LUẬN VĂN:
Dân số và sự tác động của nó tới
thị trường lao động Việt Nam
lời nói đầu
Đứng trước tình hình của thế giới nói chung và của Việt Nam nói riêng, đó là sự
phát triển như vũ bão với những thành tựu của khoa học công nghệ hiện đại toàn
cầu và sự du nhập của những tiến bộ khoa học thế giới vào Việt Nam. Đối với Việt
: "Khi đề ra những mục tiêu và giải pháp cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại
hoá đất nước, việc phát huy nguồn nhân lực con người lấy đó làm yếu tố cơ bản cho
sự phát triển nhanh và bền vững ".
Mặt khác khi nghiên cứu về nguồn nhân lực đặc biệt là trong quan hệ với dân số
thực sự cần thiết để góp phần làm sáng tỏ lý luận và thực tế ,tạo cơ sở cho việc triển
khai đưa ra những chủ trương đường lối của đảng về dân số về phát triển kinh tế xã
hội vào thực tiễn cuộc sống.Kinh nghiệm cuả nhiều nước cho thấy sự phát triển
kinh tế xã hội phụ thuộc rất lớn vào việc khai thác và sử dụng có hiệu quả các
nguồn tài nguyên thiên nhiên nguồn vốn và tiến bộ khoa học, kỹ thuật ,trong đó
nguồn lao động có ý nghĩa quan trọng và quyết định .Và kinh nghiệm cũng cho thấy
, nước nào biết sử dụng tiềm năng nguồn lao động ,biết phát huy nhân tố con người
trong phát tiển kinh tế và khoa học kỹ thuật thì nước đó đạt được tốc độ phát triển
nhanh chóng,mặc dù nước đó là nước nghèo tài nguyên thiên nhiên hoặc là nước đó
bị tàn phá nặng nề, kiệt quệ trong chiến tranh.
Như vậy,áp dụng vào thực tế nước ta-một đất nước vốn nghèo nàn ,lạc hậu,mang
nặng tính thuần nông-việc học hỏi những kinh nghiệm của những nước tiên tiến là
rất cần thiết.Đúng như ý kiến của một nhà kinh tế Thụy Điển cho rằng:"Nền kinh tế
Việt Nam không chỉ phát triển chủ yếu vào các nguồn lực tự nhiên, chính lao động
mới là nguồn lao động chủ yếu của Việt Nam,còn vốn đầu tư và kỹ thuật bên ngoài
là những nhân tố quan trọng".
Nói tóm lại,để nhanh chóng đưa đất nước thoát khỏi tình trạng đói nghèo và lạc
hậu, phát triển nhanh kinh tế xã hội và khoa học kỹ thuật, không ngừng nâng cao
mức sống người dân,để nhanh chóng đưa đất nước lên vị trí xứng đáng trên trường
quốc tế ,chúng ta phải dựa chủ yếu vào việc khai thác sử dụng và tái tạo tốt nhất nguồn sản xuất sẵn có trong nước trong đó nguồn lao động đóng vai trò quan trọng
và quyết định .Mặt khác nguồn lao động liên quan trực tiếp và gắn liền với dân số
hay nói cách khác nguồn lao động bắt nguồn từ dân số ,dân số quyết định nguồn lao
động .Do đó việc nghiên cứu mối quan hệ này là một vấn đề quan trọng và sự
Thứ hai: Theo David Beg: Thị trường là tập hợp những sự thoả thuận trong đó
người mua và người bán trao đổi với nhau một loại hàng hoá dịch vụ nào đó.
Thứ ba: Theo một tài liệu nghiên cứu về thị trường lao động,định nghĩa thị trường
lao động như sau: Thị trường lao động là sự trao đổi hàng hoá sức lao động .
b,Khái niệm về cung lao động: Trong nền kinh tế thị trường ,cung về lao động là
khả năng đáp ứng nhu cầu mà thị trường lao động đặt ra về số lượng và chất lượng
trong một điều kiện mức tiền lương, tiền công nhất định.Theo kinh tế học vĩ mô
cung về lao động chính là lực lượng lao động bao gồm: người lao động trong độ
tuổi lao động có việc làm và người đang tìm việc làm nhưng không có việc làm còn
gọi là thất nghiệp.
