quyền con người của người đồng tính trong pháp luật việt nam - Pdf 31

Luận văn tốt nghiệp

Quyền con người của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

TRƢỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
KHOÁ 35 (2009 – 2013)
ĐỀ TÀI

QUYỀN CON NGƢỜI CỦA NGƢỜI ĐỒNG TÍNH
TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM

Giáo viên hƣớng dẫn:
ThS. Thạch Huôn

Sinh viên thực hiện:
Nguyễn Thị Huỳnh Như
MSSV: 5095354
Lớp: Tư pháp 2 Khoá 35

Cần Thơ, Tháng 11 năm 2012

GVHD: ThS. Thạch Huôn

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


Luận văn tốt nghiệp


2.1.2.2 Góc nhìn về giới tính trong hôn nhân từ năm 1945 đến trước luật Hôn
nhân gia đình 2000 có hiệu lực ........................................................................ 24
2.1.2.3 Góc nhìn về giới tính trong hôn nhân theo luật Hôn nhân gia đình 2000
.......................................................................................................................... 24
2.1.3 Trong lĩnh vực hình sự ................................................................................. 24
2.1.4 Trong lĩnh vực lao động.............................................................................. 25
2.2 Theo quyền con ngƣời ...................................................................................... 26
2.2.1 Quyền con người trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình ............................... 26
2.2.1.1 Ở Việt Nam............................................................................................ 26
2.2.1.2 Trên Thế Giới ........................................................................................ 28
2.2.2 Quyền con người trong những lĩnh vực khác của đời sống xã hội .............. 33
2.2.2.1 Chính trị ................................................................................................ 33
2.2.2.2 Giáo dục ................................................................................................ 35
2.2.2.3 Kinh tế ................................................................................................... 35
2.2.2.4 Văn học ................................................................................................. 36
2.2.2.5 Nghệ thuật ............................................................................................. 37
2.3 Sự nhìn nhận của xã hội về ngƣời đồng tính và suy ngẫm............................ 38
2.3.1 Sự nhìn nhận của xã hội ............................................................................... 38
2.3.2 Những suy ngẫm về người đồng tính........................................................... 41
2.4 Một số hạn chế và kiến nghị nhằm phát huy quyền con ngƣời của ngƣời
đồng tính .................................................................................................................. 42
2.4.1 Hạn chế ........................................................................................................ 42

GVHD: ThS. Thạch Huôn

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


Luận văn tốt nghiệp


sáng như ngày hôm nay.
Kế đến, em xin cảm ơn quý thầy cô khoa Luật – Đại học Cần Thơ không
chỉ mang đến cho em những kiến thức quí báu mà còn những bài học cuộc sống
để em thêm vững bước vào đời. Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành
nhất đến Thầy Thạch Huôn đã chấp nhận hướng dẫn luận văn cho em. Thời
gian qua thầy đã tận tình hướng dẫn giúp em hoàn thành luận văn tốt nghiệp.
Và lời cảm ơn cuối cùng dành cho những người bạn đáng quý đã cùng
em vượt qua những khó khăn, luôn sẻ chia những kiến thức trong học tập,
những vui buồn trong cuộc sống.
Xin gửi lời cảm ơn sâu sắc nhất đến tất cả mọi người!
Người Viết

Nguyễn Thị Huỳnh Như

GVHD: ThS. Thạch Huôn

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


Luận văn tốt nghiệp

Quyền con người của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

LỜI NÓI ĐẦU
1. Lý do nghiên cứu:
Mặc dù người đồng tính là một bộ phận hợp thành nên nhân loại nhưng ở
nhiều nơi trên thế giới họ vẫn là nạn nhân của tình trạng ngược đãi. Tại Việt
Nam, đồng tính là một chủ đề nhạy cảm, mới nổi lên và thu hút sự chú ý của dư
luận. Những gì mà xã hội biết về người đồng tính hầu như chỉ giới hạn trong
những phóng sự, bài viết đăng tải trên các phương tiện truyền thông. Trong một

chính trị. Mặc khác quyền của người đồng tính cũng không được quy định riêng
lẻ trong các văn bản pháp luật nên người viết chỉ tập trung nghiên cứu những
quy định về quyền bình đẳng giữa các cá nhân trong các lĩnh vực của pháp luật,
đặc biệt là lĩnh vực hôn nhân và gia đình.

