Bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật Việt Nam
LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế thế giới cũng như nước ta hiện nay đang chuyển sang thời kỳ mới
với trình độ phát triển thay đổi về chất nghĩa là nền kinh tế tri thức. Nước ta đang xúc
tiến quá trình hội nhập thế giới. Do đó, việc xây dựng hệ thống pháp luật về sở hữu trí
tuệ góp phần thúc đẩy sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật, sự thịnh vượng của văn hóa
và sự phát triển của nền kinh tế đất nước, tăng cường quan hệ hợp tác và trao đổi quốc
tế trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. Bên cạnh đó, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
còn bảo đảm quyền và lợi ích của người sáng tạo.
Trong những năm qua, hoạt động bảo hộ sở hữu trí tuệ ở nước ta đã được Nhà
nước quan tâm đúng mức đặc biệt là bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. Hoạt động
nghiên cứu, xây dựng, hoàn thiện và thực thi pháp luật có những bước tiến bộ quan
trọng, bằng chứng là Luật Sở hữu trí tuệ ra đời và rất nhiều văn bản liên quan khác
được ban hành để giúp việc thực thi về vấn để này có hiệu quả hơn. Một số Bộ, Ban,
Ngành của địa phương cũng đã có chương trình triển khai cụ thể bước đầu có những
chuyển biến khả quan.
Tuy nhiên, song hành cùng những nổ lực đó thì tình trạng vi phạm quyền của
người biểu diễn cũng diễn ra tinh vi và ngày càng phức tạp hơn. Không khó để nhận ra
người biểu diễn đã đóng góp không nhỏ sức sáng tạo trong quá trình biểu diễn các tác
phẩm, vì vậy các công ước quốc tế, cũng như luật pháp các quốc gia đã thừa nhận và
bảo hộ quyền của người biểu diễn. Nhưng mức độ bảo hộ của các nước không đồng
nhất. Một số nước đã coi cuộc biểu diễn là một sản phẩm sáng tạo độc lập và người
biểu diễn hưởng các quyền riêng biệt. Ví dụ: Luật Bản quyền, Thiết kế và sáng chế
năm 1988 của Anh quy định Quyền của người biểu diễn: “độc lập với bất cứ quyền
tác giả, quyền nhân thân đối với tác phẩm được biểu diễn hay bất kỳ bộ phim, bản ghi
âm, chương trình phát sóng hoặc chương trình cáp nào có trong buổi biểu diễn và bất
kỳ quyền và nghĩa vụ nào khác...”. Điều 7.1 Luật Bản quyền Đài Loan cũng khẳng
định người biểu diễn trình diễn tác phẩm hoặc các thể hiện dân gian được bảo hộ độc
lập. Việc bảo hộ quyền của người biểu diễn không ảnh hưởng đến quyền tác giả của
tác phẩm gốc. Trong khi nhiều nước khác nhận định người biểu diễn chỉ đơn thuần
biểu diễn được bảo hộ, người biểu diễn nhận được thù lao tương xứng với công sức
đã bỏ ra trong quá trình thể hiện, truyền bá tác phẩm sẽ càng nỗ lực truyền tải các sản
phẩm sáng tạo của các tác giả, nâng cao giá trị của các tác phẩm. Đồng thời khi biểu
diễn các tác phẩm, người biểu diễn trước tiên phải tuân thủ các nghĩa vụ xin phép và
trả tiền bản quyền cho tác giả theo quy định của pháp luật, khi đó tác giả được thụ
hưởng các quyền mà pháp luật cho phép.
2. Mục đích nghiên cứu
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và cạnh tranh toàn cầu, vấn đề bảo hộ quyền
của người biểu diễn nói riêng và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ nói chung trở nên đặc
biệt quan trọng. Làm thế nào để bảo hộ quyền của người biểu diễn, bảo vệ những
thành quả chân chính, tạo môi trường lành mạnh để người biểu diễn yên tâm hoạt
động, đóng góp hết sức mình cho hoạt động nghệ thuật, bảo vệ được quyền và lợi ích
của họ là mục đích nghiên cứu của sinh viên thực hiện.
3. Phạm vi nghiên cứu
Sở hữu trí tuệ là phạm trù có phạm vi nghiên cứu rất rộng, bao gồm nhiều đối
tượng được nhà nước bảo hộ. trong phạm vi bài niên luận này, do hạn chế của sự hiểu
biết và thời gian nghiên cứu nên sinh viên thực hiện chỉ nghiên cứu một phần rất nhỏ
trong Luật Sở hữu trí tuệ, đó là bảo hộ quyền của người biểu diễn.
GVHD: Nguyễn Phan Khôi
2
SVTH: Đinh Hoàng Sỹ
Bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật Việt Nam
4. Phương pháp nghiên cứu
Bằng phương pháp so sánh, liệt kê, phân tích và tổng hợp, niên luận nhằm
đánh giá khái quát tình trạng bảo hộ quyền của người biểu diễn, đồng thời kiến nghị
nhưng thông qua người biểu diễn với sự cảm thụ và thể hiện sáng tạo của mình thì tác
phẩm trở nên sinh động và có sức truyền thụ tới công chúng nhanh nhất. Chính vì
vậy, dù các hình thức giải trí ngày càng đa dạng nhưng số lượng người biểu diễn
không ngừng gia tăng và nền công nghiệp biểu diễn vẫn không ngừng phát triển.