Như vậy qua định nghĩa ,ta thấy cung lao động phụ thuộc vào qui mô dân số của
một nước, chất lượng của người lao động,(trình độ văn hoá, cơ cấu nghành nghề
được đào tạo sức khoẻ, lề lối làm việc.) phong tục tập quán của một nước, chính
sách phát triển nguồn nhân lực của nước đó.
c,Khái niệm về cầu của thị trường lao động:
Cầu về thị trường lao động là đòi hỏi đặt ra đối với thị trường lao động về số lượng
và chất lượng lao động trong điều kiện một mức giá sức lao động nhất định .Cầu về
thị trường lao động phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: nguồn tài nguyên của một
nước,qui mô trình độ công nghệ ,cơ cấu nghề của nền kinh tế mức tiền công(tiền
lương) phong tục tập quán , tôn giáo và phụ thuộc vào chính sách phát triển kinh tế.
II.đặc điểm của dân số và thị trường lao động
1.Đặc điểm về dân số: Theo tài liệu tổng điều tra dân số ngày 11/4/1989 nước ta
có 64,4 triệu dân, đứng thứ 12 trên thế giới .Mật độ dân số trung bình trên cả nước
là 195 người/km
2
đứng thứ ba ở Đông Nam á và thứ 13 trong số 42 nước thuộc khu
vực Châu á -Thái Bình Dương .Số người trong độ tuổi lao động là 35 triệu.Với
nguồn dân số và lao động như vậy nước ta có một lợi thế cho sự phát triển , có điều
Qu
ản lý
2231
7,7
Công nghi
ệp
2606
9,7
Xây d
ựng
391
2,1
N
ông lâm ngư nghi
ệp
20671
71,9
xác định Lực lượng lao động kỹ thuật tuy xu hướng ngày càng tăng xong c
òn
chiếm tỷ trọng quá nhỏ.Năm 1989,có 3461000 lao động kỹ thuật, chiếm 12% tổng
số lao động.Cơ cấu lao động nước ta năm 1989 như sau:
Trình
đ
ộ chuyên môn kỹ thuật
T
ỷ trọng (%)
Công nhân k
ỹ thuật có bằng
2
4,19
Công nhân k
ỹ thuật không bằng
20,21
Trung h
ọc chuyên nghiệp
Đồng Bằng Bắc Bộ từ 800-1100 người/km
2
ở thành phố Hồ Chí Minh có 1883
người/km
2
;ở Đồng bằng sông Cửu Long có 359 người/km
2
.Sự phân bố không
đồng đều giữa các vùng dẫn đến sự mất cân đối giữa lao động và tư liệu sản xuất để
kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế quốc dân.
d, Dân số phát triển ở mức độ cao:
Bước vào nửa sau của thế kỷ XX,dân số Việt Nam phát triển nhanh thời kỳ 1954-
1980 do tình hình chính trị ổn định, kinh tế phục hồi và phát triển, qui luật dân số
tăng lên sau chiến tranh làm cho dân số nước ta tăng lên với tốc độ kỷ lục:
3,93%/năm .Trong thời kỳ 1979-1989,tỷ lệ dân tăng dân số bình quân ở mức 2,1%.Với mức tăng như vậy chỉ trong vòng 30 năm nữa dân số nước ta sẽ tăng lên
gấp đôi, vào năm 2000 dân số nước ta sẽ là 80000, trong đó lực lượng lao động là
45 triệu, tăng 10 triệu so với năm 1989.
2.Đặc điểm về thị trường lao động.
a,áp lực lớn về việc làm:
Lực lượng lao động ở Việt Nam trong những năm gần đây đã liên tục tăng với tốc
độ cao,một mặt tạo nguồn lực lớn cho phát triển đất nước nhưng mặt khác cũng tạo
ra áp lực lớn về đào tạo nghề và giải quyết việc làm.
Tác dụng cả tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế đối với việc thu
hút , chuyển dịch cơ cấu lao động, nhưng hiện thực, tốc độ chuyển dịch cơ cấu còn
rất chậm , cụ thể :Trong vòng 10 năm kể từ năm 1990- 2000,khu vực công nghiệp
và dịch vụ lực lượng lao động tăng 14,2% trong khi đó lực lượng lao động nông
nghiệp chỉ giảm 4%(từ trên 72% năm 1990 xuống 68% năm 1999 ).