GVHD: ThS. Thạch Huôn

1

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


Luận văn tốt nghiệp

Quyền con người của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
Để thực hiện đề tài người viết đã thực hiện các phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý luận trên tài liệu, sách vở;
- Phương pháp phân tích luật viết;
- Phương pháp phân tích tổng hợp;
- Phương pháp phỏng vấn và xử lý các ý kiến phỏng vấn;
- Phương pháp thống kê, tổng hợp số liệu thực tế.
5. Kết cấu đề tài:
Luận văn kết cấu gồm 2 chương:
Chương 1: Khái quát chung về quyền con người và người đồng tính
Chương 2: Quyền con người của người đồng tính trong pháp luật Viêt
Nam


như một học thuyết, có hai quan điểm về quyền con người ở thời kì này.
Quan điểm thứ nhất: trường phái pháp luật tự nhiên với các nhà tư tưởng
bậc thầy như: Spinoda (1632 – 1677), Locke (1632 -1704), Kant (1724 -1804)
cho rằng quyền con người là đặc quyền tự nhiên. Đặc quyền tự nhiên do có
pháp luật tự nhiên đứng trên, cao hơn pháp luật thực định. Locke nêu ra và lập
luận các quyền cơ bản, tự nhiên của con người bao gồm quyền sống, quyền
được tự do và quyền có tài sản. Thuyết pháp luật tự nhiên ra đời khi ở Châu Âu
phong kiến, người dân thời bấy giờ đã vào thế tận cùng của sự nô dịch bởi hai
thứ quyền lực là “vương quyền” và “thần quyền”. Ở thế kỉ XVII, XVIII, chế độ
quân chủ đạt đến tột đỉnh của nó về mặt thể chế và sự tha hoá, hầu hết các quốc
gia phong kiến Châu Âu đều thiết lập chế độ chuyên chế độc tài. Đó cũng là
thời kỳ Giáo hội thiên chúa giáo trượt ra khỏi lý tưởng ban đầu của nó. Các vua
chúa coi giáo hội là đồng minh để hợp pháp hoá quyền uy của họ. Chính sự liên
minh giữa vương quyền và thần quyền trở thành nguyên nhân vi phạm, chà đạp
các quyền con người. Vì vậy, trong ý nghĩa ban đầu, thuyết pháp luật tự nhiên
ra đời nhằm đáp ứng nhu cầu tự nhiên của con người; khẳng định quyền con
người là tự nhiên, vốn có, nhằm đối lập, phủ nhận quan niệm về quyền con
người do vương quyền và thần quyền ban phát, tặng cho. Quyền tự nhiên, pháp
luật tự nhiên, một mặt nhằm đối lập quyền lực nhà nước, pháp luật thực định

1

United Nations: Human Rights: Question and Answers, Geneva, 1994.
Phạm Văn Tỉnh: Quyền con người – bản chất và cách tiếp cận khoa học pháp lý, Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, Viện Nhà nước và pháp luật, Số 12/2010
2

GVHD: ThS. Thạch Huôn

3

cấp, Nhà nước có sự xâm phạm quyền con người thì vấn đề quyền con người
mới được đặt ra cho nhân loại. Ở đây chúng ta thấy có một nghịch lí, một mặt
Nhà nước là công cụ thống trị, áp bức của giai cấp này đối với giai cấp khác, do
đó luôn là lực lượng có khả năng vi phạm các quyền của con người cao nhất.
Mặt khác, với chức năng xã hội Nhà nước lại đóng vai trò là người đại diện của
xã hội để ghi nhận, xử lý và giải quyết những vi phạm về quyền con người
trong xã hội
Học thuyết Mác - Lênin là một chỉnh thể thống nhất thể hiện những tư
tưởng nhân văn chân chính nhất của loài người, là sự kế thừa một cách biện
chứng những giá trị tinh hoa của nhân loại về con người và quyền con người.
C.Mác đã cho rằng quyền con người là sự thống nhất biện chứng giữa “quyền
tự nhiên” (như một đặc quyền vốn có và chỉ con người mới có) và “quyền xã
hội”, sự chế định rằng các quy chế pháp lý nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã
hội. Như vậy, Mác đã xuất phát từ quan niệm đúng đắn về quyền con người.
Con người là “con người – xã hội” là sự “tổng hoà những quan hệ xã hội”4 do
đó quyền con người thể hiện sâu sắc các giá trị của các quan hệ xã hội và hiển
nhiên là mang bản chất đó.

