LUẬN VĂN:
Dân số và sự tác động của nó tới thị
trường lao động Việt Nam
Lời nói đầu Đứng trước tình hình của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng, đó là sự phát
con người lấy đó làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững ".
Mặt khác khi nghiên cứu về nguồn nhân lực đặc biệt là trong quan hệ với dân số thực sự
cần thiết để góp phần làm sáng tỏ lý luận và thực tế ,tạo cơ sở cho việc triển khai đưa ra
những chủ trương đường lối của đảng về dân số về phát triển kinh tế xã hội vào thực tiễn
cuộc sống.Kinh nghiệm cuả nhiều nước cho thấy sự phát triển kinh tế xã hội phụ thuộc rất
lớn vào việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn tài nguyên thiên nhiên nguồn
vốn và tiến bộ khoa học, kỹ thuật ,trong đó nguồn lao động có ý nghĩa quan trọng và quyết
định .Và kinh nghiệm cũng cho thấy , nước nào biết sử dụng tiềm năng nguồn lao động
,biết phát huy nhân tố con người trong phát tiển kinh tế và khoa học kỹ thuật thì nước đó
đạt được tốc độ phát triển nhanh chóng,mặc dù nước đó là nước nghèo tài nguyên thiên
nhiên hoặc là nước đó bị tàn phá nặng nề, kiệt quệ trong chiến tranh.
Như vậy,áp dụng vào thực tế nước ta-một đất nước vốn nghèo nàn ,lạc hậu,mang nặng tính
thuần nông-việc học hỏi những kinh nghiệm của những nước tiên tiến là rất cần
thiết.Đúng như ý kiến của một nhà kinh tế Thụy Điển cho rằng:"Nền kinh tế Việt Nam
không chỉ phát triển chủ yếu vào các nguồn lực tự nhiên, chính lao động mới là nguồn lao
động chủ yếu của Việt Nam,còn vốn đầu tư và kỹ thuật bên ngoài là những nhân tố quan
trọng".
Nói tóm lại,để nhanh chóng đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đói nghèo và lạc hậu,
phát triển nhanh kinh tế xã hội và khoa học kỹ thuật, không ngừng nâng cao mức sống
người dân,để nhanh chóng đưa đất nước lên vị trí xứng đáng trên trường quốc tế ,chúng ta
phải dựa chủ yếu vào việc khai thác sử dụng và tái tạo tốt nhất nguồn sản xuất sẵn có
trong nước trong đó nguồn lao động đóng vai trò quan trọng và quyết định .Mặt khác
nguồn lao động liên quan trực tiếp và gắn liền với dân số hay nói cách khác nguồn lao
động bắt nguồn từ dân số ,dân số quyết định nguồn lao động .Do đó việc nghiên cứu mối
quan hệ này là một vấn đề quan trọng và sự nghiên cứu đó có đó là cơ sở vững chắc cho
Đảng và nhà nước ta định hướng được những chiến lược và từ đó có những phương án , giải pháp cụ thể để thực hiện những chương trình kế hoạch nhằm đạt được những mục tiêu
cuối cùng.
điều kiện mức tiền lương, tiền công nhất định.Theo kinh tế học vĩ mô cung về lao động
chính là lực lượng lao động bao gồm: người lao động trong độ tuổi lao động có việc làm và
người đang tìm việc làm nhưng không có việc làm còn gọi là thất nghiệp.
Như vậy qua định nghĩa ,ta thấy cung lao động phụ thuộc vào qui mô dân số của một
nước, chất lượng của người lao động,(trình độ văn hoá, cơ cấu nghành nghề được đào tạo
sức khoẻ, lề lối làm việc.) phong tục tập quán của một nước, chính sách phát triển nguồn
nhân lực của nước đó.
c,Khái niệm về cầu của thị trường lao động:
Cầu về thị trường lao động là đòi hỏi đặt ra đối với thị trường lao động về số lượng và chất
lượng lao động trong điều kiện một mức giá sức lao động nhất định .Cầu về thị trường lao
động phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nguồn tài nguyên của một nước,qui mô trình độ
công nghệ ,cơ cấu nghề của nền kinh tế mức tiền công(tiền lương) phong tục tập quán ,
tôn giáo và phụ thuộc vào chính sách phát triển kinh tế.