Cơ cấu phân công lao động bất hợp lý, năng suất lao động và thu nhập còn thấp
.Nếu năm 1991 lao động nông nghiệp là72,6% năm 1995 là 69,73% đến năm 1999
là 67,7% và đến năm 2000 dự báo khoảng 62,27% trong tổng số lao động được thu
hút vào hoạt động trong nền kinh tế.
Lao động nước ngoài làm việc chủ yếu trong các nghành nghề mà lao động Việt
Nam không đáp ứng được .Việc xuất khẩu lao động tuy có tăng lên nhưng vẫn còn
thấp,,năm 1999 xuất khẩu được hơn 30000 lao động nhưng lại chủ yếu là lao động
giản đơn.
c,Tỷ lệ lao động tham gia vào thị trường lao động còn thấp.
ở Việt Nam, hiện nay thị trường lao động tập trung chủ yếu ở đô thị lớn: Thành
Phố Hồ Chí Minh,thủ đô Hà Nội , các Trung tâm công nghiệp mới.
Gần đây Tổng cục thống kê điều tra mức sống dân cư Việt Nam cho thấy
21,45% lao động so với tổng số lao động trong tuổi ở khu vực nông thôn tham gia
làm công ăn lương (quan hệ thuê mướn) trong số đó số làm công ăn lương chuyên
nghiệp là 4,29%.Con số này ở thành thị là 42,81%b và 32,75% .Lao động làm
công ăn lương ở nước ta từ 3 tháng trở lên trong năm nhìn chung còn chiếm tỷ lệ nhỏ (17% tổng số lực lượng lao động của xã hội , trong khi đó ở các nước có nền
kinh tế phát triển tỷ lệ này thường chiếm 60-80%).
Qua một số khái niệm và đặc điểm của dân số và thị trường lao động nêu trên, ta
có đủ cơ sở, lý luận thực tiễn, để đi nghiên cứu tiếp sang phần thực trạng của vấn
đề đó .Tuy nhiên để xem xét vấn đề được hoàn thiện ta phải đề cập đến,vấn đề sự
tác động của dân số đến thị trường lao động.
3.Dân số và sự tác động tới thị trường lao động.
Trong phần này em xin điểm qua một số đặc điểm chung về mối quan hệ hay sự
tác động của dân số đến thị trường lao động. Cụ thể xin nêu trong phần thực trạng
tiếp theo.
Tương ứng với tốc độ tăng dân số nhanh là sự tăng nhanh dân số trong tuổi lao
động.
hội nan giải.
Mặt khác kết quả điều tra dân số năm 1999 trên khẳng định xu thế giảm mức
sinh trong thập kỷ vừa qua,nhất là từ khi triển khai thực hiện chiến lược DS-
KHHGD đến nay (năm 2000) .Trong điều kiện nước ta hiện nay việc giải quyết có
đồng bộ ,từng bước về quy mô chất lượng ,cơ cấu dân số và phân bố dân cư là nền
tảng quan trọng trong chiến lược phát triển con người của Đảng và Nhà nước,góp
phần trực tiếp vào nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân hiện tại và các thế
hệ mai sau.
a.Kết quả đạt được qua sáu năm thực hiện chiến lược DS - KHHGĐ Đến năm
2000 được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt ngày 6 - 3 - 1993 nhằm thể chế hoá một
giai đoạn thưc hiện Nghị Quyết Trung Ương bốn ( khoá VII):
Việc giảm mức sinh nhanh hơn so với kế hoạch đề ra đã tạo điều kiện thuận lợi
để đạt được mục tiêu hạ tỷ lệ dân số từ 2,1% (năm 1992) xuống còn 1,5 -1,6% (năm
1999) .Quy mô dân số sẽ ở mức dưới 81 triệu người vào năm 2000 đây là một tiến
bộ vượt bậc so với mục tiêu cuả ''chiến lược DS - KHHGĐ đến năm 2000'' là giảm
được tỷ lệ suất sinh xuống mức 2,9 con hoặc thấp hơn,quy mô dân số ở mức sinh
thay thế vào năm 2015.