3
4

Trần Ngọc Đường: Bàn về quyền con người, quyền công dân, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 2004
C. Mác và Ph. Ăngghen toàn tập, tập 3, Nxb Chính trị quốc gia Hà Nội, 1993

GVHD: ThS. Thạch Huôn

4

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


tắc đó. Cho nên không thể viện lí do bảo vệ quyền con người để vi phạm các
nguyên tắc như tôn trọng chủ quyền quốc gia, không can thiệp vào công việc
nội bộ của các nước, không dùng sức mạnh hoặc đe doạ dùng sức mạnh trong
các quan hệ quốc tế”7. Ts. Cao Đức Thái trong bài “Quyền con người trong
thời kì đổi mới – Mấy vấn đề nhận thức lý luận và thực tiễn”, cùng công bố
trong cuốn “Quyền con người – Tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã
hội” đã định nghĩa “Quyền con người là nhân phẩm, các nhu cầu (về vật chất
và tinh thần), lợi ích cùng với nghĩa vụ của con người được thể chế hoá trong
các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia”.
Xét chung, quyền con người thường được hiểu là những nhu cầu, lợi ích
tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong
pháp luật quốc gia và thoả thuận pháp lý quốc tế.

5

United Nations,UNHCHR, Freequently Asked Questions on a Human Rights – based Approach to
Development Cooperation, New York anh Geneva, 2006
6
Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia, 2009
7
Từ điển bách khoa Việt Nam tập 3, Nxb Từ điển bách khoa Hà Nội, 2003

GVHD: ThS. Thạch Huôn

5

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


Luận văn tốt nghiệp

Luật của Cyrus Đại đế

586 - 456 TCN “Luận ngữ” của Khổng tử
7 - 1 TCN

Kinh Thánh

610 - 612

Kinh Kôran

1215

Đại hiến chương Magna Carta (Anh)

1689

Luật về Quyền (Anh); “Hai khảo luận về chính quyền” của
John Locke

1776

“Tuyên ngôn độc lập” (Mỹ)

1789

“Tuyên ngôn quyền con người và quyền công dân” (Pháp)
Bộ luật về các quyền (10 tu chính án đầu tiên hiến pháp) (Mỹ)

1791

Tuyên ngôn toàn thế giới về quyền con người

Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, Nxb Chính trị quốc gia năm 2009

GVHD: ThS. Thạch Huôn

6

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


Luận văn tốt nghiệp

Quyền con người của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

1966

Công ước quốc tế về các quyền chính trị dân sự và Công ước
về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá

1968

Hội nghị thế giới về quyền con người lần thứ nhất tại Têhêran
(Iran)

1993

Hội nghị thế giới về quyền con người lần thứ hai tại Viên
(Áo), thông qua tuyên bố Viên và Chương trình hành động.


lập gồm những người lấy nguồn gốc quyền lực chính đáng của mình từ sự nhất
trí của nhân dân, rằng bất cứ khi nào chính phủ trở thành nguyên nhân phá huỷ
mục đích đó thì nhân dân có quyền thay đổi hoặc xoá bỏ và thiết lập một chính
phủ mới, đặt nền tảng trên những nguyên tắc và tổ chức quyền lực theo hình
thức mà nhân dân thấy là thích hợp nhất để đảm bảo an ninh và hạnh phúc cho
họ”.
Với tư cách là một văn kiện chính trị - pháp lí quan trọng, chính thức khai
sinh ra Hợp chủng quốc Hoa Kỳ, một nhà nước độc lập và có chủ quyền, tuyên
ngôn độc lập của Mỹ năm 1776, là cơ sở để Nhà nước Hoa Kỳ ban hành Hiến
pháp ngày 17 tháng 9 năm 1787, Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước Hoa Kỳ.
Tuy nhiên Hiến pháp 1787 không quy định địa vị pháp lý của công dân nhưng

