TIỂU LUẬN:
Máy móc đại Công nghiệp,
vai trò của nó đối với nền
kinh tế Việt Nam Lời nói đầu TBCN là một chế độ xã hội mà ở đó nề kinh tế phát triển rất cao gắn liền
với sự phát triển của lĩnh vực Công nghiệp. Khi phân tích quá trình sản xuất giá
trị thặng dư tương đối Mác khái quát sự phát triển của lịch sử phát triển của
TBCN trong Công nghiệp thành 3 giai đoạn: hiệp tác giản đơn TBCN, công
trường thủ công trườngthủ công TBCN và đại Công nghiệp cơ khí. đây là 3 giai
đoạn nâng cao năng xuất lao động và là quá trình phát triển của TBCN từ thấp
lên cao. Nghiên cứu 3 giai đoạn phát triển của TBCN trong Công nghiệp còn
gợi cho ta những vấn đề có ý nghĩa lý luận và thực tiễn về quá trình phát triển,
chuyển biến của nền sản xuất TBCN.
Nếu hiệp tác giản đơn là một bước tiến về tổ chức sản xuất công trường
thủ công tạo đIều kiện cho sự ra đời của đại Công nghiệp cơ khí thì giai đoạn
ấy đã được thay thế bằng máy móc điều khiển tự động.
Quá trình phát triển của máy móc đã được Mác kháI quát như sau: “công cụ
đơn giản, tích luỹ công cụ, công cụ phức tạp,chuyển động công cụ, phức hợp
bằng một động cơ duy nhất bằng con người. Việc chuyển động những công cụ
ấy bằng các nguồn lực lượng tự nhiên,máy móc, hệ thống máy móc có mô tơ
tự động, đó là tiến trình phát triển của máy móc”.
(Các Mác-Sự khốn cùng cảu triết học, nhà xuất bản sự thật HN
1971,Trang160)
2.Công xưởng -Khi hệ thống máy móc được hình thành thì việc tổ chức sản xuất công trường
thủ công chuyển thành công xưởng. Công xưởng TBCN là xí nghiệp đại Công
nghiệp dự vào sự bóc lột công nhân làm thuêvà hệ thống máy móc để sản xuất
hàng hoá. Mà lúc này công cụ là một hệ thốngmáy gồm những máy công cụ
làm một việc giống nhau theo kiểu hợp tác giản đơn,hoặc gồm những máy
công cụ không giống nhau nhưng được phân công chuyên môn hoá để làm ra
một loaị sản phẩm và sự hợp tác lao động trong công xưởng tuỳ theo yêu cầu
của máy móc. Bản thân máy móc là phương tiện có hiệu lực để giảm nhẹ lao
động và nâng cao hiệu xuất lao động chân tay đơn điệu bị giảm nhẹ. Lao động
chí óc thành ra đặc quyền của các nhân viên chuyên môn như kỹ sư bác học.
Trong công xưởng tư bản chủ nghĩa máy móc là thủ đoạn tư bản bóc lột người
lao động làm thuê.
- Cùng với bước chuyển tới công xưởng thì nhà tư bản tách khỏi chức vụ quản
lý giám đốc công nhân mà giao cho hạng người làm thuê đặc biệt giám đốc và
đốc công, họ thay thế nhà tư bản điều khiển xí nghiệp, hoàn thành việc xây
dựng lên một thứ kỷ luật riêng, kỷ luật TBCN, là một thứ kỷ luật đói. Vai trò
quản lý mang lạI năng xuất lao động caocho nhà tư bản. Nhưng như vậy không
có nghĩa là bản thân máy móc sẽ là kẻ thù của giai cấp công nhân, mà kẻ thù
thực sự là chế độ tư bản dùng máy móc.
3.2 Công nghiệp hoá TBCN
+ Cách mạng Công nghiệp mở đầu việc Công nghiệp hoá TBCN
+ Cơ sở Công nghiệp hoá là Công nghiệp nặng – là sản xuất TLSX
+ Công nghiệp hoá TBCN được thực hiện một cách tự phát trong quá trình
theo đuổi lợi nhuận của các nhà tư bản
+ Công nghiệp hoá TBCN thường bắt đầu bằng Công nghiệp nhẹ: tức là các
nghành sản xuất vật phẩm tiêu dùng cho cá nhân
- So với Công nghiệp nặng sản xuất TLSX (máy móc, kim thuộc, nhiên liệu)
Công nghiệp nhẹ đòi hỏi ít vốn chuyển vốn nhanh mau thu lợi nhuận và có sẵn
thị trường
- Sản xuất ra tư liệu tiêu dùng tăng NSLĐ trong Công nghiệp nhẹ sẽ hạ giá trị
hàng hoá tư liệu tiêu dùng tức là hạ giá trị năng suất lao động từ đó bóc lột
được nhiều hơn, tích luỹ được vốn để đầu tư cho Công nghiệp nặng. Khi Công nghiệp nhẹ phát triển sẽ tạo ra thị trường cho Công nghiệp nặng cho nên công
nghiệp hoá TBCN là một quá trình kéo dài hàng mấy chục năm.