b.Quy mô hộ: Với những quy định và một số nguyên tắc khi quan niệm về hộ: Đăng kí tất cả
những nhân khẩu thường trú tại Việt Nam và một số trường hợp ngoại lệ ,những
người đó không được tính vào số thành viên của hộ nhưng vẫn được điều tra đăng
ký trong cuộc TĐT ( tổng điều tra).Với những cơ sở đó quy mô hộ được điều tra và
qua đó ta đưa ra những con số như sau:
Vào thời điểm 0 giờ ngày 1/4/1999 có 16.669 nghìn hộ đã được đăng ký,tăng
3.711 nghìn hộ so với thời điểm TĐT 1989 ( tăng 28,6%). Trong thời kỳ 1989 -
1999 ,tỷ lệ tăng bình quân về số hộ là 2,5% so với con số 3,7% của thời kỳ 1979 -
1989.
Biểu đồ 1- số lượng và tỷ lệ tăng sốhộ từ 1979-1989.
TĐTD
S 1999 (1 tháng 4)
16.669.348
28,6
2,5
Ngu
ồn số liệu T
ĐTDS 1979 và 1989 : TĐTDS Vi
ệt Nam 1989 :Phân tích kêt
quả điều tra mẫu.
Từ bảng số liệu trên ta thấy : Do cả quy mô dân số và số lượng hộ đều tăng ,nên
số người bình quân trong hộ là một số đo hữu ích cho phép xác định quy mô hộ
trung bình có thay đổi hay không vào năm 1999 ,số người bình quân / hộ là 4,6
người ,giảm 0,3 người so với măm 1989.Cũng như năm 1989 ,số nhân khẩu trung
bình của hộ ở khu vực thành thị cao hơn một chút so với khu vực nông thôn được .
Biểu2: Tỷ lệ phần trăm số hộ của từng loại hộ và quy hộ trung bình chia theo
vùng, Việt Nam 1999.
Vùng đ
ịa lí kinh
T
ỷ lệ % từng loại hộ (%)
ồng bằng Sông
Hồng
17,6
18,8
29,4
65,8
19,1
9,3
5,9
4,1
Đông B
ắc
11,7
16,6
27,1
55,4
19,8
14,8
22,1
51,1
20,6
14,5
13,9
4,6
Duyên H
ải Nam
Trung Bộ
14,6
15,0
22
,3
51,9
19,7
13,5
22,4
53,1
17,2
11,9
18,0
4,8
Đ
ồng Bằng Sông
Cửu Long
10,9
17,8
22,3
51,0
17,8
13,1
18,0
4,8
những con số điều tra thực tế cho thấy số lượng dân số nước ta còn lớn và chủ yếu
tập trung ở những vùng nông thôn. I.2 Cơ cấu dân số:
Cơ cấu của dân số được phản ánh trong những loại cơ cấu sau: Cơ cấu dân số
theo giới tính ; Cơ cấu dân số theo độ tuổi;Ngoài ra để nghiên cứu về khía cạnh này
ta phải xem xét thêm vấn đề sau: Cơ cấu dân số trong hai năm 1989 và 1999 .Sau
đây là chi tiết từng vấn đề:
I.2.1 Cơ cấu dân số theo độ tuổi:
Cơ cấu dân số theo độ tuổi quan hệ chặt chẽ với phát triển kinh tế của quốc gia,
trong mọi trường hợp,tỷ lệ trẻ em phụ thuộc tỷ lệ người già và dân số trong độ tuổi
lao động đều ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế và ngược lại.Những thay đổi về cơ
cấu nước ta từ 1994 đến nay được trình bày trong bảng dưới đây :
Bảng 3: Cơ cấu dân số Việt Nam qua các cuộc điều tra năm 1989 -1994,1996 và
ước tính cho năm 1999
Nhó
m
tuổi
TĐTDS 1998
1
-
4
-
1994
1
-
ữ
Na
m
N
ữ
Na
m
N
ữ
Na
m
N
ữ
<1539,0
41,3
36,8
36,4
39,2
55,3
56,6
56,6
56,6
56,1
56,8
60+7,1
6,1
8,2
8,6
7,6
9,8
8,6
100
100
100
100 Về tổng thể trên cả bình diện và các nhóm tuổi đều có những thay đổi đáng kể,kể
từ cuộc tổng điều tra dân số năm 1989, tỷ trọng trẻ dưới 15 tuổi trong dân số đã
