Luận văn thạc sỹ: Triển khai quyền chọn cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 21





\
Luận văn thạc sĩ

Triển khai quyền
chọn cổ phiếu trên
thị trường chứng
khoán Việt Nam
, tháng năm
Luận Văn Thạc sĩ - 1 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt
HVTH: Huỳnh Thiên Phú
MỞ ĐẦU
SỰ CẦN THIẾT CỦA ĐỀ T ÀI

từ năm 2003 đến nay nh ưng còn mờ nhạt chưa được các chủ thể kinh tế mặn m à cho
lắm; đặc biệt quyền chọn cổ phiếu chưa được quan tâm đúng mức nên chưa có mặt
giao dịch trên thị trường.
Như vậy từ nhận thức đ ược rằng Việt Nam đang từng b ước hội nhập vào nền kinh
tế thế giới; cơ hội mở ra nhưng trên bước đường đi tới còn rất cam go và đầy thách
thức. Kết thúc năm t ài chính 2007 sau hơn m ột năm là thành viên WTO kinh t ế Việt
Nam đứng trước khó khăn do lạm phát tăng cao, thị tr ường chứng khoán sa sút , chỉ
số VN-index giảm mạnh. Các nền kinh tế các nước phát triển đã từng và đang tiếp
tục sử dụng sản phẩm t ài chính phái sinh để bảo hiểm và phòng ngừa rủi ro; trong
đó có quyền chọn cổ phiếu phát triển mạnh mẽ và đây chính là điều Việt Nam cần
phải học tập, kế thừa để ph òng vệ cho mình, phát huy công n ăng của nó nhằm góp
phần hỗ trợ cho các thị tr ường khác vận hành trôi chảy, mang đến hiệu quả cao nhất
cho nền kinh tế; thực hiện ba ti êu chí: hội nhập với nền kinh tế thế giới, phát triển
ổn định bền vững, dân gi àu nước mạnh xã hội dân chủ văn minh.
Với những lý do và sự cần thiết như trên tôi xin chọn lựa đề tài: “Triển khai quyền
chọn cổ phiếu trên thị trường chứng khoán Việt Nam” làm luận văn Thạc sĩ cho
mình. Sản phẩm quyền chọn cổ phiếu khi được triển khai sẽ tạo dựng niềm tin cho
nhà đầu tư vì có công cụ phòng vệ cho mình, không phải lâm vào trạng thái tâm lý
hoảng loạn trước sự thăng trầm bởi giá cổ phiếu trồi sụt bất th ường trên TTCK, làm
cho TTCK giao dịch sôi động hơn nữa.
Luận Văn bao gồm:
1/ Mục tiêu- Nội dung nghiên cứu:
 Nghiên cứu một số vấn đề lý luận c ơ bản về thị trường quyền chọn (option) để
làm nền tảng khảo sát thực trạng triển khai công cụ n ày trên thị trường chứng khoán
Việt Nam.
Luận Văn Thạc sĩ - 3 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt
HVTH: Huỳnh Thiên Phú
 Trọng tâm của đề t ài là nghiên cứu, thu thập thông tin để t ìm hiểu và phân tích
những thuận lợi khó khăn gặp phải cũng nh ư tổng kết những kết quả đạt đ ược ban
đầu cùng các triển vọng sắp tới từ việc thực hiện các loại quyền chọn hiện có tại