Người biểu diễn là cầu nối giữa tác giả và công chúng, góp phần truyền bá, lưu giữ và
phát triển các tác phẩm có giá trị, do đó pháp luật đã công nhận và bảo hộ các quyền
của người biểu diễn đối với cuộc biểu diễn của mình.
Quy mô và tính chất cuộc biểu diễn không ảnh hưởng đến quyền của người
biểu diễn. Cuộc biểu diễn có thể chỉ đơn giản có một người biểu diễn như nhạc công
độc tấu một bản nhạc, cũng có thể có rất nhiều người biểu diễn cùng tham gia như một
bộ phim, một vở kịch hay một buổi biểu diễn ca nhạc lớn. Để thực hiện một cuộc biểu
diễn lớn như vậy thường cần có sự hợp tác của rất nhiều người nhưng chỉ những người
trực tiếp trình diễn, thể hiện tác phẩm mới được coi là người biểu diễn và về nguyên
tắc họ là chủ sở hữu quyền đầu tiên đối với cuộc biểu diễn.
Những ai được coi là người biểu diễn được quy định rõ tại điều 3 Công ước
quốc tế bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ chức phát sóng (Công
ước Rome): “Người biểu diễn là các diễn viên, ca sỹ, nhạc công, vũ công và các
người khác nhập vai, hát, đọc, ngâm, trình bày, hoặc biểu diễn khác các tác phẩm
văn học, nghệ thuật”.
1.2. Quyền của người biểu diễn
Khi thỏa mãn các điều kiện luật định thì người biểu diễn được hưởng các
quyền đối với với cuộc biểu diễn của họ. Theo quy định của Luật sở hữu trí tuệ Việt
Nam, quyền của người biểu diễn gồm có quyền nhân thân và quyền tài sản.
Quyền nhân thân là những quyền người biểu diễn không thể chuyển giao và
được bảo hộ vô thời hạn. Theo quy định quyền nhân thân bao gồm các quyền sau đây1:
- Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát
sóng cuộc biểu diễn;
- Bảo vệ sự toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác sửa chữa,
cắt xén hoặc xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy
1
Tài sản trí tuệ nói chung cũng như tài sản của quyền của người biểu diễn nói
riêng được coi là sức mạnh của sự sáng tạo, có khả năng làm giàu, làm phong phú
thêm cuộc sống của cá nhân và của quốc gia về vật chất, xã hội và văn hóa. Tài sản trí
tuệ có liên quan đến mọi khía cạnh của đời sống xã hội.
Thực tế cho thấy rằng một trong những nhân tố giúp tạo nên nền kinh tế thịnh
vượng đó là sự quan tâm dành cho việc bảo hộ mọi hoạt động sáng tạo của con người.
Đối với Việt Nam, hệ thống luật bảo hộ sở hữu trí tuệ có vai trò vô cùng quan
trọng, góp phần thú đẩy sự tiến bộ của khoa học, kĩ thuật, sự thịnh vượng của văn hóa
và sự phát triển kinh tế. Nó không chỉ đảm bảo cho sự vận hành bình thường của nền
kinh tế thị trường mà còn phát triển sự hợp tác và trao đổi quốc tế trong lĩnh vực khoa
học, kinh tế và văn hóa.
1.3.1. Về xã hội
Quyền của người biểu diễn và việc bảo hộ quyền của người biểu diễn khuyến
khích việc đầu tư cho hoạt động sáng tạo của mọi cá nhân, tổ chức, doanh nghiệp vì sự
phát triển của nền kinh tế, văn hóa, xã hội thông qua cơ chế bảo vệ và dung hòa lợi ích
2
khoản 3 điều 29 Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 ( sửa đổi bổ sung năm 2009).
GVHD: Nguyễn Phan Khôi
5
SVTH: Đinh Hoàng Sỹ
Bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật Việt Nam
chính đáng của chủ sở hữu sản phẩm trí tuệ với lợi ích của toàn xã hội.
1.3.2. Về kinh tế
Việc bảo hộ quyền của người biểu diễn tạo môi trường pháp lý phù hợp và bình
3
Điều 4 công ước Rome về bảo hộ quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát
sóng.
4
Điều 7 công ước Rome về bảo hộ quyền của người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát
sóng.
GVHD: Nguyễn Phan Khôi
6
SVTH: Đinh Hoàng Sỹ
Bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật Việt Nam
Nếu việc phát sóng đã được những người biểu diễn đồng ý, thì luật quốc gia
nơi công bố bảo hộ có quyền quy định sự bảo hộ chống tái phát sóng, quy định việc
định hình với mục đích phát sóng và việc sao chép bản ghi âm nhằm mục đích phát
sóng đó.