giảm rõ rệt từ 39% xuống còn 36,4% vào năm 1994; 35,5% năm 1996;và ước tính chỉ còn chiếm 34,9% trong dân số vào năm 1999. Tỷ lệ phụ thuộc chung giảm bình
quân hàng năm giai đoạn 1991 đến 1999 khoảng 0,5% là mức khá so với các nước
trong khu vực. Cơ cấu dân số theo độ tuổi xem xét dưới góc độ sau:
a.Trẻ em phụ thuộc:
Những nghiên cứu trong lĩnh vực dân số và y tế cho thấy : Muốn thay thế đổi mới
các thế hệ ,tổng tỷ suất sinh phải vào khoảng từ 2,1-2,2.Nghĩa là bình quân mỗi bà
mẹ phải có hai con.Trong khi đó ,năm 1993, 15 nước thuộc cộng đồng chung Châu
Âu có tổng tỷ suất bình quân chỉ là 1,46 .Năm 1995 Pháp có tỷ lệ phụ thuộc dưới 15
tuổi chiếm khoảng 20% ,ước tính đến năm 2015 chỉ còn 14% ,do đó dẫn đến khả
năng thiếu hụt lực lượng lao động,sẽ dẫn đến suy thoaí kinh tế .Với cơ cấu trẻ dưới
15 tuổi như nước ta hiện nay,dự kiến trong nửa thế kỷ XXI nước ta vẫn luôn có
nguồn bổ sung nhân lực dồi dào phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế .Những
điều kiện thuận lợi khi tỷ lệ trẻ em phụ thuộc giảm đó là:Một mặt là cơ hội tiết kiệm
chi phí dành cho đầu tư đồng thời có điều kiện nuôi dưỡng ,đào tạo phát triển nguồn
nhân lực cho tương lai bao gồm cả về trí tuệ và thể lực .Những khó khăn cần vượt
qua đó là tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em .Tỷ lệ suy dinh dưỡng ở trẻ em mới giảm từ
I.2.2 Cơ cấu dân số theo giới tính:
Như chúng ta đã biết :tỷ lệ giới tính được sử dụng làm số đo về cơ cấu giới tính
của dân số và được định nghĩa bằng số lượng nam giới lớn hơn nữ giới và ngược lại
.tỷ lệ giới tính bị tác động bởi tổng hợp của các quá trình sinh,chết ,di cư ,vì những
quá trình đó tác động đến cơ cấu giới tính của dân số.
a.Thực tế tỷ lệ giới tính của dân số Việt Nam :
Tỷ lệ này của Việt Nam nhỏ hơn 100 và thấp hơn so với tiêu chuẩn quốc tế, tỉ lệ
giới tính nước ta thấp là do hậu quả trực tiếp của nam chết nhiều hơn nữ trong các
cuộc kháng chiến chống xâm lược ,tuy nhiên số sinh sau chiến tranh ngày càng
chiếm tỷ trọng lớn so với những người thuộc thế hệ. Chiến tranh nên tỷ lệ giới tính
tăng dần. Vào năm 1979, tỷ lệ giới tính của Việt Nam là 944. Đến năm 1999 ,tỷ lệ
giới tính đã tăng lên 96,7 nam/100 nữ. Do tỷ lệ giới tính bị ảnh hưởng chủ yếu bởi di cư và bị ảnh hưởng với mức độ
thấp hơn của mức sinh đẻ ,nên ở luồng di cư lớn ,tỷ lệ giới tính ở những nơi đó sẽ
cao hơn những nơi xuất cư .
Bảng 4: Tỷ số giới tính chia theo vùng , Việt Nam 1999.
Vùng
T
ổng số
Nam
Tây B
ắc2.227.693
1.115.496
1.112.197
100,3
B
ắc Trung Bộ10.007.216
4.914.412
5.092.804
96,5
Duyên h
ải Nam
Trung Bộ
6.525.838
3.188.640
ồng bằng
sông Cửu Long
16.133.434
7.902.268
8.321.166
96,0
C
ả n
ư
ớc
76.327.919
37.518.547
38.809.372
96,7 Số liệu của bảng 4 cho thấy ,các tỉnh thuộc 2 vùng Tây Nguyên và Tây Bắc có tỷ
lệ giới tính lớn hơn 100. Tây Nguyên có tỷ suất tăng dân số cao nhất trong tất cả các
lớn hơn 1.