II.đặc điểm của dân số và thị trường lao động
1.Đặc điểm về dân số: Theo tài liệu tổng điều tra dân số ngày 11/4/1989 nước ta có 64,4
triệu dân, đứng thứ 12 trên thế giới .Mật độ dân số trung bình trên cả nước là 195
người/km
2
đứng thứ ba ở Đông Nam á và thứ 13 trong số 42 nước thuộc khu vực Châu á -
Thái Bình Dương .Số người trong độ tuổi lao động là 35 triệu.Với nguồn dân số và lao
động như vậy nước ta có một lợi thế cho sự phát triển , có điều kiện cho việc thực hiện sự
phân công lao động xã hội ,thực hiện chuyên môn hoá và hiệp tác hoá là tiền đề cho sự
hình thành thị trường thống nhất -một nhân tố quan trọng cho sự phát triển.
Đó là những nét chung,từ đó ta xem xét cụ thể những đặc điểm sau đây của dân số:
a,Dân số tập trung chủ yếu ở nông thôn, lao động nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn:
Số liệu điều tra năm 1989 cho thấy 79,1% dân số cả nước sống ở nông thôn, chỉ có
20,1% sống ở thành thị .Trong nông nghiệp,lao động trồng trọt chiếm tỷ lệ cao (71,99%)
trong đó chủ yếu trồng cây lương thực ,lao dộng nông thôn và Lâm nghiệp chiếm tỷ trọng
nhỏ.
2606
9,7
Xây d
ựng
391
2,1
Nông
lâm ngư nghi
ệp
20671
71,9Giao thông , bưu đi
ện
622
4,0
Thương nghi
đ
ộ chuyên môn kỹ thuật
T
ỷ trọng (%)
Công nhân k
ỹ thuật có bằng
24,1
9
Công nhân k
ỹ thuật không bằng
20,21
Trung h
ọc chuyên nghiệp
35,27
Đ
ại học và cao
đ
ẳng trở lên
20,32
kinh tế quốc dân.
d, Dân số phát triển ở mức độ cao:
Bước vào nửa sau của thế kỷ XX,dân số Việt Nam phát triển nhanh thời kỳ 1954-1980
do tình hình chính trị ổn định, kinh tế phục hồi và phát triển, qui luật dân số tăng lên sau
chiến tranh làm cho dân số nước ta tăng lên với tốc độ kỷ lục: 3,93%/năm .Trong thời kỳ
1979-1989,tỷ lệ dân tăng dân số bình quân ở mức 2,1%.Với mức tăng như vậy chỉ trong
vòng 30 năm nữa dân số nước ta sẽ tăng lên gấp đôi, vào năm 2000 dân số nước ta sẽ là
80000, trong đó lực lượng lao động là 45 triệu, tăng 10 triệu so với năm 1989.
2.Đặc điểm về thị trường lao động.
a,áp lực lớn về việc làm:
Lực lượng lao động ở Việt Nam trong những năm gần đây đã liên tục tăng với tốc độ
cao,một mặt tạo nguồn lực lớn cho phát triển đất nước nhưng mặt khác cũng tạo ra áp lực
lớn về đào tạo nghề và giải quyết việc làm.
Tác dụng cả tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế đối với việc thu hút ,
chuyển dịch cơ cấu lao động, nhưng hiện thực, tốc độ chuyển dịch cơ cấu còn rất chậm , cụ
thể :Trong vòng 10 năm kể từ năm 1990- 2000,khu vực công nghiệp và dịch vụ lực lượng lao động tăng 14,2% trong khi đó lực lượng lao động nông nghiệp chỉ giảm 4%(từ trên
72% năm 1990 xuống 68% năm 1999 ).