GVHD: ThS. Thạch Huôn

7

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


Luận văn tốt nghiệp

Quyền con người của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

10 điều tu chính án đầu tiên được Quốc hội Mỹ thông qua vào năm 1791 đã bổ
sung vào Hiến pháp này những quy định về các quyền cơ bản của công dân và
sau đó là các tu chính án khác.
°Quyền con người trong Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm
1789
Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp nhắc lại và nhấn mạnh tư
tưởng trong Tuyên ngôn độc lập của Mỹ rằng con người sinh ra phải được tự do


Điều 1, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp
Điều 2, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp
11
Điều 4, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp
12
Điều 6, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp
13
Điều 7, Điều 8, Điều 9, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp
14
Điều 10, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp
10

GVHD: ThS. Thạch Huôn

8

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


Luận văn tốt nghiệp

Quyền con người của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

quyền tự do trao đổi tư tưởng, ý kiến, các quyền tự do ngôn luận, báo chí, xuất
bản15; quyền sở hữu16.
Cũng như Tuyên ngôn độc lập Mỹ, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền
Pháp yêu cầu phải xây dựng được một Nhà nước trong sạch, vững mạnh để bảo
đảm quyền con người, quyền công dân: “Đảm bảo các quyền con người và của
công dân đòi hỏi phải có một lực lượng công cộng, lực lượng này được lập ra vì

ngôn gồm lời nói đầu và 30 điều, lần đầu tiên trong lịch sử chính trị thế giới có
một văn bản chính thức của một tổ chức lớn nhất hành tinh về nhân quyền, tạo
15

Điều 11, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp
Điều 17, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp
17
Điều 12, Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp
18
Điều 1, Hiến chương của Liên hiệp quốc 1945
19
Điều 55, Hiến chương của Liên hiệp quốc 1945
16

GVHD: ThS. Thạch Huôn

9

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


Luận văn tốt nghiệp

Quyền con người của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

cơ sở chính trị - tư tưởng để Liên hiệp quốc cụ thể hoá thành những công ước
mang tính chất pháp lý bắt buộc phải tôn trọng và thực hiện đối với các quốc
gia là thành viên của công ước đó trong việc đảm bảo quyền con người - một
là: mọi người sinh ra điều tự do và bình đẳng về mặt phẩm giá và các quyền 20;
hai là: mọi người sinh ra đều được hưởng các quyền và tự do được nêu trong

20

Điều 1, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948
Điều 2, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948
22
Điều 2, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948
23
Điều 7, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948
24
Điều 28, Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền 1948
25
Điều 6, Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1946
26
Điều 7, Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoà năm 1946
21

GVHD: ThS. Thạch Huôn

10

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


Luận văn tốt nghiệp

Quyền con người của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

Kế thừa và phát huy những quy định của Hiến pháp 1946 về các quyền cơ
bản của công dân và những đảm bảo của Nhà nước cho các quyền đó, Hiến
pháp 1959 đã có bước tiến mới trong việc ghi nhận quyền con người và xác lập

có 4 điều quy định 6 quyền về chính trị (Điều 7, Điều 56, Điều 57, Điều 73) đó
là quyền tham gia quản lí công việc của Nhà nước và của xã hội, quyền bầu cử
đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân, quyền khiếu nại tố cáo với
bất cứ cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân hoặc bất cứ
cá nhân nào thuộc các cơ quan, tổ chức và đơn vị đó.
27

Điều 23, Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoàn năm 1959
Điều 5, Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoàn năm 1959
29
Điều 29, Hiến pháp nước Việt Nam dân chủ cộng hoàn năm 1959
30
Điều 25, Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1980
28

GVHD: ThS. Thạch Huôn

11

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


Luận văn tốt nghiệp

Quyền con người của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

°Quyền con người trong Hiến pháp 1992
Hiến pháp ngày 15 tháng 4 năm 1992 (gồm lời nói đầu, 12 chương, 147
điều). Xét về nội dung cũng như hình thức thể hiện các quyền con người, có thể
nói rằng, quyền công dân trong Hiến pháp 1992 đã có một bước phát triển về

Pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam (pháp luật Việt Nam nói riêng và
pháp luật quốc gia nói chung) là hai hệ thống pháp luật khác nhau nhưng không
đối lập mà có mối liên hệ, tác động qua lại thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển.
Pháp luật quốc tế có thể tác động, thúc đẩy sự phát triển tiến bộ của pháp luật
quốc gia, trong khi pháp luật quốc gia đóng vai trò là thông tin truyền tải và
cũng là điều kiện đảm bảo cho pháp luật quốc tế được thực hiện trên thực tế.
Trong thế kỷ XVIII, pháp luật quốc gia là nền tảng thúc đẩy quá trình hình
thành và phát triển của pháp luật quốc tế về quyền con người. Thực tế cho thấy,

GVHD: ThS. Thạch Huôn

12

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


Luận văn tốt nghiệp

Quyền con người của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

các văn kiện quốc tế cũng như pháp luật quốc tế cơ bản về quyền con người đã
chịu ảnh hưởng rất nhiều từ những văn kiện quốc gia nổi tiếng thế giới như:
Tuyên ngôn độc lập của Mỹ 1776, tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của
Pháp 1789… mà trong đó chứa đựng những quy phạm rất tiến bộ, được cộng
đồng quốc tế thừa nhận như là những giá trị phổ biến chung cho toàn nhân loại,
vượt ra khỏi phạm vi mọi biên giới quốc gia. Có thể nói, Tuyên ngôn thế giới
về nhân quyền là kết quả, là thành tựu mà pháp luật quốc gia đã cố công gầy
dựng nên.
Pháp luật quốc tế về quyền con người, tác động, thúc đẩy sự phát triển tiến
bộ của pháp luật quốc gia về quyền con người. Sự hình thành và phát triển của

cho nhau những chức năng đó được.

GVHD: ThS. Thạch Huôn

13

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


Luận văn tốt nghiệp

Quyền con người của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

Theo từ điển bách khoa Việt Nam: “Giới tính: chỉ đặc điểm đực và cái
trong giới sinh vật. Ở người là toàn bộ những đặc điểm riêng biệt tạo nên sự
khác nhau giữa nam và nữ. Giới tính của con người có nguồn gốc sinh học và
nguồn gốc xã hội. Những đặc điểm giải phẩu và sinh lí của cơ thể là tiền đề và
cơ sở vật chất tạo nên sự khác biệt của giới tính. Tình cảm và ý thức về giới chỉ
được hình thành thông qua hoạt động và giao tiếp với người khác, dưới ảnh
hưởng của Giáo dục và các điều kiện xã hội. Chính xã hội quy định và đánh giá
giới tính của con người về mặt xã hội, quy định sự phân công lao động giữa
nam và nữ, đòi hỏi ở mỗi giới tính phải có tiêu chuẩn đạo đức, cách cư xử, tác
phong, đặc điểm khác nhau”31.
Từ điển Việt Nam 2005 lại có khái niệm ngắn gọn và tổng quát: “Giới tính:
những đặc điểm chung phân biệt nam với nữ, giống đực với giống cái”32.
1.2.2 Khái niệm người đồng tính
Thiên hướng tình dục chỉ sự bị hấp dẫn về mặt tình cảm hoặc về mặt tình
dục bởi người khác giới tính hoặc người cùng giới tính với mình hoặc cả hai
một cách lâu dài.
Thiên hướng tình dục thường được phân loại dựa trên giới tính của những