Các điều khoản và điều kiện khống chế sự sử dụng các bản ghi âm do các tổ
chức phát sóng thực hiện nhằm mục đích phát sóng phải được xác định phù hợp với
luật quốc gia của nước thành viên nơi công bố bảo hộ.
1.4.2. Hiệp ước của WIPO về biểu diễn và bản ghi âm5
Độc lập với quyền kinh tế của người biểu diễn đối với các buổi biểu diễn nghe
trực tiếp hoặc các buổi biểu diễn được định hình trong bản ghi âm, và thậm trí sau khi
chuyển nhượng các quyền kinh tế đó, người biểu diễn có quyền yêu cầu được công
nhận là người biểu diễn của buổi biểu diễn của mình, trừ trường hợp bỏ sót bắt buộc
do cách thức sử dụng buổi biểu diễn gây ra, và quyền phản đối bất kỳ sự bóp méo, cắt
xén hoặc các sửa đổi khác đối với buổi biểu diễn của người biểu diễn mà có thể
SVTH: Đinh Hoàng Sỹ
Bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật Việt Nam
Không quy định nào trong Hiệp ước ảnh hưởng đến quyền tự do của Các Bên
ký kết trong việc xác định các điều kiện, nếu có, theo đó việc chấm dứt quyền áp dụng
sau khi bán hoặc chuyển nhượng quyền sở hữu lần thứ nhất bản gốc hoặc bản sao buổi
biểu diễn đã được định hình với sự cho phép của người biểu diễn 7.
- Người biểu diễn được hưởng độc quyền cho phép cho thuê thương mại tới
công chúng bản gốc và bản sao buổi biểu diễn của mình đã được định hình trong bản
ghi âm như được xác định trong luật pháp quốc gia của các bên ký kết, thậm chí sau
khi phân phối chúng bởi hoặc theo sự cho phép của người biểu diễn.
- Bất luận các quy định trên, bên ký kết mà vào ngày 15/4/1998, đã có và tiếp
tục áp dụng chế độ trả tiền thù lao thoả đáng cho người biểu diễn đối với việc cho thuê
bản sao buổi biểu diễn của họ đã được định hình trong bản ghi âm, có thể duy trì chế
độ đó với điều kiện là việc cho thuê thương mại bản ghi âm này không làm nẩy sinh sự
phương hại về vật chất đối với độc quyền sao chép của người biểu diễn 8.
Người biểu diễn sẽ được hưởng quyền độc quyền cho phép cung cấp tới công chúng
các buổi biểu diễn của mình đã được định hình trong bản ghi âm bằng các phương tiện
hữu tuyến hoặc vô tuyến, theo cách thức mà bên ký kết trong xã hội có thể tiếp cận
chúng từ một địa điểm và vào thời gian do cá nhân họ lựa chọn 9.
1.5. Cách thức bảo hộ quyền của người biểu diễn
Cách thức tốt nhất để bảo vệ quyền của người biểu diễn là cá nhân người biểu
diễn phải tự bảo vệ quyền bà lợi ích chính đáng của mình bằng cách tìm hiểu pháp
luật, áp dụng các qui định của pháp luật vào thực tiễn sao cho phù hợp với hoàn cảnh
của mình. Điều này được qui định cụ thể như sau10:
Áp dụng biện pháp công nghệ nhằm ngăn ngừa hành vi xâm phạm quyền tác
giả, quyền liên quan quy định tại điểm a khoản 1 Điều 198 của Luật Sở hữu trí tuệ là
việc các chủ thể quyền đưa các thông tin quản lý quyền gắn với bản gốc hoặc bản sao
tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, chương trình phát sóng; đưa thông tin quản lý quyền
chấm dứt hành vi xâm phạm, xin lỗi, cải chính không khai, bồi thường thiệt hại;
- Khởi kiện ra Tòa án hoặc trọng tài để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của
mình.
Các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu đến cơ quan có thẩm quyền yêu cầu xử
lý các hành vi xâm phạm quyền của mình. Nội dung đơn yêu cầu gồm có:
- Ngày, tháng, năm làm đơn yêu cầu;
- Tên, địa chỉ của người yêu cầu xử lý xâm phạm; họ tên người đại diện, nếu
yêu cầu được thực hiện thông qua người đại diện;
- Tên cơ quan nhận đơn yêu cầu;
- Tên, địa chỉ của người xâm phạm; tên, địa chỉ của người bị nghi ngờ là người
xâm phạm trong trường hợp yêu cầu tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá
xuất khẩu, nhập khẩu bị nghi ngờ xâm phạm;
- Tên, địa chỉ của tổ chức, cá nhân có quyền, lợi ích liên quan (nếu có);
- Tên, địa chỉ của người làm chứng (nếu có);
- Thông tin tóm tắt về quyền sở hữu trí tuệ bị xâm phạm: loại quyền, căn cứ
phát sinh quyền, tóm tắt về đối tượng quyền;
- Thông tin tóm tắt về hành vi xâm phạm: ngày, tháng, năm và nơi xảy ra xâm
phạm, mô tả vắn tắt về sản phẩm xâm phạm, hành vi xâm phạm và các thông tin khác
(nếu có).