Những đặc điểm trên là luận chứng lý giải cho tình trạng : Thiếu việc làm và dư thừa lao
động càng trở lên bức xúc.Theo kết quả của cuộc điều tra về lao động-việc làm cho thấy tỷ
lệ thất nghiệp của lực lượng lao động trong độ tuổi ở khu vực thành thị trong những năm
gần đây có xu hướng gia tăng.Nếu năm 1986 là 5,8% thì năm 1997 là 6,01%;năm 1998 là
6,85% và năm 1999 là7,4%(trong đó nữ chiếm 8,26%) .Đồng thời tỷ lệ lao động thất
nghiệp ở khu vực thành thị chủ yếu tập trung ở lực lượng lao động có độ tuổi từ 15-24.Lực
lượng lao động ở nhóm tuổi càng cao tỷ lệ thất nghiệp càng thất .Tỷ lệ sử dụng thời gian
thời gian lao động ở khu vực nông thôn chỉ đạt khoảng 65%-75% (thiếu việc làm khoảng
30%-35%), càng chứng tỏ cho nhận định về tình trạng dư thừa lao động nói trên .
b, Cơ cấu về lao động bất hợp lý:
này ở thành thị là 42,81%b và 32,75% .Lao động làm công ăn lương ở nước ta từ 3 tháng
trở lên trong năm nhìn chung còn chiếm tỷ lệ nhỏ (17% tổng số lực lượng lao động của xã
hội , trong khi đó ở các nước có nền kinh tế phát triển tỷ lệ này thường chiếm 60-80%).
Qua một số khái niệm và đặc điểm của dân số và thị trường lao động nêu trên, ta có đủ
cơ sở, lý luận thực tiễn, để đi nghiên cứu tiếp sang phần thực trạng của vấn đề đó .Tuy
nhiên để xem xét vấn đề được hoàn thiện ta phải đề cập đến,vấn đề sự tác động của dân số
đến thị trường lao động.
3.Dân số và sự tác động tới thị trường lao động.
Trong phần này em xin điểm qua một số đặc điểm chung về mối quan hệ hay sự tác
động của dân số đến thị trường lao động. Cụ thể xin nêu trong phần thực trạng tiếp theo.
Tương ứng với tốc độ tăng dân số nhanh là sự tăng nhanh dân số trong tuổi lao động.
Cùng với sự gia tăng dân số nguồn nhân lực cũng tăng một cách đáng kể, nó được
biểu hiện bằng những con số cụ thể sau: Hiện số người chưa được sử dụng khá đông,
chiếm khoảng 6-7 triệu người.Lực lượng hữu hình này theo ước tính còn được bổ sung
mỗi năm 20-30 vạn mỗi năm .Tỷ lệ thất nghiệp ở thành phố còn ở mức cao: 6,08% cuối
năm 1994.
Như vậy, sự tác động của dân số luôn làm cho lực lượng lao động tăng cùng xu hướng
tăng của dân số từ đó tác động gián tiếp đến thị trường lao động.
CHƯƠNG II
THựC TRạNG DÂN Số ,THị TRƯờNG LAO ĐộNG
Và MốI QUAN Hệ GIữA CHúNG
I.THựC TRạNG Về DÂN Số
I.1.Quy mô dân số:
Để đi vào nghiên cứu khía cạnh qui mô dân số trước hết ta phải nhận thức được rằng :
Quy mô dân số là chỉ tiêu quan trọng nhất cần được nghiên cứu trong dân số ,vì nó cho
phép khái quát được tổng dân số của một vùng ,một quốc gia một khu vực hay trên toàn
thế giới.Những thông tin về dân số cho phép ta phân tích,so sánh với các chỉ tiêu phát triển
tổng điều tra).Với những cơ sở đó quy mô hộ được điều tra và qua đó ta đưa ra những con
số như sau:
Vào thời điểm 0 giờ ngày 1/4/1999 có 16.669 nghìn hộ đã được đăng ký,tăng 3.711
nghìn hộ so với thời điểm TĐT 1989 ( tăng 28,6%). Trong thời kỳ 1989 - 1999 ,tỷ lệ tăng
bình quân về số hộ là 2,5% so với con số 3,7% của thời kỳ 1979 - 1989.
Biểu đồ 1- số lượng và tỷ lệ tăng sốhộ từ 1979-1989.