TTCK là một bộ phận cấu thành của thị trường vốn, là nơi diễn ra các hoạt động
giao dịch mua bán các chứng khoán trung v à dài hạn như các loại cổ phiếu, trái
phiếu và các công cụ tài chính khác ( chứng chỉ quỹ đầu tư, công cụ tài chính phái
sinh…). TTCK là nơi t ập trung nguồn vốn cho đầu tư và phát triển nền kinh tế và
thị trường quyền chọn chỉ được hình thành và hoạt động hiệu quả tr ên cơ sở TTCK
đã ổn định và phát triển.Và ngược lại, một khi thị trường quyền chọn đ ược điều
hành tốt thì sẽ góp phần làm cho TTCK phát triển, sôi động và bền vững hơn nữa
1.1. Tổng quan về quyền chọn (Option):
1.1.1. Khái niệm :
 Quyền chọn là hợp đồng giữa hai bên, người mua và người bán, trong đó ng ười
mua quyền nhưng không phải nghĩa vụ, để mua hoặc bán một t ài sản cơ sở nào đó
vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay.
 Người mua quyền chọn trả cho ng ười bán một số tiền gọi l à phí quyền chọn.
Người bán quyền chọn sẵn s àng bán hoặc tiếp tục nắm giữ tài sản theo điều khoản
của hợp đồng nếu ng ười mua muốn thế.
 Một quyền chọn để mua tài sản gọi là quyền chọn mua (call -option), một quyền
chọn bán một tài sản gọi là quyền chọn bán (put-option).
 Mặc dù các quyền chọn được giao dịch trong một thị tr ường có tổ chức nh ưng
phần lớn các giao dịch quyền chọn đ ược quản lý riêng rẽ giữa hai bên. Những người
Luận Văn Thạc sĩ - 5 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt
HVTH: Huỳnh Thiên Phú
này tự tìm đến với nhau, loại thị tr ường này gọi là thị trường OTC, đây chính l à loại
thị trường quyền chọn xuất hiện đầu ti ên.
 Hầu hết các quyền chọn chúng ta quan tâm l à mua bán các loại tài sản tài chính
chẳng hạn như cổ phiếu, trái phiếu… Mặc d ù vậy, chúng ta cũng thấy xuất hiện loại
thoả thuận tài chính khác như h ạn mức tín dụng, đảm bảo khoản vay, v à bảo hiểm
cũng là một hình thức khác của quyền chọn. Ngo ài ra, bản thân cổ phiếu cũng l à
quyền chọn trên tài sản công ty.
 Quyền chọn cũng có những nét giống với một hợp đồng kỳ hạn nh ưng quyền chọn
không bắt buộc phải thực hiện giao dịch c òn người sở hữu hợp đồng kỳ hạn bắt

một giao dịch mua-bán nào cả nếu biến động giá thị tr ường bất lợi so
với giá thực hiện tr ên hợp đồng quyền chọn.
Khi bên mua không th ực hiện quyền chọn họ sẽ vẫn mất phí. Do vậy, theo lý t huyết,
bên mua có vùng lãi không gi ới hạn còn vùng lỗ giới hạn bằng mức phí quyền chọn.
Trên thị trường quyền chọn, có hai loại người mua quyền chọn: ng ười mua quyền
chọn mua (Buyer call option - Long call ); người mua quyền chọn bán (Buyer put
option- Long put ).
1.1.2.2. Các trạng thái quyền chọn: Trong thời hạn hợp đồng hiệu lực, ng ười mua
thực hiện hợp đồng hay không c òn phụ thuộc vào sự biến động của giá cả hiện h ành
trên thị trường vào thời điểm đó so với mức giá thực hiện ( strike price ) đã quy
định. Cụ thể, xét từ vị thế người mua quyền chọn hợp đồng quyền chọn có ba trạng
thái:
 Ngang giá quyền chọn (At the money -ATM ): Là trạng thái khi người nắm giữ
quyền chọn, nếu bỏ qua phí quyền chọn, thực hiện quyền chọn m à không phát sinh
Luận Văn Thạc sĩ - 7 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt
HVTH: Huỳnh Thiên Phú
khoản lãi hay lỗ nào. Khi đó: giá thị trường = strike price. Quyền chọn ở trạng thái
ATM gọi là quyền chọn ở điểm hoà vốn.
 Được giá quyền chọn ( In the money-ITM ): Là trạng thái khi người nắm giữ
quyền chọn, nếu bỏ qua phí quyền chọn, thực hiện quyền chọn m à có lãi. Khi đó:
giá thị trường > strike price (đối với hợp đồng quyền chọn mua ) v à giá thị trường <
strike price (đối với hợp đồng quyền chọn bán ). Quyền chọn ở trạng thái ITM gọi
là quyền chọn ở vùng hái ra tiền.
 Giảm giá quyền chọn (Out the money -OTM ): Là trạng thái khi người nắm giữ
quyền chọn, nếu bỏ qua phí quyền chọn, thực hiện hợp đồng quyền chọn sẽ chịu lỗ.
Lúc này: giá thị trường < strike price (đối với hợp đồng quyền chọn mua); v à giá
thị trường > strike price (đối với hợp đồng quyền chọn bán). Quyền chọn ở trạng
thái OTM gọi là quyền chọn ở vùng mất tiền.
1.1.2.3. Các kiểu hợp đồng quyền chọn thông dụng : Xét về thời gian thực hiện
của hợp đồng thì có hai kiểu quyền chọn kiểu Mỹ và kiểu châu Âu:

