niệm đăng bảo hộ quyền của người biểu diễn ................................... 32
2.3.2. Lợi ích của việc đăng ký ........................................................................... 32
2.3.3. Chủ thể yêu cầu cấp Giấy chứng nhận....................................................... 33
2.3.4. Các bước tiến hành đăng ký ...................................................................... 33
2.4. Chuyển giao quyền của người biểu diễn....................................................... 36
2.4.1. Chuyển nhượng quyền của người biểu diễn............................................... 37
2.4.2. Chuyển quyền sử dụng quyền của người biểu diễn.................................... 38
2.4.3. Giới hạn quyền của người biểu diễn. ......................................................... 40
2.4.3.1. Sử dụng quyền của người biểu diễn không phải xin phép không phải trả
tiền thù lao cho người biểu diễn ............................................................................ 40
2.4.3.2. Sử dụng quyền của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn không phải xin
phép phải trả tiền thù lao cho người biểu diễn ....................................................... 42
2.5. Hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn. ............................................ 44
2.5.1. Các hành vi xâm phạm quyền của người biểu diễn.................................... 44
2.5.1.1. Chiếm đoạt quyền của người biểu diễn................................................... 44
3.3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ quyền của người biểu diễn .. 80
3.3.2.1. Hoàn thiện quy định pháp luật về bảo hộ quyền của người biểu diễn... 80
3.3.2.2. Đẩy mạnh tuyên truyền nâng cao nhận thức của người biểu diễn và
những chủ thể liên quan hiểu đúng và đầy đủ về quyền và nghĩa vụ của mình ...... 81
3.3.2.3. Thành lập tổ chức quản lý tập thể quyền của người biểu diễn .............. 82
3.3.2.4. Tăng cường các biện pháp xử lý vi phạm và hợp tác quốc tế trong công
tác bảo hộ quyền của người biểu diễn ................................................................... 84
3.3.2.5. Tăng cường vai trò của Tòa án trong công tác bảo hộ quyền của người
biểu diễn ............................................................................................................... 85
KẾT LUẬN ..................................................................................................................... 87
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
VĂN BẢN PHÁP LUẬT QUỐC TẾ
1. Công ước Rome bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ
chức phát sóng năm 1961
2. Hiệp ước về biểu diễn và bản ghi âm (WPPT) của WIPO năm 1996
3. Hiệp định các khía cạnh liên quan đến thươg mại của quyền sở hữu trí tuệ
(Hiệp định TRIPS)
VĂN BẢN PHÁP LUẬT TRONG NƯỚC
1. Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001, Nhà xuất bản chính
trị quốc gia Hà Nội năm 2008
2. Bộ luật Dân sự năm 1995, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội năm
SÁCH, BÁO, TẠP CHÍ
1. Vụ công tác lập pháp, Những nội dung cơ bản của Luật Sở hữu trí tuệ, Nhà
xuất bản tư pháp Hà Nội, năm 2006.
2. Đinh Thị Mai Phương, Cẩm nang Pháp luật về sở hữu trí tuệ và chuyển
giao công nghệ, Nhà xuất bản chính trị quốc gia Hà Nội, năm 2004.
3. Tổ chức Sở hữu trí tuệ thế giới (WIPO), Cẩm nang sở hữu trí tuệ: Chính
sách, pháp luật và áp dụng, năm 2005.
4. Nguyễn Mạnh Bách, Tìm hiểu Bộ luật Dân sự về Sở hữu trí tuệ, Nhà xuất
bản Đồng Nai, năm 2001.
MỘT SỐ TRANG WEB
1. Lê Hoài Dương, Bảo vệ ca sĩ hay nhà đầu tư,
http://www.thesaigontimes.vn/Home/doanhnghiep/phapluat/25054/; [22/02/2012]
2.
Cao Hoài An, Quyền của người biểu diễn trong làm ngơ, ngoài phớt lờ,
http://www.phunuonline.com.vn/2010/Pages/quyen-cua-nguoi-bieu-dien-tronglam-ngo-ngoai-phot-lo.aspx; [20/2/2012].