14

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


Luận văn tốt nghiệp

Quyền con người của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

bình thường. Trên thực tế thường gặp đồng tính luyến ái giữa nam với nam, ít
gặp ở nữ hơn. Đồng tính luyến ái tồn tại từ lâu ở các nước phương Tây, có nơi
được chấp nhận như hợp pháp. Gần đây được dư luận xã hội chú ý vì là một
trong những nguyên nhân chủ yếu gây lan tràn AIDS (hội chứng suy giảm miễn
dịch mắc phải)”34.
Đồng tính không phải là bệnh. Tất cả các tổ chức y tế trong đó có cả APA,
Hiệp hội tâm lý học nổi tiếng của Mỹ đều cho rằng đồng tính không phải là
bệnh.
Cần phân biệt người có xu hướng tình dục đồng giới bẩm sinh (đồng tính
thật sự) với:
- Trạng thái tự cho bản thân thuộc giới khác: người hoàn toàn bình thường
về giải phẫu và sinh học nhưng tự cho bản thân thuộc giới khác và tìm cách
thực hiện ý định chuyển giới bằng các phương pháp phẫu thuật và sinh hóa.
- Trạng thái tự cải trang quần áo để biểu lộ thành giới khác: là người chỉ
thích mặc quần áo khác giới để cảm thấy khác biệt với người khác. Những
trường hợp này còn gọi là Rối loạn định dạng giới (Gender identity disorder).
Rối loạn định dạng giới được phân loại như là một chứng rối loạn tâm thần
bởi Trung tâm quốc tế về Phân loại bệnh và các vấn đề sức khỏe liên quan, biểu
hiện của nó là những hành vi, thái độ chối bỏ giới tính của bản thân mình.
1.2.3 Quan niệm xã hội về người đồng tính


Luận văn tốt nghiệp

Quyền con người của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

Những năm 1950, hàng trăm người bị sa thải vì là đồng tính trong một
chiến dịch có tên là "Nỗi sợ hoa oải hương" của McCarthyism. Tuy nhiên,
nhiều nhà chính trị đã chỉ trích một cách mỉa mai ông vì có phụ tá là người
đồng tính, Roy Cohm.
Vào tháng 1 năm 2001, Bộ văn hóa Ai Cập cho đốt 6.000 quyển sách thơ
đồng tính thế kỷ thứ 8 của nhà thơ Ba Tư-Ả Rập Abu Nuwas để xoa dịu
người Hồi giáo.
Ở Mỹ, theo FBI 15.6% vụ tấn công do thù ghét được trình báo với cảnh
sát là do kì thị thiên hướng tình dục. Trong đó 61% vụ tấn công là nhằm vào
người đồng tính nam. Năm 1998 một sinh viên đồng tính, Mathew Shepard, bị
giết là một trong những vụ tai tiếng nhất ở Mỹ. Hiện nay đồng tính luyến ái bị
xử tội chết ở nước Iran, Mauritania, Nigeria, Pakistan, Saudi Arabia, Sudan, Các
Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất, và Yemen.
Ở Đông Á, tình yêu đồng giới có trong những tài liệu lịch sử xa xưa nhất.
Đồng tính luyến ái ở Trung Quốc, được biết đến như mối tình chia
đào, mối tình cắt tay áo hoặc phong tục phương Nam, được ghi nhận có từ
khoảng năm 600 TCN. Những từ nói trại này được dùng để miêu tả những hành
vi chứ không phải nhận thức. Các mối quan hệ thường giữa những người có
tuổi tác và địa vị xã hội khác biệt nhau.
Đồng tính luyến ái ở Nhật Bản, được biết đến dưới dạng chúng
đạo hay nam sắc, những từ bị ảnh hưởng từ văn chương Trung Hoa, được ghi
nhận từ hơn một ngàn năm và từng là một phần trong đời sống Phật giáo và
truyền thống Samurai. Văn hóa tình yêu cùng giới làm truyền thống hội họa và
văn chương nhằm tôn vinh những mối quan hệ đó được nâng cao.
Kathoey hay "trai nữ" (cô chàng) là một phần trong xã hội Thái Lan trong