S
ố l
ư
ợng hộ
(000)
T
ốc
đ
ộ t
ăng
(%)
T
ỷ lệ t
ăng hàng
năm (%)
TĐTDS 1979 (1 tháng 10)
9.665.866
-
Biểu2: Tỷ lệ phần trăm số hộ của từng loại hộ và quy hộ trung bình chia theo vùng,
Việt Nam 1999.
Vùng đ
ịa lí kinh
tế
T
ỷ lệ % từng loại hộ (%)
1
-
2(ngườ
i)
3(ngư
ờ
i)
4(ngư
ờ
i)
1
-
4(ngườ
i)
5(ngư
ờ
i)
6(ngư
27,1
55,4
19,8
12,6
12,2
4,6
Tây B
ắc
8,0
14,6
23,6
46,1
17,8
13,4
22,8`
51,9
19,7
13,5
15,4
4,6
Tây Nguyên
10,1
14,6
21,0
45,6
19
14,4
21,0
5,0
Đông Nam B
ộ
13,1
18,0
4,8
T
ất cả vùng
13,5
17,0
24,5
55,0
18,8
12,3
14,0
4,6
Các số liệu trong bảng cho thấy, trong phạm vi cả nước cũng như trong tám vùng địa lý
kinh tế, số hộ 4 người đèu chiếm tỷ trọng cao nhất . Số hộ 5 người chiếm tỷ trọng thứ hai
trong cả nước và cả 8 vùng. Ngược lại số hộ 3 người chiếm tỷ trọng thứ ba trong cả nước
và hầu hết ở các vùng. Qui mô gia đình nhỏ(hộ có 4 người trở xuống) là hiện tượng phổ
biến ở Việt Nam .Trên phạm vi cả nước tổng số hộ từ 1đến 4 chiếm chưa đến 50%(Tây
1994
1
-
10
-
1996
Ư
ớc 1999
T
ổn
g số
Trong đó
T
ổn
g số
Trong đó
T
ổn
g số
Trong đó
T
ổn
g số
Trong đó
36
,4
39,2
34,7
35,5
37,4
33,7
34,9
36,0
33,1
15
-
5953,9
52,6
55,0
9,8
8,6
7,3
9,7
8,5
7,9
10,1
C
ộng
100
100
100
100
100
100
cho công cuộc phát triển kinh tế .Những điều kiện thuận lợi khi tỷ lệ trẻ em phụ thuộc
giảm đó là:Một mặt là cơ hội tiết kiệm chi phí dành cho đầu tư đồng thời có điều kiện nuôi
dưỡng ,đào tạo phát triển nguồn nhân lực cho tương lai bao gồm cả về trí tuệ và thể lực
.Những khó khăn cần vượt qua đó là tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em .Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở
trẻ em mới giảm từ 43% năm 1994 xuống còn 38,8% năm 1996 và 36,68% năm 1997
,bình quân chỉ giảm được 1,4% mỗi năm ,mục tiêu đặt ra đến năm 2000 là hạ tỷ lệ này
xuống còn 30% năm 2000.
b.Người già :
Sự thay đổi tỷ trọng người già trong dân số cũng tạo ra các mối quan hệ hai chiều với sự
phát triển kinh tế ,một nguy cơ mà thực tế ở các nước phát triển là : cơ cấu người già lớn
đến một chừng mực nào đó sẽ dẫn đến thiếu lao động ,về lâu dài sẽ dẫn đến giảm sức
mạnh của đất nước .Việt Nam với trong người già 65 tuổi trở lên trong dân số khá cao .Kết
quả điều tra dân số năm 1994 cho thấy tỷ lệ người già từ 65 tuổi trở lên trong dân số ở nước ta là 5,9% .So với số liệu trong năm 1995 do ước tính của Liên Hợp Quốc tỷ lệ này ở
nước ta cao hơn mức chung ở Châu á (5,3%) ,khu vực Đông Nam á (4,3%).Điều này phản
ánh mức chết thấp và tuổi thọ bình quân của nước ta khá cao.Do đầu tư , chăm sóc y tế tốt
năm 1996 tỷ lệ này ở nước ta ta vào khoảng 5,9% và ứơc tính sẽ tăng lên khoảng 6,3% vào
năm 1999.