Đối với đơn đề nghị tạm dừng làm thủ tục hải quan đối với hàng hoá xuất khẩu,
nhập khẩu bị nghi ngờ xâm phạm thì cần có thêm thông tin về cách thức xuất khẩu,
nhập khẩu, nước xuất khẩu, cách thức đóng gói, người xuất khẩu, nhập khẩu hợp pháp,
đặc điểm phân biệt hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu hợp pháp với hàng hoá xâm phạm;
nguy cơ xảy ra các tình huống cần áp dụng biện pháp ngăn chặn và bảo đảm xử
phạt và các thông tin khác (nếu có);
- Nội dung yêu cầu áp dụng biện pháp xử lý xâm phạm;
- Danh mục các tài liệu, chứng cứ kèm theo đơn;
- Chữ ký của người làm đơn và đóng dấu (nếu có).
Đơn yêu cầu xử lý xâm phạm phải có các tài liệu, chứng cứ kèm theo nhằm
Bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật Việt Nam
2.1. Bảo hộ quyền của người biểu diễn
2.1.1. Khái niệm người biểu diễn theo pháp luật Việt Nam
Chính là người biểu diễn: các ca sĩ, nhạc công, vũ công và những người
khác trình bày các tác phẩm văn học, nghệ thuật.
2.1.2. Nội dung quyền của người biểu diễn
* Quyền nhân thân:
- Được giới thiệu tên khi biểu diễn, khi phát hành bản ghi âm, ghi hình, phát
sóng cuộc biểu diễn. Bởi tên tuổi của một diễn viên gắn liền với hình tượng, phong
cách biễu diễn của người đó. Về một góc độ nào đó có thể coi như là “ thương hiệu”
của họ. Đôi khi chỉ cần nghe tên một nghệ sĩ nào đó, mà chưa biết nghệ sĩ đó sẽ thể
hiện, trình diễn tác phẩm nào, thì đã tạo nên một sự thu hút đối với công chúng rồi.
- Bảo vệ toàn vẹn hình tượng biểu diễn, không cho người khác cắt xén, sữa
chữa xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào gây phương hại đến danh dự và uy tín của
người biểu diễn. Thực tế cho thấy hiện nay quyền này bị vi phạm khá nhiều. Ví dụ
như việc bắt chước phong cách trình diễn, việc thổi phồng, bóp méo, cường điệu một
số thói quen của một người biễu diễn… Tuy nhiên, pháp luật chỉ xem xét vấn đề
trong trường hợp việc xâm phạm nói trên gây phương hại đến danh dự, nghề nghiệp
của người biểu diễn.
Đây là hai quyền nhân thân quan trọng của người biểu diễn, đối tượng bảo vệ
của nó là những yếu tố thuộc về nhân thân: danh dự, nhân phẩm của người biểu diễn.
Các quyền này không thể chuyển giao cho người khác.
* Quyền tài sản:
Bao gồm quyền cho phép người khác thực hiện các quyền sau đây;
- Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình;
- Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình
trên bản ghi âm;
- Phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của
mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc
- Cuộc biểu diễn do công dân Việt Nam thực hiện tại Việt Nam hoặc nước
ngoài;
- Cuộc biểu diễn do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam;
- Cuộc biểu diễn được định hình trên bản ghi âm, ghi hình được bảo hộ theo
quy định tại Điều 30 của Luật này;
- Cuộc biểu diễn chưa được định hình trên bản ghi âm, ghi hình mà đã phát
sóng được bảo hộ theo quy định tại Điều 31 của Luật này;
- Cuộc biểu diễn được bảo hộ theo điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ
nghĩa Việt Nam là thành viên.
Với các cuộc biểu diễn mà người biểu diễn là công dân Việt Nam dù được thực
hiện tại Việt Nam hoặc nước ngoài đều được pháp luật Việt Nam bảo hộ. Ngoài ra,
cuộc biểu diễn do người nước ngoài thực hiện tại Việt Nam cũng được bảo hộ theo
pháp luật Việt Nam và một số trường cụ thể khác theo quy định của pháp luật.
2.1.4. Giới hạn quyền
Để đảm bảo rằng chủ sở hữu không lạm dụng đặc quyền dành cho người biểu
diễn, hoặc hạn chế một cách bất hợp lí. Luật sở hữu trí tuệ Việt Nam qui định một số
hạn chế và ngoại lệ nhằm đảm bảo cân bằng quyền lợi chính đáng của chủ sở hữu và
người sử dụng.
Các trường hợp sử dụng quyền liên quan không phải xin phép, không phải trả
tiền nhuận bút, thù lao bao gồm:
12
Khoản 1 điều 17 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 ( sửa đổi bổ sung 2009).