hành vi tiêu cực từ mặt trái của các công cụ phái sinh, cụ thể l à quyền chọn:
 Chỉ cần một dao động mạnh trong giá v àng chẳng hạn, các ngân h àng có thể rơi
vào tình trạng mất khả năng thanh toán do không có khả năng thực hiện nghĩa vụ
với bên mua (trường hợp quyền chọn v àng). Và chúng sẽ lây lan sang to àn hệ
thống. Các nhà kinh tế ví von gọi đây là dạng rủi ro mắt xích hoa cúc.
 Các doanh nghiệp sử dụng hợp đồng phái sinh thao túng thị tr ường mỗi khi họ
nắm bắt được những thông tin có lợi cho m ình. Chẳng hạn, các doanh nghiệp đ ã
Luận Văn Thạc sĩ - 9 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt
HVTH: Huỳnh Thiên Phú
biết trước tình trạng tài chính thật của mình là đang thua lỗ, nhưng thị trường chưa
nắm bắt được các thông tin n ày. Từ đó, họ có thể thông qua một định chế n ào đó,
đặt lệnh bán khống (đầu c ơ giá xuống) trên các hợp đồng giao sau hoặc l à bán
quyền chọn. Đến khi giá xuống họ sẽ thực hiện hợp đồng để kiế m lời. Đây là một
điển hình vi phạm đạo đức chứng khoán m à Luật cấm.
1.2. Quyền chọn cổ phiếu:
Được giao dịch trên cổ phiếu cơ sở là cổ phiếu có tính thanh khoản cao đ ược phát
hành bởi công ty có uy tín v à có khối lượng giao dịch lớn tr ên TTCK.
1.2.1. Đặc điểm của quyền chọn cổ phiếu:
1.2.1.1. Mua quyền chọn cổ phiếu l à mua quyền để thực hiện hợp đồng:
Đây là đặc điểm cơ bản nhất và là yếu tố hấp dẫn của hợp đồng quyền chọn so với
các hợp đồng mua bán cổ phiếu khác. Một ng ười đã mua hợp đồng quyền chọn có
quyền thực hiện hợp đồng khi thị tr ường biến động thuận lợi hay có thể để hợp
đồng vô hiệu. Trong khi đó đối với các hợp đồng mua bán cổ phiếu thông th ường
khi hợp đồng đến hạn thì cả hai bên tham gia ký kết hợp đồng buộc phải thực hiện
hợp đồng.
1.2.1.2. Những tiêu chuẩn của hợp đồng quyền chọn cổ phiếu:
Ngày nay dù giao d ịch trên thị trường tập trung hay phi tập trung, hợp đồng quyền
chọn cổ phiếu tuân thủ một số ti êu chuẩn nhất định về: số l ượng, ngày đáo hạn, giá
thực hiện.
 Về số lượng: Thông thường ở các thị trường của Mỹ, số lượng cổ phiếu mua bán