c.Lực lượng lao động:
Cơ cấu dân số trong độ tuổi lao động là lực lượng quan trọng nhất trong việc phát triển
kinh tế đất nước .Vào thập niên cuối cùng trước khi bước sang thế kỷ XXI ,tỷ trọng dân số
trong độ tuổi lao động ở nước ta (15-59) vẫn chiếm hơn một nửa số dân cả nước ;55%
năm 1994; 55,9% năm 1996 và ước tính chiếm khoảng 56,6% vào năm 1999.Số lượng
người lao động vào năm 1998 là 38,08 triệu người và với tốc độ tăng bình quân 3,3% năm
, lực lượng lao động năm 1999 ước tính sẽ là khoảng 39,9 triệu người .
Với những thực trạng như vậy nhưng chương trình DS-KHHGĐ ở nước ta có những
đóng góp quan trọng vào việc giảm qui mô dân số và làm thay đổi cơ cấu dân số theo
hướng tích cực : Năm 1998 đạt mức giảm sinh 0,6 phần nghìn so với năm 1997 ,trong thời
N
ữ
T
ỷ lệ giới tính
Đ
ồng bằng
sông Hồng
14.800.076
7.226.775
7.573.
301
95,4
Đông B
ắc10.860.337
5.374.113
5.486.224
3.188.640
3.337.198
95,5
Tây Nguyên3.062.295
1.551.431
1.510.864
1
02,7
Đông Nam B
ộ12.711.030
6.245.412
6.465.618
96,6
Số liệu của bảng 4 cho thấy ,các tỉnh thuộc 2 vùng Tây Nguyên và Tây Bắc có tỷ lệ giới
tính lớn hơn 100. Tây Nguyên có tỷ suất tăng dân số cao nhất trong tất cả các vùng,còn tỷ
suất tăng dân số của Tây Bắc cũng cao hơn đáng kể so với mức của cả nước.Những khu
vực xuất cư được biết do có tỷ lệ tăng dân số giữa hai cuộc điều tra thấp ,là những vùng
tập trung dân cư lớn .Cả hai vùng Đồng Bằng Sông Hồng và Đồng Bằng Sông Cửu Long
đều có tỷ lệ giới tính thấp hơn mức chung của cả nước .Tỷ lệ giới tính khi sinh xấp xỉ
bằng tỷ lệ giới tính của nhóm tuổi trẻ nhất ,nhóm 0 tuổi .Vào năm 1999,tỷ lệ này là
108,cao hơn một chút so với con số 107 tính cho điều tra cho năm 1999. Đặc biệt tỷ lệ giới
tính của dân số nhóm tuổi 10-14 trong năm 1989,tức là nhóm dân số sinh ra trước ngay sau
cuộc TĐT 1989 ,tính được cao hơn 107 chút ít.
I.2.3.Cơ cấu tuổi của dân số Việt Nam năm 1999:
Để bổ xung thêm cho phần nghiên cứu về cơ cấu dân số ta đo xem xét khía cạnh cơ cấu
tuổi của dân số Việt Nam năm 1999 ,với những nội dung chính sau:
a, Hình ảnh sau 10 năm: Sau 10 năm cùng với sự cải cách và đổi mới kinh tế đạt mức
tăng trưởng đáng phấn khởi ,dân số Việt Nam đã có những thay đổi cơ bản trong cơ cấu về
nhiều mặt .Trong giới hạn của quá trình dân số cơ cấu dân số theo độ tuổi là một biểu hiện
cơ bản và điển hình .Xem xét tháp tuổi của dân số ở hai thời điểm của hai cuộc điều tra
liên tiếp 1989-1999 trong biểu đồ dưới đây:
Biểu 1:THáP TUổI NĂM 1989 tháp tuổnăm1999
So sánh hai tháp tuổi trong biểu đồ ta thấy :Dân số bắt đầu giảm đáng kể tỷ lệ tăng tự
nhiên cũng đồng thời báo hiệu một thời kỳ tốc độ tăng dân số tuyệt đối không những năm
trong thời kỳ bùng nổ (những năm 1970-1980) ,tuy nhiên nếu coi dân số nước ta đã là một
dân số bắt đầu bước vào thời kỳ ổn dịnh thì không hoàn toàn chính xác .