GVHD: Nguyễn Phan Khôi
12
SVTH: Đinh Hoàng Sỹ
2.2. Đăng kí bảo hộ quyền của người biểu diễn
2.2.1. Chủ thể nộp đơn14
Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan theo quy định tại
Điều 50 của Luật Sở hữu trí tuệ có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân
khác nộp đơn đăng ký quyền của người biểu diễn tại Cục Bản quyền tác giả Văn học Nghệ thuật hoặc có thể nộp đơn tại Sở Văn hoá - Thông tin nơi người biểu diễn cư trú
hoặc có trụ sở.
13
Điều 33 luật sở hữu trí tuệ năm 2005 ( sửa đổi bổ sung 2009).
Điều 37, nghị định 100/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật dân sự,
Luật sở hữu trí tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan
14
GVHD: Nguyễn Phan Khôi
13
SVTH: Đinh Hoàng Sỹ
Bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật Việt Nam
Cá nhân, pháp nhân nước ngoài có tác phẩm, chương trình biểu diễn, bản ghi
âm, ghi hình, chương trình phát sóng được bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan quy
định tại khoản 2 Điều 13 và Điều 17 của Luật Sở hữu trí tuệ trực tiếp hoặc ủy quyền
cho tổ chức tư vấn, dịch vụ quyền tác giả, quyền liên quan nộp đơn đăng ký quyền tác
giả, quyền liên quan tại Cục Bản quyền tác giả Văn học - Nghệ thuật hoặc tại Sở Văn
hoá - Thông tin nơi người biểu diễn cư trú hoặc có trụ sở.
2.2.2. Thẩm quyền cấp
Cục Bản quyền tác giả Văn học - Nghệ thuật có thẩm quyền cấp, cấp lại,
14
SVTH: Đinh Hoàng Sỹ
Bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật Việt Nam
quyền tác giả Văn học - Nghệ thuật cấp trước ngày Bộ luật Dân sự và Luật Sở hữu trí
tuệ có hiệu lực vẫn tiếp tục được duy trì hiệu lực.
2.2.4. Thời hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền của người biểu diễn
Theo luật định, Cục bản quyền tác giả văn học - nghệ thuật cấp Giấy chứng
nhận đăng kí bảo hộ quyền của người biểu diễn sau 15 ngày làm việc kể từ ngày nộp
đơn hợp lệ. Trong trường hợp từ chối thì Cục bản quyền tác giả văn học - nghệ thuật
phải thông báo bằng văn bản cho nhười nộp đơn.
2.3. Chuyển nhượng quyền của người biểu diễn
Là việc người biểu diễn chuyển giao quyền sở hữu đối với các quyền dưới đây
cho tổ chức, cá nhân khác theo hợp đồng hoặc theo quy định của pháp luật có liên
quan. Bao gồm:
- Định hình cuộc biểu diễn trực tiếp của mình trên bản ghi âm, ghi hình.
- Phân phối đến công chúng bản gốc và bản sao cuộc biểu diễn của mình thông
qua hình thức bán, cho thuê hoặc phân phối bằng bất kỳ phương tiện kỹ thuật nào mà
công chúng có thể tiếp cận được.
- Sao chép trực tiếp hoặc gián tiếp cuộc biểu diễn của mình đã được định hình
trên bản ghi âm, ghi hình.
- Phát sóng hoặc truyền theo cách khác đến công chúng cuộc biểu diễn của
mình chưa được định hình mà công chúng có thể tiếp cận được, trừ trường hợp cuộc
biểu diễn đó nhằm mục đích phát sóng.
Hợp đồng chuyển nhượng quyền của người biểu diễn:
- Tên và địa chỉ đầy đủ của bên chuyển nhượng và bên được chuyển nhượng.
- Căn cứ chuyển nhượng.
- Giá, phương thức thanh toán.
sóng.
- Công bố, sản xuất và phân phối cuộc biểu diễn đã được định hình, bản ghi âm,
ghi hình, chương trình phát sóng mà không được phép của người biểu diễn, nhà sản
xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.
- Sửa chữa, cắt xén, xuyên tạc dưới bất kỳ hình thức nào đối với cuộc biểu diễn
gây phương hại đến danh dự và uy tín của người biểu diễn.
- Sao chép, trích ghép đối với cuộc biểu diễn đã được định hình, bản ghi âm,
ghi hình, chương trình phát sóng mà không được phép của người biểu diễn, nhà sản
xuất bản ghi âm, ghi hình, tổ chức phát sóng.
- Dỡ bỏ hoặc thay đổi thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử mà không
được phép của chủ sở hữu quyền liên quan.
- Cố ý hủy bỏ hoặc làm vô hiệu các biện pháp kỹ thuật do chủ sở hữu quyền
liên quan thực hiện để bảo vệ quyền liên quan của mình.
- Phát sóng, phân phối, nhập khẩu để phân phối đến công chúng cuộc biểu diễn,
bản sao cuộc biểu diễn đã được định hình hoặc bản ghi âm, ghi hình khi biết hoặc có
cơ sở để biết thông tin quản lý quyền dưới hình thức điện tử đã bị dỡ bỏ hoặc đã bị
thay đổi mà không được phép của chủ sở hữu quyền liên quan.
