MỤC LỤC SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
1. MỞ ĐẦU
1.1. Lí do chọn đề tài
1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
3
1.3. Đối tượng nghiên cứu.
3
1.4. Phương pháp nghiên cứu
3
2. NỘI DUNG
2.1. Cơ sở lí luận
4
2.2. Thực trạng vấn đề nghiên cứu
6
2.3. Các giải pháp sử dụng để giải quyết vấn đề
8
* TÀI LIỆU THAM KHẢO
21
*CÁC HOẠT ĐỘNG LỚN TUYÊN TRUYỀN VỀ AN TOÀN GIAO THÔNG TRÊN
CẢ NƯỚC VÀ TẠI NHÀ TRƯỜNG
1. MỞ ĐẦU
1.1.Lí do chọn đề tài
1
Việt Nam đang trong xu thế hội nhập với đà phát triển chung của thế giới.
Cùng với sự phát triển kinh tế là sự giao thoa, hoà nhập về văn hoá. Giáo dục
không nằm ngoài tiến trình phát triển đó. Giáo dục đòi hỏi có sự thay đổi thích
ứng xu thế xã hội. Giáo dục chương trình phổ thông nước ta đang thực hiện
bước chuyển từ chương trình giáo dục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực
người học nghĩa là từ chỗ quan tâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan
tâm HS vận dụng được cái gì qua việc học. Môn GDCD đang có những thay đổi
quan trọng về cách dạy, cách học cũng như chương trình nội dung SGK để phù
hợp với xu thế chung của thời đại.
Quan điểm Giáo dục của chúng ta là hướng tới sự toàn diện, không chỉ
cung cấp kiến thức mà quan trọng hơn là góp phần hoàn thiện nhân cách con
người, những Con Người thực thụ để từ đó mỗi người có thể biết cách làm việc,
biết cách chung sống, biết cách khẳng định mình, rèn luyện những phảm chất
đạo đức, tuân theo quy định của pháp luật. Để con người có thể phát triển toàn
diện được một môn học không thể làm được mà đòi hỏi sự tổng hợp kiến thức
của nhiều môn học. Lâu nay học sinh tiếp cận, lĩnh hội, khám phá tri thức nhưng
kiến thức các em tiếp nhận được là kiến thức từng môn khoa học riêng lẻ. Việc
1.2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
Từ những lí do trên, tôi bắt tay vào nghiên cứu, điều tra, thử nghiệm, đánh
giá rút kinh nghiệm các giải pháp nhằm đưa ra cách tiếp cận hấp dẫn học sinh,
từ đó học sinh có hứng thú học môn GDCD và trau dồi tình cảm, giáo dục nhân
cách học sinh.
1.3. Đối tượng nghiên cứu
Tôi chỉ tập trung nghiên cứu vận dụng đưa tích hợp kiến thức liên môn
vào một bài dạy học cụ thể, từ đó đúc rút một số giái pháp áp dụng trong đơn vị.
SKKN này áp dụng cho HS lớp 6 trường THCS Quảng Chính.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành đề tài trên, tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu
sau:
- Phương pháp thực nghiệm: Soạn giáo án và giảng dạy trong thực tế để rút
kinh nghiệm
- Phương pháp quan sát.
- Phương pháp thu thập, xử lý thông tin qua phần tổng hợp kết quả bài làm học
sinh.
- Phương pháp thống kê , Phương pháp đàm thoại.
2. NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH
NGHIỆM 2.1. Cơ sở lí luận sáng kiến kinh nghiệm
Tích hợp (Tiếng Anh: Integration) có nguồn gốc từ tiếng Latinh, với nghĩa
xác lập cái chung, cái toàn thể, cái thống nhất trên cơ sở những bộ phận riêng lẻ.
Trong Tiếng Việt, tích hợp được ghép từ hai từ tích và hợp. Tích (danh từ)
là kết quả của phép nhân; động từ: dồn góp từng ít cho thành số lượng đáng kể
(Theo viện ngôn ngữ học, trang 981) còn Hợp (danh từ): tập hợp mọi phần tử
của các tập hợp khác; hợp(động từ): gộp chung; hợp (tính từ): không mâu thuẫn,
đúng với đòi hỏi. Vậy tích hợp là sự lắp ráp, kết nối các thành phần của một hệ
thống theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ.