HVTH: Huỳnh Thiên Phú
1.2.1.3 Giá của hợp đồng quyền chọn cổ phiếu:
Giá của hợp đồng quyền chọn (phí quyền chọn) bao gồm giá trị thực ( Intrinsic
Value ) và giá trị thời gian ( Time Value ).
 Giá trị thực: Nếu quyền chọn là quyền chọn được giá (ITM option) th ì quyền
chọn có giá trị thực. Giá trị thực của quyền chọn được tính như sau:
+ Đối với quyền chọn mua: Giá trị thực = MAX (S-X;0)
Trong đó: S là giá th ị trường của cổ phiếu c ơ sở, X là giá thực hiện trên hợp đồng.
Khi giá thực hiện trên hợp đồng quyền chọn mua thấp h ơn giá cổ phiếu trên thị
trường, lúc đó người mua hợp đồng quyền chọn sẽ có lợi nếu thực hiện hợp đồng v à
ta nói hợp đồng có giá trị thực. Giá trị của hợp đồng l à phần chênh lệch giữa giá thị
trường của cổ phiếu và giá thực hiện của quyền chọn (S -X). Còn trong trường hợp
giá thực hiện trên hợp đồng quyền chọn cao h ơn thị giá của cổ phiếu th ì giá trị thực
của quyền chọn mua bằng 0, v à ta nói quyền chọn không có giá trị thực.
+ Đối với quyền chọn bán: Giá trị thực = MAX (X-S;0)
Khi giá thực hiện quyền chọn bán cao h ơn giá cổ phiếu trên thị trường thì HĐQC có
giá trị thực, đó chính là phần chênh lệch giữa giá thực hiện của quyền chọn v à giá
thị trường của cổ phiếu (X -S). Trường hợp giá thực hiện tr ên hợp đồng quyền chọn
thấp hơn thị giá của cổ phiếu th ì giá thực hiện của quyền chọn b án bằng 0 hay
quyền chọn không có giá trị thực.
1.2.1.4. Ảnh hưởng của việc phân chia cổ tức v à cổ phiếu đến giá thực hiện của
HĐQC cổ phiếu:
Việc phân chia cổ tức bằng tiền mặt chỉ ảnh h ưởng đến giá thực hiện của các quyền
chọn giao dịch trên thị trường OTC. Khi một công ty chia cổ tức bằng tiền mặt th ì
Luận Văn Thạc sĩ - 12 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt
HVTH: Huỳnh Thiên Phú
giá thực hiện hợp đồng quyền chọn sẽ giảm một khoảng bằng với số cổ tức v ào thời
điểm không nhận cổ tức.
Riêng quyền chọn được giao dịch trên thị trường tập trung thì giá thực hiện sẽ được
điều chỉnh khi có việc chia tách cổ phiếu. Khi tất cả các điều kiện khác không đổi,

Xét về thời gian thực hiện của hợp đồng quyền chọn th ì có hai loại quyền chọn:
kiểu Mỹ và kiểu Châu Âu. Thông th ường do những thuận lợi về mặt thời gian thực
hiện từ quyền chọn kiểu Mỹ n ên loại quyền chọn này có mức phí cao hơn quyền
chọn kiểu châu Âu.
1.2.2.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến giá quyền chọn cổ phiếu: Có 6 yếu tố cơ bản:
Giá thị trường của cổ phiếu c ơ sở, giá thực hiện trên hợp đồng, kiểu quyền chọn,
thời gian đáo hạn của hợp đồng, lãi suất của tài sản phi rủi ro, độ biến động của giá
chứng khoán cơ sở.
 Giá thị trường của cổ phiếu c ơ sở ( Market price of underlying stock ):
Thị trường chứng khoán luôn biến động không ngừng v à giá cổ phiếu cũng vậy.
Mỗi khi thị giá cổ phiếu c ơ sở thay đổi thì khả năng thực thi hợp đồng quyền chọ n
sẽ tăng lên hoặc giảm xuống, tuỳ theo loại quyền chọn, khi đó sẽ kéo theo sự thay
đổi của giá quyền chọn. Khi thị giá của cổ phiếu c àng cao thì người mua quyền
chọn càng có lợi, lúc đó họ sẵn s àng trả giá cao hơn để có quyền chọn mua trong
tương lai, vì thế giá của quyền chọn mua trong t ương lai sẽ tăng, nhưng người mua
quyền chọn bán sẽ bất lợi, cho n ên quyền chọn bán kém hấp dẫn v à giá quyền chọn
bán sẽ giảm.
Luận Văn Thạc sĩ - 14 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt
HVTH: Huỳnh Thiên Phú
 Giá thực hiện trên hợp đồng (Strike price):
Vì giá thực hiện trên hợp đồng quyền chọn đ ược cố định trong suốt thời gian hiệu
lực của hợp đồng nên trong trường hợp quyền chọn mua, giá thực hiện c àng thấp thì
khả năng thực hiện hợp đồng c àng lớn , khi ấy giá quyền chọn sẽ tăng. Ng ược lại
giá thực hiện của quyền chọn bán c àng thấp thì giá quyền chọn càng thấp do hợp
đồng sẽ ít có cơ hội để thực hiện.
 Kiểu quyền chọn (Style of the option):
Quyền chọn kiểu Mỹ và quyền chọn kiểu Châu Âu sẽ có mức giá khác nhau. V ì
quyền chọn kiểu Mỹ cho phép ng ười sở hữu nó có cơ hội yêu cầu thực hiện hợp
đồng nhiều hơn quyền chọn kiểu Châu Âu n ên quyền chọn kiểu Mỹ th ường có giá
cao hơn quyền chọn kiểu Châu Âu.