- Sản xuất, lắp ráp, biến đổi, phân phối, nhập khẩu, xuất khẩu, bán hoặc cho
thuê thiết bị khi biết hoặc có cơ sở để biết thiết bị đó giải mã trái phép một tín hiệu vệ
tinh mang chương trình được mã hoá.
- Cố ý thu hoặc tiếp tục phân phối một tín hiệu vệ tinh mang chương trình được
mã hoá khi tín hiệu đã được giải mã mà không được phép của người phân phối hợp
pháp.
2.5. Các biện pháp bảo vệ quyền của người biểu diễn
15
Điều 35 Luật Sở hữu trí tuệ năm 2005 ( sửa đổi bổ sung 2009).
GVHD: Nguyễn Phan Khôi
định mức bồi thường theo một trong các căn cứ sau đây:
- Tổng thiệt hại vật chất tính bằng tiền cộng với khoản lợi nhuận mà bị đơn đã
thu được do thực hiện hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ, nếu khoản lợi nhuận bị
giảm sút của nguyên đơn chưa được tính vào tổng thiệt hại vật chất;
- Giá chuyển giao quyền sử dụng đối tượng sở hữu trí tuệ với giả định bị đơn
được nguyên đơn chuyển giao quyền sử dụng đối tượng đó theo hợp đồng sử dụng đối
tượng sở hữu trí tuệ trong phạm vi tương ứng với hành vi xâm phạm đã thực hiện;
- Trong trường hợp không thể xác định được mức bồi thường thiệt hại về vật
chất theo các căn cứ quy định tại điểm a và điểm b khoản này thì mức bồi thường thiệt
hại về vật chất do Toà án ấn định, tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại, nhưng không quá
năm trăm triệu đồng.
GVHD: Nguyễn Phan Khôi
17
SVTH: Đinh Hoàng Sỹ
Bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật Việt Nam
Trong trường hợp nguyên đơn chứng minh được hành vi xâm phạm quyền sở
hữu trí tuệ đã gây thiệt hại về tinh thần cho mình thì có quyền yêu cầu Toà án quyết
định mức bồi thường trong giới hạn từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, tuỳ
thuộc vào mức độ thiệt hại.
Ngoài ra chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu cầu Toà án buộc tổ chức, cá
nhân có hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ phải thanh toán chi phí hợp lý để thuê
luật sư.
Khi khởi kiện hoặc sau khi khởi kiện, chủ thể quyền sở hữu trí tuệ có quyền yêu
cầu Toà án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu đang có nguy cơ xảy ra thiệt hại
không thể khắc phục được cho chủ thể quyền sở hữu trí tuệ; Hàng hoá bị nghi ngờ
SVTH: Đinh Hoàng Sỹ
Bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật Việt Nam
phương tiện được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh doanh hàng hoá giả mạo về sở
hữu trí tuệ với điều kiện không làm ảnh hưởng đến khả năng khai thác quyền của chủ
thể quyền sở hữu trí tuệ;
- Buộc đưa ra khỏi lãnh thổ Việt Nam đối với hàng hoá quá cảnh xâm phạm
quyền sở hữu trí tuệ hoặc buộc tái xuất đối với hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ,
phương tiện, nguyên liệu, vật liệu nhập khẩu được sử dụng chủ yếu để sản xuất, kinh
doanh hàng hoá giả mạo về sở hữu trí tuệ sau khi đã loại bỏ các yếu tố vi phạm trên
hàng hoá.
Mức tiền phạt được ấn định ít nhất bằng giá trị hàng hoá vi phạm đã phát hiện
được và nhiều nhất không vượt quá năm lần giá trị hàng hoá vi phạm đã phát hiện
được.
2.5.3. Về biện pháp hình sự
Biện pháp hình sự được áp dụng để xủ lý các hành vi xâm phạm trong trường
hợp các hành vi đó có yếu tố cấu thành tội phạm theo qui định của Bộ luật hình sự với
mức phạt tiền tối đa là 200 triệu đồng và mức phạt tù cao nhất là 3 năm.
Các hành vi sau đây có thể được xem xét xử lý bằng biện pháp hình sự:
- Chiếm đoạt quyền tác giả đối với tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo
chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình;
- Mạo danh tác giả trên tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo chí,
chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình;
- Sửa đổi bất hợp pháp nội dung của tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học,
báo chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình;
- Công bố, phổ biến bất hợp pháp tác phẩm văn học, nghệ thuật, khoa học, báo
chí, chương trình băng âm thanh, đĩa âm thanh, băng hình, đĩa hình;
Để hướng dẫn chi tiết vấn đề này Tòa án nhân dân tối cao, Viện Kiểm sát nhân
dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp đã ra thông tư liên tịch số 01 hướng dẫn về truy
Bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật Việt Nam
trong công tác quản lý và thực thi bảo hộ quyền tác giả, quyền liên quan. Tuy nhiên,
tình trạng vi phạm quy định pháp luật trong lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn vẫn còn diễn
ra, nhất là biểu điền ca múa nhạc. Có nhiều nguyên nhân của tình trạng, trong đó
nguyên nhân chủ yếu là nhận thức, ý thức chấp hành pháp luật chưa nghiêm.