Ở Châu Mỹ, trong xã hội thổ dân Bắc Mỹ, hình thức đồng tính luyến ái
phổ biến nhất là những người được xem là có hai linh hồn. Những người này
được hầu hết các bộ lạc công nhận và đặt tên cho vai trò này. Thường những
người có hai linh hồn được công nhận lúc còn nhỏ, được cha mẹ cho lựa chọn
để theo con đường này. Nếu đứa bé nhận vai trò, nó sẽ được dạy dỗ về các
nhiệm vụ của mình, theo các phong tục của giới tính mà nó đã chọn. Những
người này thường làm thầy pháp nhưng được xem là có nhiều quyền phép hơn
các thầy pháp thường. Trong lĩnh vực tình dục, họ sẽ có quan hệ với những
người khác phái.
Chính nhạc disco có nguồn gốc từ sự liên kết ban đầu với lối sống của một
bộ phận giới đồng tính luyến ái nam ở Thành phố New York và sau đó được
phát triển trên nền tảng nhạc đại chúng da đen trong những năm của thập niên
1970.
Ở Trung Đông, nhiều nhà thơ Hồi giáo tại các nước Ả Rập và Ba Tư trong
thời trung cổ đã viết thơ ca tụng những thằng nhỏ đem rượu cho họ trong các
quán rượu và ngủ chung giường với họ. Trong một số nền văn hóa Hồi giáo tục
lệ đồng tính luyến ái rất phổ biến (xem Burton, Gide), và vẫn còn tồn tại đến
ngày nay.
Tại Trung Á, trên Đường tơ lụa, nơi giao điểm giữa hai nền văn hóa Đông
- Tây, đã nảy ra một văn hóa đồng tính luyến ái. Trong đó có người bacchá,
thường là người tiếp đãi viên đồng thời làm nghề mại dâm, thanh niên nam ăn
mặc lộng lẫy và có trang điểm. Những người bacchá hát và múa những bài hát
khiêu dâm cho khán giả. Họ được huấn luyện từ còn nhỏ và làm việc cho đến
khi râu mọc.
1.2.3.2 Việt Nam
Ở Việt Nam thái độ xã hội đối với đồng tính luyến ái là kỳ thị ở các mức
độ khác nhau hoặc có thể không có thái độ rõ ràng như phớt lờ, không quan
tâm. Một tỉ lệ rất nhỏ có thái độ cởi mở với người đồng tính.
Nhiều người cho rằng đồng tính luyến ái là do ảnh hưởng lối sống
của phương Tây, tuy nhiên theo điều này là không đúng. Ngoài ra, sự du nhập

Đa số cho rằng đàn ông nữ tính hoặc phụ nữ nam tính là người đồng tính. Bên
cạnh đó còn có quan niệm cho rằng ngày nay càng có nhiều người đồng tính là
do đua đòi bắt chước nhưng có thể đây không phải là nguyên nhân mà lí do để
số lượng người đồng tính ngày càng gia tăng là do cái nhìn của xã hội đã thông
thoáng hơn nên những người đồng tính mới dám công khai thừa nhận mình là
người đồng tính, bởi trên thực tế nếu họ cố tình che giấu thì cũng thật sự khó
khăn để biết được giới tính của họ.
Định kiến xã hội đối với người đồng tính ngày càng giảm, ngày càng có
nhiều bài báo bảo vệ quyền lợi của họ cũng như những diễn đàn những tổ chức
giành riêng cho người đồng tính, để bảo vệ quyền lợi của họ. Tuỳ theo mức độ
công khai cởi mở của mình mà người đồng tính có cách sống khác nhau. Có
những cặp đồng tính đã tổ chức đám cưới với nhau song song với sự phản đối
thì họ cũng được rất nhiều người ủng hộ.
Việc kì thị của xã hội có ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng của những người
đồng tính làm cho cuộc sống của họ vấp phải những chướng ngại, hoang mang,
có thể vì thế mà họ sống khép kín, cô độc, điều này ảnh hưởng đến sự phát triển
tâm lí của họ, họ không thể phát huy hết tài năng của mình để cống hiến cho xã
hội và đôi khi họ còn làm những chuyện gây hại đến trật tự xã hội. Sợ sự kỳ thị
của xã hội nhiều người đồng tính lập gia đình như mọi người bình thường
nhưng cuộc sống hôn nhân của họ lại không được hạnh phúc, không chỉ họ
không hạnh phúc mà cả người vợ, người chồng của họ cũng đau khổ.
Các tổ chức và hoạt động dành cho người đồng tính ở Việt Nam là khá
hiếm và không đa dạng. Gần đây, một số câu lạc bộ dành cho người đồng
tính được thành lập như câu lạc bộ Hải Đăng ở Hà Nội, Ánh Sao Đêm ở Đà
Nẵng, Muôn Sắc Màu ở Khánh Hoà, Bầu Trời Xanh ở thành phố Hồ Chí Minh
và Đồng Xanh ở Cần Thơ. Các câu lạc bộ này cung cấp cho những người nam
có quan hệ tình dục với nam kiến thức cơ bản về HIV/AIDS và tình dục an
toàn, cũng như giúp các thành viên có cơ hội chia sẻ khó khăn trở ngại để cùng
tìm cách giải quyết. Ngoài ra còn có biểu diễn văn nghệ, thời trang, hài kịch
lồng ghép với các chủ đề về HIV/AIDS hay đánh giá hành vi tình dục.