+ Trong lịch sử từng có nhiều con đường công nghệp hoá TBCN :
- Thứ nhất là con đường xâm chiếm và cướp bóc thuộc địa (Anh)
- Con đường chiến tranh, nước thắng trận lấy bồi thường của nước thua trận(
Đức lấy của Pháp)
- Thứ 3 là con đường tô nhượng và vay nợ các cường quốc phương tây với
những đIều kiện có tính chất nô dịch ( Nga)
- Hoặc hỗn hợp cả ba con đường nói trên(Mỹ vay nợ dài hạn của Anh, Pháp và
bóc lột thổ dân châu Mý)
II Vai trò, tính chất
.Từ những phân tích như vậy cho thấy vai trò của máy móc đại Công nghiệp là
rất quan trọng:
. Máy móc đại Công nghiệp qua nó đã biểu hiện tính chất TBCN của đại Công
nghiệp
Nam
Đường nối công nghiệp hoá và hiện đại hoá đã nhấn mạnh tại đại hội
Đảng CSVN ần thứ 8 “ hiện đại hoá công nghiệp hoá là cuộc cách mạng có
tính chất toàn diện, không chỉ tập chung vào lĩnh vực công nghiệp mà cả các
lĩnh vực khác như nông nghiệp , dịch vụ… ” Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng
nói rằng “ Đời sống có thể thật sự dồi dào khi chúng ta dùng máy móc để sản
xuất một cách rộng rãi” và “ Công nghiệp và nông nghiệp là hai trân chủ yếu
của nền kinh tế …Công nghiệp phát triển thì nông nghiệp mới phát triển” từ đó
có thể thấy rõ rằng công nghiệp có tầm quan trọng cao. Nhưng muốn phát triển
thì phải có công nghệ và kỹ thuật và máy móc là nhân tố trực tiếp tác động đến
sự phát triển đó.
I Vai trò cuẩ máy móc đại công nghiệp đối với sản xuất công nghiệp
Muốn thực hiện công nghiệp hoá và hiện đại hoá trức hết phải hiện đại
hoá công nghiệp, theo đánh giá chung của các cơ quan chức năng nhà nước từ
khi đổi mới cơ chế quản lý áp dụng máy móc tân tiến vào sản xuất dưới áp lực
cạnh tranh của cơ chế thị trường và các nhân tố khác sản xuất tạ các doanh
nghiệp nói chung và các doanh nghiệp nhà nước nói riêng đặc biệt là các liên doanh với nứơc ngoài đã có sự đổi mới đáng ghi nhận góp phần đáng kể vào sự
tăng trưởng của sản xuất, cạnh tranh và trụ vững được trong cạnh tranh với sản
phẩm và dịch vụ của nước ngoài ở một số lĩnh vực sản phẩm công nghiệp như:
Quạt điện, xe đạp, chế biến thực phẩm ….
Cũng theo đánh giá của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền (bộ khoa
học công nghệ và môi trường, Bộ công nghiệp ) thì công nghệ đổi mới đã đóng
góp trên 30% tăng trưởng GDP của toàn nghành thậm trí trong một số doanh
nghiệp nhà nước tỉ lệ này còn thể hiện cao hơn đạt tới 50- 60% (như một số
ngành viễn thông tin học, điện tử năng lượng….) Sự đổi mới công nghệ có
quan hệ không chỉ về phương pháp tổ chức , quản lý sản xuất, kỹ năng, trình
độ nghề nghiệp của con người mà còn mà cả về phần không thể thiếu đó là
hướng nội đã có nhưng lại có tác hại rất lớn, nghiên cứu khủng hoảng của công
nghiệp trong những năm 1979-1981; 1989-1991; 1991- 1999 cho ta thấy chúng
đã gắn với tính hướng nội cao. Trong thời điểm có tác nhân từ bên ngoài. Sau
thời điểm khủng hoảng nền kinh tế năm 1997 nền kinh tế phát triển trậm lại.