3.1.1. Âm nhạc, băng nhạc, đĩa CD
Chẳng hạn, tại Trung tâm bảo vệ quyền tác giả âm nhạc Việt Nam (VCPMC),
hiện có 65 đoàn ca múa nhạc chuyên nghiệp đã trả tiền đối với tác phẩm đặt hàng công
bố lần đầu, nhưng chưa thanh toán sử dụng lại tác phẩm. Năm 2009 mới có 11/65 đoàn
ca múa nhạc chuyên nghiệp phía Bắc ký hợp đồng sử dụng tác phẩm âm nhạc ( trong
tổng số 125 đoàn nghệ thuật thuộc Trung ương, địa phương và quân đội). Nhiều đơn
vị, tổ chức biểu diễn, chương trình biểu diễn không thực hiện nghĩa vụ trả tiền sử dụng
tác phẩm âm nhạc. Riêng năm 2008, Sở văn hóa, Thể thao và Du lịch Hà Nội đã cấp
phép 493 cuộc biểu diễn, nhưng không có tổ chức biểu diễn nào trả tiền sử dụng tác
phẩm âm nhạc.
Tuy vậy, tại cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan (Cục
Bản quyền tác giả) trong 6 năm qua, số đơn thư khiếu nại, tố cáo về quyền tác giả,
quyền của người biểu diễn mà Cục nhận được không có nhiều, nhất là quyền cửa
người biểu diễn. Nhiều ca khúc, nhiều bản ghi âm, ghi hình bị phát tán tràn lan lên
mạng Internet, mạng điện thoại di động,... không ai quản lý. Nhiều bài hát không nằm
trong danh mục được phép phổ biến. Nhiều năm nay, quyền của người biểu diễn gần
như không được đề cập.
Pháp luật quy định và bảo vệ quyền của người biểu diễn không xung đột hoặc
ảnh hưởng đến quyền của nhà sản xuất bản ghi âm, ghi hình. Thực chất, lâu nay người
sử dụng thứ cấp (những người khai thác bản ghi như siêu thị, máy bay, tàu thủy, nhà
hàng, khách sạn, mạng intetrnet,…) mới chỉ trả một phần mà chưa trả toàn bộ, cụ thể
họ mới trả phí sử dụng tác phẩm cho tác giả (qua Trung tâm Bảo vệ quyền tác giả),
cho nhà sản xuất (qua Hiệp hội Công nghiệp ghi âm) mà chưa trả cho người biểu diễn.
Do đó, mọi người cần biết rằng phải trả chi phí cho người biểu diễn khi sử dụng, khai
động Hiệp hội Bản quyền đã được thành lập và hiện hồ sơ đang nằm tại Bộ Nội vụ.
Nếu được chấp nhận thì sẽ được thành lập chính thức. Trong khi chờ đợi việc thành
lập Hiệp hội Bản quyền, người biểu diễn hoàn toàn có thể đòi tiền biểu diễn khi biết cá
nhân, tổ chức nào sử dụng tác phẩm của mình nhằm mục đích thương mại. Khi có sự
xâm phạm, người biểu diễn có thể kiện dân sự (đòi bồi thường thiệt hại, xin lỗi công
khai, trả tiền…).
Mặc dù vậy nhưng không phải người biểu diễn nào cũng có thể bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của mình. Vừa qua, ca sĩ Mỹ Tâm đã là người đầu tiên thực hiện
quyền người biểu diễn. Ca sĩ Mỹ Tâm đã có công văn đến Hiệp hội Công nghiệp ghi
âm và một số dịch vụ viễn thông, mạng điện thoại di động yêu cầu thanh toán thù lao
quyền liên quan các bài hát của ca sĩ này mà các mạng trên đã sử dụng. Có 10 trên 11
đơn vị chấp nhận trả tiền cho những ca khúc của cô được sử dụng làm nhạc chuông
chờ.
Về tác phẩm sân khấu thì có hiện tượng các vở diễn đã công bố thì bị các đoàn
khác dàn dựng lại và biểu diễn thu tiền, nhưng không hề trả thù lao cho tác giả. Hay có
những vở diễn đã được cải biên, chuyển thể nhưng người cải biên, đôi khi là đạo diễn
đã quên đi nghĩa vụ đối với tác giả tác phẩm gốc. Cũng có một số ít đoàn nghệ thuật
nghiêm túc và tôn trọng quyền tác giả.
Không khắc phục được các vấn đề nói trên thì vấn đề bảo hộ quyền của người
biểu diễn sẽ còn gặp nhiều khó khăn.
3.2. Nguyên nhân của thực trạng vi phạm quyền của người biểu diễn
GVHD: Nguyễn Phan Khôi
22
SVTH: Đinh Hoàng Sỹ
Bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật Việt Nam
Đã giải quyết nhiều vụ tranh chấp liên quan đến quyền của người biểu diễn,
đem lại lợi ích tinh thần, vật chất cho người biểu diễn.