3. Theo Báo mới, Phát sóng không có tài tài trợ, xài ca khúc vẫn phải trả
tiền, http://www.baomoi.com/Phat-song-khong-co-tai-tro-Xai-ca-khuc-van-phaitra-nhuan-but/45/3015676.epi; [27/2/2012]
4. Theo báo mới, Quyền của nghệ sĩ biểu diễn thiếu người thu nợ,
http://www.baomoi.com/Quyen -cua-ca-si-bieu-dien-Thieu-nguoi-thuno/71/38096114.epim; [15/3/2012]
5. Thanh Hải, Ca sĩ nhạc công được bảo vệ quyền biểu diễn,
http://www.baomoi.com/Ca-si-nhac-cong-duoc-bao-ve-quyen-bieudien/71/3811347.epi; [15/2/2012]
6. Nguyệt Biều, Quyền của người biểu diễn: Tranh chấp vì…lơ mơ,
17. Phụ lục: Quản lý tập thể quyền tác giả, quyền liên quan,
http://www.tinkinhte.com/luat/so-huu-tri-tue/phu-luc-quan-ly-tap-the-quyen-tacgia-va-quyen-lien-quan.nd5-dt.33553.021154.html; [25/2/2012]
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
.............................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
...............................................................................................................................
...............................................................................................................................
trong đó có Việt Nam. Chưa bao giờ hết vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ lại
được đặt ra một cách cấp bách như hiện nay.
Sự hội nhập vào nền kinh tế thế giới đang tạo cơ hội rất lớn cho sự phát
triển của Việt Nam về mọi mặt. Tuy nhiên bên cạnh đó nó cũng đem đến không ít
khó khăn và thử thách đối với chúng ta. Sự non trẻ về kinh nghiệm, tính cạnh
tranh và chưa hoàn thiện của hệ thống pháp luật đang là những khó khăn mà
những nước đang phát triển như Việt Nam phải đối mặt trong công tác bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ ở thời điểm hiện nay.
Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ đóng một vai trò quan trọng cho sự phát triển
của một quốc gia. Nhận biết được vấn đề đó Đảng và Nhà nước ta đã rất quan
tâm đến lĩnh vực sở hữu trí tuệ từ rất sớm. Vì để phát triển toàn diện mọi mặt đời
sống xã hội đòi hỏi chúng ta không chỉ phát triển về kinh tế nâng cao đời sống vật
chất mà còn phải quan tâm đến đời sống tinh thần của người dân và một trong
những nhu cầu đó chính là giải trí.
Người biểu diễn đã góp phần làm phong phú đời sống tinh thần của người
dân. Mặc dù nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, các cơ quan Nhà
nước có thẩm quyền đã ban hành nhiều văn bản điều chỉnh về vấn đề quyền liên
quan đến quyền tác giả trong đó có quyền của người biểu diễn. Tuy nhiên những
quy định này vẫn chưa đầy đủ và còn nhiều điểm chưa phù hợp. Bên cạnh đó do
vấn đề bảo hộ quyền của người biểu diễn là một lĩnh vực mới và khá phức tạp ở
Việt Nam hiện nay. Ngoài ra, sự phát triển nhanh chóng của công nghệ đã góp
phần làm gia tăng các hành vi xâm phạm, ý thức của bản thân người biểu diễn
trong công tác bảo hộ quyền cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến
những khó khăn trong công tác bảo hộ quyền của người biểu diễn hiện nay. Từ
những nguyên nhân trên làm cho công các bảo hộ quyền của người biểu diễn
đang là vấn đề được quan tâm nhiều hiện nay. Và cũng chính vì những lý do đó
mà người viết đã chọn đề tài “BẢO HỘ QUYỀN CỦA NGƯỜI BIỂU DIỄN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM” để làm đề tài nghiên cứu hoàn thành chương
trình cử nhân Luật của mình. Tuy nhiên, do sự hạn chế về thời gian, kinh nghiệm
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Quyền của người biểu diễn, một quyền mà hầu hết các quốc gia trên thế
giới đều ghi nhận và bảo vệ. Nhằm ghi nhận sự đóng góp của người biểu diễn
trong quá trình lao động nghệ thuật của họ. Các quốc gia đã dành những điều
khoản nhất định để bảo vệ quyền lợi cho người biểu diễn để khuyến khích sáng
tạo nghệ thuật. Thậm chí các quốc gia còn hợp tác với nhau trong việc bảo hộ
quyền cho người biểu diễn trên phạm vi toàn cầu. Các quốc gia đã cùng thông
qua những Hiệp ước quốc tế quy định những chuẩn mực chung trong việc bảo hộ
quyền của người biểu diễn.