Công nghiệp hoá cho đến nay xét về thực chất là quá trình phát triển công
nghiệp hướng vào những nghành thay thế nhập khẩu tuy đã có một số kết quả
tích cực nhưng vẫn bộc lộ một số những khiếm khuyết. Tăng trưởng rất thấp,
muốn thoát khỏi sự phụ thuộc vào nước ngoài thì lại phụ thuộc ngày càng
tăng:
Theo số liệu điều tra năm 1998 tổng chi phí nhập khẩu chiếm 27% giá trị
sản xuất và bằng 81% giá trị tăng thêm trong công nghiệp hầu hết các nghành
công nghiệp có hàm lượng trung bình và đều có tỉ lệ chi phí nhập khẩu từ 35-
50% giá trị sản xuất hoặc từ 10- 28% giá trị tăng thêm của công nghiệp
Tóm lại hướng nội đã hạn chế sự phát triển của công nghiệp trong nhiều năm
đem lại một tác hại rất lớn. Điều đó là kết quả của sự điều chỉnh chậm chạp
những chính sách phát triển kinh tế của nhà nước.
2. Tác động tích cực
Bên cạnh những yếu tố tác động tiêu cực chúng ta phải thừa nhận cái
được của máy móc đại công nghiệp với nền kinh tế Việt Nam là vô cùng rõ
ràng và cần thiết, đó là mặt tích cực của máy móc đại công nghiệp
*Làm thay đổi cơ cấu công nghiệp và tăng trưởng công nghiệp
Với sự đóng góp quan trọng của hệ thống máy móc hiện đại mang lại năng
suất cao công nghiệp đã đạt được năng suất cao trong khoảng thời gian từ 1991- 2000. Ngay trong thời kỳ từ 1981- 1999 đầy biến động Công nghiệp
cũng có mức tăng trưởng gần gấp đôi so với nông nghiệp (tính theo giá trị sản
xuất ) sự suy giảm trong những năm 1979-1981 là do chính sách trong nước,
sự tăng trưởng trở lại trong những năm 1982- 1985 là nhờ các cải cách tại TP
Hồ Chí Minh . giai đoạn trì trệ 1986-1990 do cải cách kông dứt khoát, sau đó
khu chế xuất, khu công nghiệp
- Để góp phần khải cứu về vấn đề vai trò của máy móc đại công nghiệp trong
quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá ở nưóc ta tại các khu công nghiệp,
khu chế xuất
+ Đưa máy móc vào chuyên sản xuất công nghiệp, thực hiện các nhiệm vụ
trực tiếp phục vụ hỗ trợ hoạt động sản xuất công nghiệp trong khu đã góp phần
tăng trưoửng kinh tế. Năm 1996 các khu công nghiệp- khu chế xuất cả nước
xuất khẩu 400tr USD chiếm 8,75%, năm 1998 con số này tăng lên 1.300tr
USD và chiếm 14% tổng kim ngạch xuất khẩu riêng hai khu chế xuất Tân
Thuận và Linh Trung có 95 doanh nghiệp sản xuất đã xuất khẩu 405tr USD,
Khu công nghiệp Đồng Nai 6-22 tr USD 66% tổng doanh thu của cả khu và
đóng góp vào ngân sách nhà 28%. Kết quả náy càng góp phần củng cố liềm
tin và kỳ vọng của chúng ta vào vai trò của máy móc đại công nghiệp đối với
tiến trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước.
+ Máy móc đại công nghiệp có vai trò rất to lớn ở nhiều nghành công nghiệp
,Ví dụ trong một nhà máy nhiệt điện cần có bao nhiêu máy móc đại công
nghiệp : tua bin, máy đốt…., và nhà máy thuỷ điện Hoà Bình là một công trình
cho sự áp dụng các máy móc đại công nghiệp
- Trong những năm tiếp theo máy móc đại công nghiệp còn giữ và phát huy
vai trò vô cùng quan trọng của nó trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại
hoá đát nước công nghiệp phát triển sẽ làm nền tảng cho các nghành khác phát
triển
II Vai trò của máy móc đại công nghiệp đối với nông nghiệp và dịch vụ
Việc áp dụng máy móc đại công nghiệp làm tăng khả năng phát triển của
công nghiệp kéo theo sự phát triển của nông nghiệp và dịch vụ từ đó làm tăng
ngân sách nhà nước .
III Đối với đời sống xã hội. Đã tác động trực tiếp đến các đối tượng lao động từ trực tiếp sản xuất gián tiếp
tài liệu tham khảo
1. Tạp chí nghiên cứu kinh tế các số tháng 3,4,5 năm 2000
2. Việt Nam 2000 NXB thống kê
3. Giáo trình kinh tế chính trị Mác Lênin
4.Tạp chí thông tin tài chính năm 2000