b.Khả năng tái sinh sản và quá trình tăng dân số trong những năm đầu thế kỷ
XXI:
Từ tháp tuổi năm 1999 cho thấy :tỷ trọng dân số ở độ tuổi dưới 10 thấp hơn trước
đây .Nguyên nhân trực tiếp tỉ lệ sinh giảm xuống tổng tỉ xuất sinh cũng giảm so với
năm 1989 .Với tổng tỉ suất nói trên ,tỉ lệ tăng dân số tự nhiên từ 2,2% năm 1989
xuống còn 1,54% năm 1999 .Nếu tính một cách chi tiết hơn ,với việc chú ý đến cơ
cấu tuổi của dân cư ở hai thời điểm ta có thể thấy các chỉ tiêu cụ thể sau: Bảng 5:
Nhóm tu
ổi.
T
ỷ trọng n
ăm
89
T
ỷ suất sinh
năm 89
T
ỷ trọng n
ăm
99
T
ỷ suất sinh
năm 99
15
15,70%
0,1348
30
-
34
15,38%
0,167
14,58%
0,081
35
-
39
11,05%
0,110
13,78%
0,0409
40
2,33 Từ bảng 5 ta thấy :nếu cơ cấu tuổi của dân số nữ từ 15-19 như năm 1989 với tỉ
suất sinh đặc trưng theo tuổi hiện tại ,tỷ lệ sinh là 2,1832% .Như vậy cơ cấu tuổi của
dân số nữ trong độ tuổi sinh góp phần làm giảm tỷ lệ sinh thô khoảng 0,2% phần
còn lại là kết quả giảm sinh trong 10 năm qua.
Nói tóm lại qua phần này ,đã chứng tỏ được , cơ cấu dân số nữ trong độ tuổi
sinh đẻ đã góp phần làm giảm tỷ lệ sinh thô.
I.3.Sự phân bố dân số :
Trong phạm vi này xét sự phân bố dân số theo vùng lãnh thổ qua bảng sau: Bảng 6.Phân bố phần trăm diện tích đất đai và dân số chia theo vùng Việt
Nam năm 1999.
Vùng
Di
ện tích(%)
Dân s
ố(%)
M
ật
đ
ộ dân số
(Người /km
2
ắc Trung Bộ
15,5
13,1
196
Duyên H
ải Nam
Trung Bộ
10,1
8,6
195
Tây Nguyên
13,9
4,6
67
Đông Na
m B
ộ
13,5
mỡ và có nước canh tác. Điều đó phản ánh tình trạng tự nhiên của nông thôn nước
ta . Nhóm thứ hai của miền Đông Nam Bộ vùng núi Đông Bắc và Bắc trung Bộ với
44% tổng số dân .Nhóm thứ ba gồm Duyên Hải Nam Trung Bộ và các vùng cao
như tây nguyên và vùng núi Tây Bắc với số lượng dân ít và không tương xứng.
II.thực trạng về thị trường lao động VIệT NAM
Như phần chương I đã nêu những đặc điểm của thị trường lao động , ta đã phần
nào có một cách nhìn nhận tổng quát về thị trường lao động. Để đi xem xét một cách tỉ mỉ và đầy đủ hơn ta đi vào phần thực trạng của loại thị trường này ở Việt
Nam .Và để có những đánh giá về thị trường lao động ,ta lần lượt xem xét về thực
trạng của thị trường lao động nói chung , cung và cầu lao động .
II.1 Thực trạng về thị trường lao động Việt Nam :
II.1.1 Cung lao động vượt quá cầu gây sức ép rất mạnh về việc làm, đồng thời
với một tỷ lệ lao động dư thừa lớn trong nông thôn:
Trong những năm qua tốc độ tăng dân số bình quân năm là 2,2% và tốc độ tăng lực
lượng lao động là 3,2%.Nhưng tình trạng nghiêm trọng là hiện tượng thiếu việc làm
ở nông thôn bình quân một lao động nông nghiệp năm 1995 chỉ có 0,23 ha đất canh
tác, trong khi đó con số tương ứng của các nước nông nghiệp khác trong vùng là 0,8
ha.Với diện tích canh tác chỉ có khoảng 7 triệu ha, nhu cầu tối đa chỉ cần 18-19 triệu
lao động (kể cả chăn nuôi ), nhưng thực tế hiện nay ở nông thôn vẫn còn khoảng 25
triệu lao động sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp.