Tuy nhiên trong phạm vi đề tài này, người viết không đi vào nghiên cứu
các qui định của quốc tế trong việc bảo hộ quyền của người biểu diễn. Người viết
chỉ nêu khái quát về những Hiệp ước quốc tế về quyền của người biểu diễn. Sau
đó tập trung vào phần quyền của người biểu diễn, một trong những quyền liên
quan đến quyền tác giả theo quy định của Pháp luật Việt Nam. Phân tích những
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Trang 2
SVTH: Trần Thị Ngọc Quyền
LVTN
BẢO HỘ QUYỀN CỦA NGƯỜI BIỂU DIỄN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
vụ việc vi phạm xảy ra trên thực tế từ đó thấy được những bất cập và đề ra giải
pháp khắc phục, nâng cao hiệu quả công tác bảo hộ quyền của người biểu diễn.
4. Phương pháp nghiên cứu
1.1. Lược sử hình thành và phát triển về quyền của người biểu diễn
1.1.1. Trên thế giới
Khi xã hội phát triển mức sống của người dân được nâng cao thì nhu cầu về
tinh thần cũng được quan tâm hơn. Chính vì vậy các quốc gia có nền kinh tế phát
triển chính là những quốc gia có nền giải trí phát triển và tiên phong trong việc
bảo vệ quyền của người biểu diễn. Khi việc biểu diễn phát triển, số lượng và vai
trò của người biểu diễn ngày càng tăng thì việc pháp luật có những quy định dành
cho họ là điều tất yếu nhằm bảo vệ quyền lợi của họ, khuyến khích quá trình lao
động sáng tạo phục vụ nhu cầu tinh thần của người dân. Tuy vậy do nhiều nguyên
nhân mà quyền của người biểu diễn lại được ra đời muộn hơn so với các lĩnh vực
khác của sở hữu trí tuệ. Do vị trí và vai trò của người biểu diễn không được quan
tâm như những lĩnh vực khác. Bên cạnh đó do ở giai đoạn ban đầu hình thức biểu
diễn đơn thuần chỉ là người biểu diễn trình diễn những tác phẩm một cách trực
tiếp trước công chúng, công nghệ thu âm, ghi hình chưa phát triển nên việc quản
lý và bảo vệ quyền cho người biểu diễn dễ dàng hơn hiện nay. Thông qua việc
soát vé người biểu diễn có thể kiểm soát được số lượng công chúng tiếp cận với
cuộc biểu diễn của mình. Vì vậy, việc bảo hộ quyền của người biểu diễn không
cần thiết như giai đoạn hiện nay.
Nền tảng cho sự ra đời của những quy định bảo vệ quyền của người biểu
diễn đó chính là sự bảo hộ quyền tác giả khi công nghiệp in ấn xuất hiện. Quốc
gia đầu tiên ban hành luật về tác giả là nước Anh, nơi khởi nguồn của cuộc cách
mạng công nghiệp (Theo Luật Nữ hoàng Anne năm 1709)1. Sau đó đến lượt Mỹ
(1790), Pháp (1791) và Đức... Kể từ khi Luật về quyền tác giả ra đời các loại hình
được bảo hộ dưới dạng quyền tác giả ngày một tăng, cùng với sự phát triển của
các phương tiện lưu trữ, truyền thông. Ban đầu là các tác phẩm viết, tác phẩm sân
khấu, rồi đến tác phẩm điện ảnh, video, phần mềm máy tính và gần đây là
phương tiện truyền thông đa phương tiện và internet. Thông qua việc bảo hộ các
1
việc bảo hộ quyền của người biểu diễn, cho thấy đã có sự nhận thức về vai trò
của việc bảo hộ quyền của người biểu diễn. Với sự phát triển không ngừng của
công nghệ giải trí và vai trò của người biểu diễn được chú trọng trong tương lai
chắc chắn những quy định về bảo hộ quyền của người biểu diễn sẽ được quan
tâm hơn nữa.