Một đặc điểm rất quan trọng là dân số ở nhóm tuổi từ 15-19 ,so với các nhóm khác có số
lượng lớn đột biến. Cơ cấu giới tính ở các nhóm tuổi từ 15-19 tỷ lệ này chỉ đạt 0,76 trong
khi các nhóm tuổi nhỏ hơn thường thấp .Đặc biệt ở nhóm tuổi 15-19 tỷ lệ này chỉ đạt 0,76
trong khi các nhóm tuổi nhỏ hơn thường có tỷ lệ giới tính lớn hơn 1.
15
-
19
21,45%
0,026
19,79%
0,028
20
-
24
19,43%
0,192
16,82%
0,158
25
-
29
18,51%
0,0409
40
-
44
7,45%
0,057
11,43%
0,0178
45
-
49
6,75%
0,019
7,91%
0,0056
T
ổng tỉ suất
sinh
(Người /km
2
)
Đ
ồng Bằng Sông
Hồng
3,8
19,4
1.180
Đông B
ắc
20,3
14,2
162
Tây B
ắc
10,9
2,9
13,5
16,7
285
Đ
ồng Bằng Sông
Cửu Long
12,0
21,1
408
C
ả n
ư
ớc
100
100
231 Từ kết quả trên cho ta thấy dân số phân bố không đều và có sự khác biệt rõ theo các
vùng địa lí-kinh tế.Về số lượng tuyệt đối có thể phân ra làm 3 nhóm.Nhóm thứ nhất gốm
.Trong những năm tới (1997-2000) mỗi năm có 1,24 triệu thanh niên bước vào độ tuổi lao
động hàng năm .Đến năm 2000 lực lượng lao động của cả nước ta sẽ là 36,3 triệu người.
Lao động chưa qua đào tạo chiếm tỷ trọng cao : 8,8% (năm 1996);84%(năm 1997) thì lao
động dư thừa sẽ thuộc về lao động chưa qua đào tạo.Thế nhưng trong số người chưa có
việc làm ở nước ta có cả lao động chưa qua đào tạo chính qui với trình độ chuyên môn
nghiệp vụ cao .Những kỹ sư, công nhân lành nghề , cử nhân và những người lao động giản
đơn cùng xuất hiện trên thị trường lao động , cùng cạnh tranh để tìm việc làm . Sự thiếu
phù hợp trong cơ cấu nguồn lao động và cơ cấu việc làm là nguyên nhân cơ bản tạo lên
hiện tượng "thừa giả tạo" lao động đã được đào tạo .Sự hình thành dòng lao động di
chuyển từ nông thôn ra thành thị mang tính hai mặt .Nó làm tăng sức ép về nhân khẩu vốn đã căng thẳng ở thành thị nhưng nó cũng giải toả được những công việc lao động nặng
nhọc mà người dân thành thị không muốn làm với giá cao.
II.1.2 Trình độ tay nghề và cơ cấu nghề nghiệp của cung lao động không đáp ứng
được cầu:
Năm 1995 cả nước có khoảng 4,7 triệu lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật,
chiếm 11% lực lượng lao động .Thành phố Hà Nội ,nơi lao động có chuyên môn kỹ thuật
chiếm tỷ lệ cao nhất cũng chỉ đạt 26,5%.Trong khi ở các nước trong khu vực , tỷ lệ tương
ứng 40-50% .Cơ cấu trình độ ở mức cao đẳng ,đại học và trên dại học , trung học chuyên
nghiệp 1,6, công nhân kỹ thuật 3,6 , theo kinh nghiệm của một số nước thì quan hệ tỷ lệ
hợp lý là 1-4-10. Như vậy chúng ta đang thiếu nghiêm trọng lao động có trình độ chuyên
môn kỹ thuật đặc biệt là thiếu công nhân kỹ thuật. Mặt khác cơ cấu nông nghiệp rất đặc
trưng cho một nền kinh tế "thuần nông nghiệp" 71% số người đang làm việc trong nền
kinh tế là nông -lâm ngư nghiệp ,14% làm trong các ngành công nghiệp và xây dựng , 15%
làm trong các ngành dịch vụ .Hậu quả là năng suất lao động bình quân một lao động đang
làm việc năm 1995 rất thấp , chỉ đạt 1,25 triệu đồng trên năm (theo giá cố định năm 1989).