người là trí thức hoặc có địa vị trong xã hội hoặc ở nhiều tầng lớp, nghề nghiệp,
lối sống khác nhau có thể làm cho người ta giảm bớt thành kiến hoặc ít ra có cái
nhìn rộng rãi hơn về người đồng tính. Tuy nhiên, khi xã hội còn nhìn nhận đồng
tính còn khá khắt khe thì người đồng tính trí thức hoặc có địa vị lại có xu hướng
không công khai thiên hướng tình dục của mình. Người đồng tính trẻ ở Việt
Nam cũng như ở các nước châu Á rất mong muốn có được một môi trường thân
thiện đồng tính như một số nước ở phương Tây.

GVHD: ThS. Thạch Huôn

19

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


Luận văn tốt nghiệp

Quyền con người của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

Chƣơng 2
QUYỀN CON NGƢỜI CỦA NGƢỜI ĐỒNG TÍNH
TRONG PHÁP LUẬT VIỆT NAM
2.1 Theo quy định của pháp luật
2.1.1 Trong lĩnh vực dân sự
Bộ luật dân sự 2005 ra đời, luật pháp đã thừa nhận quyền cá nhân được
xác định lại giới tính của mình. Xuất phát từ việc nhìn nhận, con người cần
được pháp luật bảo vệ quyền tự do cá nhân, khi ở góc độ y học còn khá nhiều
trường hợp nam sinh ra nhưng lại có buồng trứng và ngược lại nữ nhưng lại có
tinh hoàn và dương vật (ẩn), chỉ nhìn bên ngoài không thể phát hiện nên thường
được các bác sĩ sản khoa cũng như cha mẹ xác định nhầm giới tính. Trường hợp

39

Điều 36, Bộ luật dân sự 2005
Điều 2, Nghị định 88/2008/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 5 tháng 8 năm 2008

GVHD: ThS. Thạch Huôn

20

SVTH: Nguyễn Thị Huỳnh Như


Luận văn tốt nghiệp

Quyền con người của người đồng tính trong pháp luật Việt Nam

Tuy nhiên, theo nhìn nhận của người viết, đối tượng điều chỉnh của Nghị
định này không phải là người đồng tính bởi “đồng tính luyến ái không phải là
bệnh, không chữa được và không cần phải chữa”40. Theo nghiên cứu của tiến sĩ
Afred Kinsey vào khoảng đầu thập niêm 1950 nghiên cứu này còn được gọi là
“thước đo Kinsey” (Kinsey ’s scale)41, trong đó chia ra bảy nấc thang từ 0 – 6,
mỗi điểm ứng với thiên hướng tình dục của con người (xem bảng).
Kinsey phát biểu rằng thế giới loài người không phải được chia ra thành
hai nhóm riêng rẽ, mà là một dạng thể biến thiên liên lục. Sự biến thiên trên
khuynh hướng tình dục tạo ra các khuynh hướng đồng tính, song tính hoặc dị
tính luyến ái, chứ con người không nhất thiết phải đi theo một thiên hướng tình
dục duy nhất. Nghiên cứu của Kinsey trên 10.000 người Mỹ đã phát hiện phần
lớn khuynh hướng tính dục của con người nằm ở giữa sáu nấc thang của thước
đo, tức là hầu hết chúng ta có khuynh hướng song luyến ái, chứ không phải dị
tính luyến ái như nhiều người vẫn tưởng. Trong thời đại mà tình dục đi đối với


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status