1.1.2. Ở Việt Nam
1.1.2.1. Trước khi có Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005
Do tình hình kinh tế xã hội của đất nước nên mãi đến năm 1957 miền Nam
mới ban hành văn bản đầu tiên về sở hữu trí tuệ. Năm 1957 ban hành Luật thương
hiệu và năm 1958 chính phủ Việt Nam Dân Chủ cộng hòa ban hành “thể lệ về
thương phẩm và thương hiệu”. Tuy nhiên, giá trị thực tiễn của các văn bản này
chưa cao. Năm 1976, Việt Nam tham gia vào Tổ chức Sở hữu Trí tuệ Thế giới
(WIPO). Đánh dấu bước ngoặc phát triển của nước ta trong việc bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ. Trong giai đoạn này các văn bản điều chỉnh về lĩnh vực sở hữu công
nghiệp là chủ yếu.
Việc bảo hộ quyền tác giả tại Việt Nam xuất hiện muộn hơn các nước trên
thế giới. Văn bản pháp lý đầu tiên đánh dấu sự kiện này là Nghị định số
142/HĐBT ngày 14 tháng 11 năm 1980 của Hội đồng bộ trưởng. Bước phát triển
về Luật Sở hữu trí tuệ ở nước ta được đánh dấu sau Đại hội Đảng toàn quốc lần
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Trang 5
SVTH: Trần Thị Ngọc Quyền
LVTN
BẢO HỘ QUYỀN CỦA NGƯỜI BIỂU DIỄN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
nhóm quyền nhân thân và quyền tài sản. Tuy nhiên do những yêu cầu của tình
hình thực tế và những đặc điểm mang tính đặc trưng của Luật Sở hữu trí tuệ như:
Quan hệ về sở hữu trí tuệ mang cả tính chất hành chính lẫn tính chất dân sự.
Ví dụ như việc đăng ký bảo hộ mang tính chất hành chính trong khi các quy định
về quyền và nghĩa vụ lại mang tính chất dân sự.
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Trang 6
SVTH: Trần Thị Ngọc Quyền
LVTN
BẢO HỘ QUYỀN CỦA NGƯỜI BIỂU DIỄN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
Các quy định về sở hữu trí tuệ tương đối phức tạp về các khái niệm, cách
phân biệt, lại tập trung giải quyết vấn đề tài sản vô hình một vấn đề mà các phần
khác của Bộ luật Dân sự không đề cập đến. Chính vì vậy không có sự đan xen kết
hợp giữa các phần khác của Bộ luật Dân sự với phần 6 (quyền sở hữu trí tuệ và
chuyển giao công nghệ) của Bộ luật Dân sự năm 2005.
Sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực có những thay đổi thường xuyên do sự phát
triển của công nghệ nên những quy định về sở hữu trí tuệ cũng phải thường
xuyên thay đổi nhưng những quy định này lại được đặt vào Bộ luật Dân sự một
văn bản mang tính ổn định cao là điều không hợp lý.
Từ những vấn đề trên đòi hỏi phải có những văn bản điều chỉnh riêng về sở
hữu trí tuệ. Đáp ứng nhu cầu đó tại kỳ họp Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10 ngày
29 tháng 11 năm 2005 Luật Sở hữu trí tuệ đã được Quốc hội thông qua và ngày
LVTN
BẢO HỘ QUYỀN CỦA NGƯỜI BIỂU DIỄN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
đặc biệt là của bản thân người biểu diễn về những quy định của pháp luật về bảo
hộ quyền của người biểu diễn vẫn chưa hoàn thiện.
1.2. Khái niệm về quyền của người biểu diễn
1.2.1. Khái niệm người biểu diễn
Người biểu diễn tuy không phải là người trực tiếp sáng tạo ra tác phẩm
nhưng có một vai trò quan trọng trong việc truyền thụ tác phẩm đến với công
chúng. Chính vì vậy khái niệm người biểu diễn được quy định trong luật của hầu
hết các quốc gia trên thế giới nhằm xác định các chủ thể là người biểu diễn để
bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ khuyến khích hoạt động sáng tạo nghệ thuật.