Hiện nay nguồn cung lao động ở nước ta rất dồi dào và có xu hướng tiếp tục gia
tăng ở mức cao.
Năm 1996: lực lượng lao động cả nước là 35886175 người trong đó số lao động đã
qua đào tạo 4413917 người(chiếm 12% tổng lực lượng lao động ).Nông thôn chiếm
80% lực lượng lao động cả nước .Năm 1996 có trên 2 triêu người độ tuổi 15 trở lên
ra thành thị tìm việc làm (chiếm 7,14%) dân số trong độ tuổi lao động đang hoạt
động kinh tế ở nông thôn .Trong những năm tới (1997-2000) mỗi năm có 1,24 triệu
thanh niên bước vào độ tuổi lao động hàng năm .Đến năm 2000 lực lượng lao động
Với tỷ lệ 27,89% thời gian lao động chưa dược sử dụng trong khu vực nông
nghiệp , với mức thu nhập chênh lệch giữa lao động thành thị và nông thôn khoảng
2lần , cộng với tốc độ đô thị hoá tương đối nhanh và một tỷ lệ thất nghiệp lớn ở
thành thị (5,68%) thì tất yếu hình thành khu vực kinh tế phi kết cấu và sự di chuyển
lao động tự do từ nông thôn ra thành thị để tìm kiếm việc làm .
ở nông thôn lực lượng lao động đang có xu hướng giảm dân cả về qui mô và tỷ
trọng nhưng tốc độ giảm còn quá chậm .Dân số thực tế thường trú ở nông thôn . Cả
nước tính đến ngày 1/7/1997 vẫn tới 59958890 người , chiếm 79,24% tổng số nhân
khẩu thường trú của cả nước. Trong khi đó diện tích canh tác bình quân một nhân khẩu chỉ còn hơn 800 m
2
, riêng miền bắc chỉ còn trên 500m
2
và có khả năng tiếp
tục giảm thấp hơn nữa.Để tăng thời gian sử dụng lao động ở nông thôn , sự chọn lựa
duy nhất là phải đẩy tới một bước chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp , cơ cấu ngành
nghề , cơ cấu lao động và việc làm tại chỗ.
Sự gia tăng lực lượng lao động ở khu vực thành thị và nguyên nhân của nó.Sự gia
tăng đi cả về tuyệt đối lẫn tương đối .Sự gia tăng đó phụ thuộc vào không chỉ thuần
tuý sự tác động của quá trình đô thị hoá mà do luồng lao động tự do từ nông thôn ra
thành thị kiếm việc làm .
II.1.4 Chất lượng của lực lượng lao động :
a, Trình độ văn hoá của lực lượng lao động ngày càng tiến bộ , biểu hiện bằng sự
so sánh sau: Năm 1996 , số người có trình độ tốt nghiệp phổ thông cơ sở(cấp 2) trở
lên chiếm 45,54% lực lượng lao động (thành thị chiếm 60,85%) ; số người tốt
nghiệp phổ thông trung học (cấp III) chiếm 13,48% lực lượng lao động (thành thị
31,66%,nông thôn 9,19%) .Năm 1997 các chỉ tương ứng là :46,51%(61,85%-
42,62%) và 14,14% (32,57%-9,47%).
II.2.1. Cơ cấu nghành nghề đào tạo của lực lượng lao động : Cơ cấu này phản
ánh các ngành nghề được đào tạo có đáp ứng được nhu cầu và cơ cấu ngành nghề
mà nền kinh tế cần hay không .Sự không hợp lí về cơ cấu trình độ chuyên môn ;cơ
cấu ngành nghề trong những năm qua đã ảnh hưởng lớn tới sự vận hành của lực
lượng lao động mới hình thành và thực hiện mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế
xã hội của nước ta.thực tế này được chứng minh từ những con số trong bảng sau:
Bảng 7:Cơ cấu lao động từ 15 tuổi trở lên tham gia hoạt đ
ộng kinh tế
phân theo trình độ văn hoá(%)
1996
1997
1998
T
ổng
Trong đó
nữ
T
ổng
Trong đó
nữ
T
ổng