Bước đầu đặt cơ sở cho việc xây dựng ý thức tôn trọng pháp luật về quyền của
người biểu diễn.
Nhiều chủ thể quyền đã biết áp dụng các biện pháp để bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp của mình.
GVHD: Nguyễn Phan Khôi
23
SVTH: Đinh Hoàng Sỹ
Bảo hộ quyền của người biểu diễn theo pháp luật Việt Nam
Bộ luật hình sự và Luật Sở hữu trí tuệ đã được sửa đổi, bổ sung đã nâng cao mứ
xủ phạt hành chính và hình sự, đủ sức răng đe và giáo dục các hành vi vi phạm.
Đội ngũ cán bộ công chức Cục bản quyền tác giả đã được nâng cao về chất
lượng, được rèn luyệ trong môi trường quản lý chịu sức ép từ các chuẩn mực pháp
luật và hội nhập nên đã trưởng thành nhanh chóng, đủ khả năng xử lý những trường
hợp phức tạp trong hội nhập.
3.3.2. Về mặt tiêu cực
Bên cạnh những kết quả đạt được, vấn đề thực thi quyền của người biểu diễn
vẫn còn bộc lộ một số hạn chế:
Hệ thống thực thi và việc thi hành còn nhiều vấn đề bức xúc, chưa được cải
thiện. Các hành vi xâm hại diễn ra tinh vi hơn, khí kiểm sóat hơn.
Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền chưa quan tâm đúng mức đến việc bảo vệ
quyền của người biểu diễn. Việc xử lí còn gặp nhiều khó khăn và bất cập. Các trường
hợp xâm phạm quyền của người biểu diễn ngày càng gia tăng nhưng hoạt đông thanh
tra, xử lí của các ngành chưa được thường xuyên, liên tục và khi phát hiện thì xử lí
thiếu triệt để, thường chỉ bị xử lí bằng biện pháp hành chính hoặc dân sự. Điều này cho
vụ pháp lý của tổ chức, cá nhân hoạt động biểu diễn và tổ chức biểu diễn nghệ thuật
chuyên nghiệp khi sử dụng tác phẩm, bản ghi âm, ghi hình, đế xây dựng, hoặc dàn
dựng các chương trình biểu diễn nghệ thuật.
Hai là, cần tổ chức Hội nghị tập huấn toàn quốc hoặc theo khu vực các quy
định pháp luật về hoạt động biểu diễn và tổ chức hoạt động nghệ thuật biểu diễn
chuyên nghiệp nói riêng; và tiếp tục tổ chức tập huấn các quy định pháp luật Sở hữu trí
tuệ về quyền tác giả, quyền liên quan cho các đối tượng quản lý và thực thi ở Trung
ương và địa phương.
Ba là, các tổ chức, cá nhân hoạt động biểu diễn và tổ chức hoạt động nghệ thuật
biểu diễn chuyên nghiệp cần đề cao trách nhiệm của mình đối với việc thực hiện nghĩa
vụ pháp lý của mình trước pháp luật khi khai thác sử dụng tác phẩm âm nhạc, cuộc
biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình.
Bốn là, tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan Thanh tra, Nghệ thuật biểu
diễn, Bản quyền tác giả trong công tác hướng dẫn, kiểm tra các hoạt động nghệ thuật
biểu diễn và tổ chức hoạt động nghệ thuật biểu diễn chuyên nghiệp theo quy định của
pháp luật, trong đó có việc kiểm tra thực thi các quy định hiện hành về quyền tác giả,
quyền liên quan.
Năm là, Tòa án nước ta cần chuẩn bị tốt về đội ngũ thẩm phán được đào tạo
chuyên về sở hữu trí tuệ. Củng cố và phát triển hệ thống hỗ trợ như đầu tư cơ sở vật
chất, kỹ thuật hiện đại để các cơ quan thực thi có thể tăng cường hoạt động thanh tra,
kiểm tra và xử lý nghiêm minh kịp thời đối với các vi phạm. cần triển khai nghiên cứu
các vấn đề nảy sinh phức tạp trong quá trình xét sử các tranh chấp về sở hữu trí tuệ
như định giá tài sản trí tuệ, xác định một cách chính xác các thiệt hại do xâm phạm
quyền gây ra.
Sáu là, khi nước ta gia nhập tổ chức WTO, chúng ta sẽ đối mặt với không ít các
quy định về quyền sở hữu trí tuệ. Vì vậy chúng ta cần điểu chỉnh cách xử lý sao cho
phù hợp với luật của tổ chức thế giới và pháp luật trong nước. Lâu nay, chúng ta chỉ
quen với sử dụng luật của “nước mình” nên việc áp dụng chính xác luật, việc dẫn
chiếu pháp luật, sử dụng thành thạo xung đột pháp luật là rất quan trọng.
Bảy là, việc gia nhập WTO cũng kéo theo làn sóng đầu tư mới vào Việt Nam,