 Độ bất ổn của giá cổ phiếu (The volatarity):
Độ bất ổn chính là mức biến động giá cổ phiếu trong t ương lai. Giá cổ phiếu càng
biến động thì cơ hội thực hiện quyền chọn mua v à quyền chọn bán càng tăng. Vì thế
giá quyền chọn cũng tăng theo mức độ biến động của thị giá cổ phiếu c ơ sở.
Luận Văn Thạc sĩ - 16 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt
HVTH: Huỳnh Thiên Phú
Bảng 1.1: Tóm tắt các ảnh hưởng của các yếu tố đến giá quyền chọn
Các yếu tố
Ảnh hưởng đến giá
quyền chọn mua
Ảnh hưởng đến giá
quyền chọn bán
Thị giá cổ phiếu cơ sở tăng
Tăng
Giảm
Giá thực hiện
Giảm
Tăng
Thời gian đáo hạn tăng
Tăng (Quyền chọn kiểu
Mỹ)
Tăng (Quyền chọn kiểu
Mỹ)
Kiểu quyền chọn
Giá quyền chọn kiểu Mỹ
cao hơn
Giá quyền chọn kiểu
Mỹ cao hơn
Lãi suất tài sản phi rủi ro
Tăng

có nhu cầu cố định giá mua hay giá bán một cổ phiếu nhất định v ì lo sợ những diễn
biến của thị trường. Việc bán quyền chọn sẽ giúp cho nh à đầu tư có thể tính toán
được phần thu nhập (tr ường hợp bán quyền chọn mua) hay chi phí mua cổ phiếu
(trong trường hợp bán quyền chọn bán) trong t ương lai. Trường hợp quyền chọn
không được thực hiện thì phần phí quyền chọn thu được có thể giúp nhà đầu tư bù
lỗ khi giá cổ phiếu biến động bất lợi.
 Tăng lợi suất: Ngoài mục đích bảo hiểm vị thế, quyền chọn c òn được sử dụng để
tăng thu nhập cho người bán quyền.
+ Trường hợp quyền chọn đ ược thực hiện (nghĩa l à người bán quyền dự đoán sai)
khi đó ngoại trừ phần tiền đã tính toán được do việc cố định giá bán, ng ười bán
quyền còn thu thêm phần phí hợp đồng, làm tăng tổng thu nhập có đ ược từ việc mua
bán.
Luận Văn Thạc sĩ - 18 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt
HVTH: Huỳnh Thiên Phú
+ Trường hợp quyền chọn không đ ược thực hiện thì người bán có thể hưởng phần
phí đó mà không phải thực hiện bất cứ nghĩa vụ mua bán n ào, sau khi hợp đồng đáo
hạn, anh ta có thể bán một quyền khác v à nhận tiền phí khác từ hợp đồng mới.
Như vậy, tuỳ theo những dự đoán khác nhau m à các nhà đầu tư có những hành động
khác nhau nhằm mục đích thu lợi cho bản thân mình.
1.2.4. Vai trò của quyền chọn cổ phiếu :
1.2.4.1. Là công cụ bảo hiểm và kiếm lời hữu hiệu của nh à đầu tư:
Với đặc điểm là giá thực hiện được cố định, quyền chọn cho phép ng ười tham gia
có thể bảo vệ phần lợi hiện có hay hạn chế thua lỗ trong thời gian thị tr ường biến
động không thể dự đoán.
 Đối với người mua quyền chọn: Trong trường hợp thị trường biến động như dự
đoán, hợp đồng được thực hiện thì phần thu nhập có được do bán cổ phiếu hay chi
phí phải bỏ ra để mua cổ phiếu là cố định. Vì thế giúp người mua quyền hạn chế rủi
ro cho bản thân mình. Ngược lại, khi quyền chọn không đ ược thực hiện, nghĩa l à
biến động trên thị trường có lợi hơn cho người mua quyền so với việc thực hiện
hợp đồng, khi đó ng ười mua quyền chỉ mất một khoản phí, nhưng lại được lợi hơn