Hiện nay có nhiều quan niệm khác nhau về khái niệm người biểu diễn. Theo Điều
3 (a) Công ước quốc tế bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ
chức phát sóng (Công ước Rome 1961): “Người biểu diễn là các diễn viên, ca sĩ,
nhạc công và các người khác nhập vai, hát, đọc, ngâm, trình bày, hoặc biểu diễn
khác các tác phẩm văn học nghệ thuật”. Trong Hiệp ước của Tổ chức Sở hữu trí
tuệ thế giới (WIPO) về biểu diễn và bản ghi âm (Hiệp ước WPPT) năm 1996 thì
khái niệm người biểu diễn đã được mở rộng, ngoài những chủ thể tương tự được
liệt kê trong Công ước Rome, người biểu diễn còn bao gồm người thể hiện các
tác phẩm văn học dân gian. Giống như mọi khái niệm pháp lý, khái niệm người
biểu diễn không chỉ biến đổi theo thời gian mà còn có những khác biệt theo phạm
vi lãnh thổ. Pháp luật các nước tùy thuộc điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội và kỹ
năng lập pháp đã có những điều chỉnh trong việc đưa ra khái niệm người biểu
diễn, cũng như điều kiện để được bảo hộ quyền của người biểu diễn khác nhau.
Trên cơ sở kế thừa khái niệm người biểu diễn của công ước Rome, Điều 16, Luật
Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009 đã quy định
người biểu diễn bao gồm: Diễn viên, ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người
nhạc, chương trình phát thanh, truyền hình, đạo diễn, diễn viên sân khấu và các
loại hình biểu diễn nghệ thuật khác”.
Như vậy theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 1995 thì cả người dàn dựng,
đạo diễn và tổ chức biểu diễn cũng được xem là người biểu diễn. Quy định này
của Bộ luật Dân sự năm 1995 đã không phù hợp với Điều 3 Công ước Rome năm
1961. Vì theo quy định của Công ước thì người biểu diễn chỉ là cá nhân, tổ chức
không được xem là người biểu diễn. Cũng theo quy định này của Công ước người
dàn dựng, đạo diễn không được coi là người biểu diễn. Đây cũng là một trong
những nguyên nhân dẫn đến những thay đổi của Bộ luật Dân sự năm 2005 và cả
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 cho Bộ luật Dân sự năm 1995 về vấn đề này cho
phù hợp với quy định của Công ước Rome 1961 đặc biệt khi Việt Nam đã là
thành viên của Công ước này. 2
Người biểu diễn là cá nhân không nhất thiết phải là những người biểu diễn
chuyên nghiệp, mà có hể là những người biểu diễn nghiệp dư. Đặc biệt với tình
hình thực tế của nước ta hiện nay người biểu diễn có thể là một lao động trong
biên chế nhà nước, là lao động của một doanh nghiệp ngoài quốc doanh hay lao
động tự do. Tiêu chí cơ bản của người biểu diễn là việc thể hiện các tác phẩm văn
học nghệ thuật thuộc đối tượng được bảo hộ.
Nhìn chung, người biểu diễn theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện
hành là cá nhân, tổ chức không được xem là người biểu diễn.
2
Ngày 01/12/2006 Việt Nam hoàn tất thủ tục gia nhập Công ước Rome, ngày 01/03/2007 Công ước chính
thức có hiệu lực ở Việt Nam
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Trang 9
mình đã được định hình trên bản ghi âm, ghi hình; phát sóng hoặc truyền theo cách
khác đến công chúng cuộc biểu diễn của mình chưa được định hình mà công chúng
có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng;
phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình thông qua
hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà
công chúng có thể tiếp cận được.
3
Điều 29, Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009
GVHD: Nguyễn Thị Ngọc Tuyền
Trang 10
SVTH: Trần Thị Ngọc Quyền
LVTN
BẢO HỘ QUYỀN CỦA NGƯỜI BIỂU DIỄN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.2.4. Mối quan hệ giữa quyền của người biểu diễn với quyền tác giả và
các quyền liên quan khác.