II.1.3 Sự hình thành và phát triển mạnh của khu vực kinh tế phi kết cấu (phi chính
thức ) :
Với tỷ lệ 27,89% thời gian lao động chưa dược sử dụng trong khu vực nông nghiệp , với
thị số lao động tốt nghiệp phổ thông trung học tăng thêm 223256 người với tốc độ tăng
thêm 10,31% , trong khi ở nông thôn các chỉ số này chỉ là 76231 người với 2,86% .
b,Trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động ở hai khu vực thành thị và nông
thôn .
Trình độ chuyên môn kỹ thuật tăng với số lượng 4413977 người (1,03%), trong đó số
trình độ cao ( từ cao đẳng ,đại học trở lên ) tăng 827659 người . ở khu vực thành thị số có
trình độ chuyên môn kỹ thuật của lực lượng lao động năm 1996 trong đó số có trình độ cao
là 655812 người so với năm 1996 ở khu vực nông thôn ,số có thình độ đã tăng từ 258386
người lên 274900 người -tăng 6,4%.
Có được những kết quả trên là do công tác trong lĩnh vực đào tạo và dạy nghề đem lại
.Tuy nhiên tốc độ phát triển của lực lượng lao động đã qua đào tạo giữa khu vực thành thị
và nông thôn đã quá bất hợp lí lại còn bất hợp lí hơn .Tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào
tạo ở khu vực thành thị vẫn tiếp tục gia tăng (31,56% năm 1996 tăng lên 32% năm 1997)
trong khi tỷ lệ này ở nông thôn lại đang có xu hướng giảm thấp (7,80% năm 1996 xuống
7,30% năm 1997) chênh lệch về tỷ lệ lực lượng lao động đã qua đào tạo ở thành thị và
nông thôn cũng ngày càng lốn .Năm 1997 lực lượng lao động ở nông thôn trong tổng số lực lượng lao động chung của cả nước là 79,80% nhưng lực lượng lao động đã qua đào tạo
chỉ chiếm 47,33% và lực lượng lao động có trình độ chuyên môn kỹ thuật chỉ chiếm
20,68% .So với năm 1996 các tỷ lệ đang có xu hướng giảm từ 80,93% xuống 79,80%.
II.2.Thực trạng về cung lao động nước ta và mối quan hệ của nó với dân số .
Như đã nói trong phần I về khái niệm của cung lao động trong phần này ta không nhắc
đến mà đi ngay vào thực trạng của nó.
Cung lao động được biểu hiện qua những khía cạnh sau:
II.2.1. Cơ cấu nghành nghề đào tạo của lực lượng lao động : Cơ cấu này phản ánh các
ngành nghề được đào tạo có đáp ứng được nhu cầu và cơ cấu ngành nghề mà nền kinh tế
cần hay không .Sự không hợp lí về cơ cấu trình độ chuyên môn ;cơ cấu ngành nghề trong
những năm qua đã ảnh hưởng lớn tới sự vận hành của lực lượng lao động mới hình thành
và thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế xã hội của nước ta.thực tế này được
5,8
62,3
5,1
61,6
3,8
62,4
Chưa t
ốt
nghiêp cấp I
20,9
56,4
20,3
55,5
18,5
56,1
Đ
ã t
48,3
Đ
ã t
ốt nghiệp
cấp III
13,5
44,1
14,1
44,0
16,0
44,2
Theo số liệu trên tỷ lệ người chưa biết chữ đã giảm là kết quả của chương trình xoá mù
chữ do chính phủ thực hiện những năm qua .Số lao động chưa tốt nghiệp cấp I mặc dù đã
giảm nhưng vẫn còn chiếm một tỷ lệ khá cao trong cơ cấu lao động theo trình độ cấp
I,II,III còn chuyển biến chậm.
Xem xét cơ cấu lao động theo trình độ chuyên môn còn cho thấy lực lượng lao động ở
nước ta không những yếu kém về trình độ chuyên môn mà cơ cấu trình độ đào tạo còn bất
hợp lý.