phiếu cơ sở sẽ tăng, lúc đó cơ quan quản lý thị trường chứng khoán phải gia tăng số
lượng cũng như chất lượng cổ phiếu cơ sở. Khi số lượng và chất lượng cổ phiếu
niêm yết tăng, nhu cầu mua bán chứng khoán của nh à đầu tư được đáp ứng thì sẽ
làm cho hoạt động trên TTCK càng thêm sôi đ ộng hơn.
Thị trường quyền chọn chỉ có thể h ình thành và hoạt động hiệu quả khi TTCK phát
triển ổn định. Nhưng khi một thị trường quyền chọn được điều hành tốt thì sẽ góp
phần làm TTCK phát triển hơn nữa.
Luận Văn Thạc sĩ - 20 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt
HVTH: Huỳnh Thiên Phú
1.2.4.3. Tạo ra những tác động tích cực đến các công ty phát hành c ổ phiếu và
công ty chứng khoán:
Giao dịch quyền chọn có thể đ ược xem là hành động mua bán cổ phiếu của công ty
chưa thực hiện ngay mà kéo dài trong một khoảng thời gian nhất định. Khi một nh à
đầu tư mua hay bán quy ền chọn của một loại cổ phiếu c ơ sở cũng có nghĩa là người
đó đang đầu tư vào công ty phát hành ra c ổ phiếu đó. Do đó, ng ười đó sẽ trở thành
người giám sát tình hình kinh doanh c ủa công ty đó. Mặt khác, để quyền chọn của
một cổ phiếu nào đó được phép giao dịch th ì cổ phiếu đó phải đáp ứng đ ược những
yêu cầu nhất định về số l ượng, mật độ giao dịch, giá cả…, nói chung những cổ
phiếu được đánh giá là có chất lượng thì mới được chọn làm cổ phiếu cơ sở và hình
thành nên uy tín và thương hi ệu cho công ty phát h ành cổ phiếu đó. Chính vì thế,
hợp đồng quyền chọ n không do chính công ty có c ổ phiếu niêm yết phát hành
nhưng cũng ảnh hưởng đến tình hình quản lý và hoạt động của công ty ni êm yết.
Bằng cách theo dõi nhu cầu giao dịch trên thị trường quyền chọn, những ng ười điều
hành công ty niêm y ết có thể biết được đánh giá của nhà đầu tư về triển vọng của
công ty, từ đó có những điều chỉnh ph ù hợp cho hoạt động kinh doanh v à gìn giữ
thương hiệu của mình.
Mặt khác, quyền chọn cổ phiếu cũng tạo ra động lực đối với các công ty ni êm yết
nhưng cổ phiếu của công ty ch ưa đạt được mức tín nhiệm để đ ược chọn làm cổ
phiếu cơ sở mà cố gắng phấn đấu để đạt đ ược tiêu chuẩn cổ phiếu cơ sở, nâng cấp
thương hiệu cho mình.