1.2.4.1. Đối với quyền tác giả
Quyền của người biểu diễn được bảo hộ dưới dạng quyền liên quan đến
quyền tác giả điều này đã chứng tỏ giữa quyền tác giả và quyền của người biểu
diễn có mối liên hệ với nhau, quyền liên quan phát sinh trên nền tảng quyền tác
giả. Người biểu diễn muốn biểu diễn được thì cần có tác phẩm, tác phẩm lại
SVTH: Trần Thị Ngọc Quyền
LVTN
BẢO HỘ QUYỀN CỦA NGƯỜI BIỂU DIỄN
THEO PHÁP LUẬT VIỆT NAM
1.2.4.2. Đối với các quyền liên quan đến quyền tác giả
Quyền liên quan đến quyền tác giả (sau đây gọi là quyền liên quan) là
quyền của tổ chức cá nhân đối với cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương
trình phát sóng, tín hiệu vệ tin mang chương trình được mã hóa (Khoản 3, Điều 4,
Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 được sửa đổi, bổ sung năm 2009). Giữa các quyền
liên quan này có mối quan hệ qua lại hỗ trợ cho nhau để cùng tồn tại và phát
triển. Chính vì vậy việc xâm phạm quyền của đối tượng này cũng có thể ảnh
hưởng đến đối tượng khác. Quyền của người biểu diễn cũng là một trong những
quyền được bảo hộ dưới dạng quyền liên quan nên cũng có mối quan hệ chặt chẽ
với các quyền liên quan khác đặc biệt là nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình và tổ
chức phát sóng.
Đối với nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình
“Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình là cá nhân hoặc pháp nhân định hình
lần đầu âm thanh của buổi biểu diễn hoặc các âm thanh khác”. 4 Theo quy định
của Công ước Rome năm 1961 thì việc bảo hộ quyền của nhà sản xuất bản ghi
hình được áp dụng theo quy định bảo hộ quyền của người sản xuất phim. Pháp
luật Việt Nam thì bảo hộ cả quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình tại Điều
30, Luật Sở hữu trí tuệ hiện hành.
Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình chính là nhịp cầu nối giữa người biểu
diễn và công chúng thông qua việc sao chép và phân phối những bản ghi âm, ghi
hình đến với công chúng. Những bản ghi âm, ghi hình muốn thực hiện được đòi
Nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình phải đảm bảo quyền nhân thân như phải
ghi đúng tên của người biểu diễn khi sản xuất các bản ghi âm, ghi hình. Khi nhà
sản xuất sử dụng các buổi biểu diễn để sản xuất bản ghi âm, ghi hình thì phải đảm
bảo sự nguyên vẹn của cuộc biểu diễn, đảm bảo cho cuộc biểu diễn không bị sửa
chữa hay cắt xén khi chưa có sự đồng ý của người biểu diễn, hình ảnh của người
biểu diễn không bị xuyên tạc làm phương hại đến danh dự và uy tín của họ.
Đối với tổ chức phát sóng
Phát sóng là việc truyền âm thanh hoặc hình ảnh hoặc cả âm thanh và hình
ảnh của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng
đến công chúng bằng phương tiện hữu tuyến hoặc vô tuyến, bao gồm cả việc
truyền qua vệ tinh để công chúng có thể tiếp nhận được tại địa điểm và thời gian
do họ lựa chọn.6
Như vậy tổ chức phát sóng chính là tổ chức thực hiện việc truyền âm thanh
hoặc hình ảnh hoặc cả âm thanh và hình ảnh của tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản
ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng bằng phương tiện hữu tuyến hoặc vô
tuyến, bao gồm cả việc truyền qua vệ tinh để công chúng tiếp nhận.
Tổ chức phát sóng hiện nay ở nước bao gồm đài phát thanh và đài truyền
hình. Thông qua tổ chức phát sóng là một cách để người biểu diễn đưa cuộc biểu
diễn đến với công chúng hiệu quả. Vì nếu chỉ thông qua việc biểu diễn trực tiếp
thì số lượng công chúng tiếp cận được với cuộc biểu diễn là rất hạn chế hoặc nếu
chỉ thông qua việc ghi âm, ghi hình trên đĩa CD thì cũng hạn chế số lượng công
chúng biết đến cuộc biểu diễn vì chỉ có những người có điều kiện mua được CD
mới tiếp cận được với cuộc biểu diễn. Thông qua các tổ chức phát sóng là cách
hiệu quả nhất để đưa cuộc biểu diễn hay hình ảnh của người biểu diễn đến với
công chúng vì đây là những kênh chính thống được mọi người quan tâm với mức
độ phủ sóng trên phạm vi toàn quốc thậm chí ở nước ngoài.
Khi phát sóng các chương trình thì tổ chức phát sóng cũng phải đảm bảo
quyền của người biểu diễn cả về nhân thân lẫn tài sản cho người biểu diễn. Phải
đảm bảo quyền được giới thiệu tên của người biểu diễn, chương trình không bị
cắt xén nếu không có sự đồng ý của họ. Hình ảnh của người biểu diễn không bị