hợp đồng đáo hạn nếu giá trị cổ phiếu c ơ sở trên thị trường tăng lên hơn giá thực
hiện, nhà phát hành có nghĩa vụ thực hiện hợp đồng theo y êu cầu của người mua
quyền là trả phần chênh lệch giữa thị giá và giá thực hiện của cổ phiếu c ơ sở hoặc là
người đó đi vay cổ phiếu c ơ sở để bán cho người mua quyền theo nh ư giá thực hiện
Luận Văn Thạc sĩ - 22 - GVHD: PGS-TS Phan Thị Bích Nguyệt
HVTH: Huỳnh Thiên Phú
của hợp đồng. Tình huống này hợp đồng quyền chọn ở trạng thái ITM v à nhà phát
hành (bán khống) bị lỗ. Tình huống ngược lại người bán khống kiếm lợi từ phí
quyền chọn mà không phải đầu tư vốn cho bất kỳ một loại cổ phiếu c ơ sở nào cả.
Đây chính là sự thuận lợi và thông thoáng cho th ị trường hoạt động tốt hơn, thu hút
thêm nhiều nhà đầu tư tham gia vào thị trường.
Nghiệp vụ bán khống kiếm lợi thông qua giá cổ phiếu giảm đ ã được bắt nguồn ít
nhất từ thế kỉ thứ 18 ở Anh. Những ng ười thực hiện mua bán cổ phiếu kiếm l ãi
thông qua giá cổ phiếu xuống thấp th ường bị nghi ngờ là làm giàu thông qua vi ệc
nghèo đi của người khác (vì số những người này rất ít, nhưng nếu giá cổ phiếu giảm
xuống thì rất nhiều người đầu tư vào chứng khoán sẽ bị thua lỗ, thậm chí phá sản).
Tuy nhiên các nghiên c ứu đều kết luận rằng bán khống đã có đóng góp quan tr ọng
trong việc tạo nên tính hiệu quả của thị trường tài chính vì nó mở rộng cửa thị
trường chào đón nhiều nhà đầu tư tham gia kể cả nhà đầu tư ít vốn làm cho thị
trường sôi động hơn thông qua luồng giao dịch của các chứng khoán c ơ sở được trôi
chảy hơn.
1.2.6. Giao dịch quyền chọn cổ phiếu:
Quyền chọn cổ phiếu cũng có đầy đủ những đặc điểm và vai trò như những hợp
đồng quyền chọn khác. Tuy nhi ên do đặc thù của nó, ngoài tạo ra sự sôi động cho
thị trường tài chính mà nó còn tác động cụ thể đến thị tr ường chứng khoán; nó góp
phần tăng thêm hàng hoá cho th ị trường chứng khoán, gia tăng tính thanh khoản
cho thị trường chứng khoán, hỗ trợ cho thị tr ường chứng khoán vận h ành thông
thoáng và ổn định hơn.
1.2.6.1 Thành phần tham gia:
 Những nhà tạo lập thị trường (Market makers): Người tạo lập thị trường cho một

Khi mua quyền chọn, người mua phải thanh toán đầy đủ vào buổi sáng của ngày
làm việc tiếp theo. Tiền ký quỹ đ ược gửi tại OCC. Ng ười phát hành duy trì tài
khoản ký quỹ với nhà môi giới. Nhà môi giới duy trì tài khoản ký quỹ với OCC.
Khi nhà đầu tư thông báo cho nhà môi gi ới thực hiện quyền chọn, nhà môi giới
thông báo tiếp cho thành viên OCC để thanh toán giao dịch. Th ành viên này đưa
ngay lệnh thực hiện đến OCC. OCC chọn ngẫu nhi ên một thành viên có vị thế ngắn
hạn đang sẵn sàng thực hiện trên cùng quyền chọn. Vào ngày đáo hạn, tất cả quyền
chọn ở vùng hái ra tiền sẽ được thực hiện trừ khi chi phí quá cao l àm mất đi toàn bộ
lợi nhuận từ quyền chọn. Một số công ty môi giới tự động thực hiện quyền chọn
cho khách hàng vào ngày đáo h ạn khi nó phù hợp lợi ích khách h àng.
1.2.6.2. Những yêu cầu cơ bản cho việc phát triển thị trường giao dịch quyền
chọn cổ phiếu: Có ba yêu cầu cơ bản sau:
 Tính cạnh tranh cao trên thị trường: Đây là điều kiện đảm bảo cho sự tồn tại lâu
bền của sản phẩm quyền chọn cổ phiếu. Không thể có sự c ưỡng ép để cho ra đời một
công cụ tài chính mới trên thị trường chứng khoán nh ư đã đề cập là bước phát triển
tất yếu khách quan của nền kinh tế thị tr ường mà không tồn tại tính cạnh tranh trong
Người mua
quyền chọn
Nhà môi giới
Nhà môi giới
Người bán
quyền chọn
Thành viên
OCC
OCC
Thành viên
OCC

Trích đoạn Cơ sở hạ tầng kỹ thuật còn sơ khai và hệ thống thông tin trên TTCK chậmchạp thiếu chuẩn xác:Cơ sở hạ tầng công nghệ của TTCK Việt Nam còn Cơ chế quản lý thị trường chứng khoán còn bất cập, chưa hiệu quả: Xây dựng điều kiện tiền đề cho thị trường quyền chọn cổ phiếu: Giai đoạn chuẩn bị và thực hiện thí điểm: Giai đoạn hoàn thiện và phát triển thị trường quyền chọ n Mô hình vận
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status