Về phương diện lí luận dạy học, tích hợp có thể hiểu là sự kết hợp, hợp
nhất, sự hoà nhập các bộ phận, các phần tử khác nhau thành một thể thống nhất.
niệm cho rằng: Mỗi một môn học có một đặc thù riêng, một hệ thống kiến thức
riêng. Làm sao lồng ghép nội dung kiến thức của môn học này với nội dung kiến
thức môn học khác. Nhưng cũng có quan điểm: “Người giáo viên cần phải có sự
lồng ghép hài hoà, khéo léo để học sinh hiểu biết về các môn học”
Dạy học liên môn là hình thức tìm tòi những nội dung giao thoa giữa các
môn học với nhau, những khái niệm, tư tưởng chung giữa các môn học, tức là
con đường tích hợp những nội dung từ một số môn học có liên hệ với nhau. Tùy
theo khoa học cụ thể mà có thể tích hợp các môn khoa học khác lại với nhau
như: Lí- Hóa- Sinh, Văn - Sử - Địa. Hoặc có thể tích hợp được cả các môn tự
nhiên với các môn xã hội như: Văn, Toán, Địa, Hóa, Sinh, GDCD…Ở mức độ
cao, sự tích hợp này sẽ hình thành những môn học mới, chứ không phải là một
sự lắp ghép thông thường các môn riêng rẽ lại với nhau. Tuy nhiên, các môn vẫn
giữ vị trí độc lập với nhau, chỉ tích hợp những phần gần nhau. Ở mức độ thấp thì
việc tích hợp được thực hiện trong mối quan hệ liên môn. Những môn được học
riêng rẽ nhưng cần chú ý đến những nội dung có liên quan đến các bộ môn khác,
trong quá trình dạy học chỉ cần khai thác, vận dụng các kiến thức có liên quan
đến bài giảng mình đang thực hiện.
Dạy học theo quan điểm liên môn có ba mức độ: ở mức độ thấp, giáo viên
nhắc lại tài liệu, sự kiện, kĩ năng các môn có liên quan, cao hơn đòi hỏi học sinh
nhớ lại và vận dụng kiến thức đã học của các môn học khác, và cao nhất đòi hỏi
học sinh phải độc lập giải quyết bằng vốn kiến thức đã biết, huy động các môn
có liên quan theo phương pháp nghiên cứu.
Dạy học vận dụng kiến thức liên môn giúp cho giờ học sẽ trở nên sinh
động hơn, vì không chỉ có giáo viên mà học sinh cũng tham gia vào quá trình
tiếp nhận kiến thức, từ đó phát huy tính tích cực của học sinh.
Dạy học liên môn cũng góp phần phát triển tư duy liên hệ, liên tưởng ở
học sinh. Tạo cho học sinh một thói quen trong tư duy tức là khi xem xét một
vấn đề phải đặt chúng trong một hệ quy chiếu, từ đó mới có thể nhận thức vấn
đề một cách thấu đáo.
4
thiện hơn, chuẩn mực hơn, có kĩ năng và thái độ ứng xử đúng đắn .
Nhưng việc đưa nội dung tích hợp liên môn mặc dù được tập huấn ở tất cả
các cấp trong hệ thống giáo dục nhưng thực tế việc đưa nội dung tích hợp liên
môn chưa thực sự có hiệu quả bởi đội ngũ giáo viên phần lớn được đào tạo
chương trình sư phạm đơn môn. Chưa chuẩn bị cơ sở lí luận dạy học liên môn
chính thống nên khi giảng dạy không thể tránh khỏi lúng túng trong việc xác
định mục tiêu giáo dục tích hợp. Đa số giáo viên chỉ có thể tập trung cung cấp
kiến thức thuộc bộ môn của mình, ít chú trọng mở rộng đặc biệt lồng ghép tích
hợp liên môn trong đó có môn GDCD vào bài dạy của mình. Để bài dạy có tích
hợp liên môn đòi hỏi người giáo viên “vất vả hơn”, phải xem xét, rà soát nội
dung chương trình, SGK hiện hành để loại bỏ thông tin cũ đồng thời bổ sung,
cập nhật thông tin mới phù hợp nội dung phương pháp dạy học tích hợp liên
môn . Cấu trúc bài dạy giáo viên phải sắp xếp lại nội dung nên không tránh khỏi
giáo viên có cảm giác ngại thay đổi. Điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị
thông tin, truyền thông phục vụ dạy học trong nhà trường còn hạn chế nhất là
các trường nông thôn trong đó có trường THCS Quảng Chính. Với học sinh để
học một tiết liên môn đòi hỏi các em có sự đầu tư, tìm tòi, hệ thống kiến thức từ
5
tiểu học đến THCS nên học sinh hiện nay quen lối học cũ, đổi mới học sinh lạ
lẫm và chưa chịu cố gắng tiếp nhận do đó phần lớn học sinh hiện nay có thái độ
tiếp thu bình thường, chưa phát huy được tính tích cực trong học tập. Tâm lý các
em chỉ chú trọng các môn thi THPT như: Toán, Anh, Văn mà chưa chú trọng các
môn khác như: Sử, Địa, Công dân... nên dẫn đến thụ động, kĩ năng sống các em
còn kém, hiểu biết xã hội chưa tốt.
Thời lượng một tiết học hạn chế nên tích hợp kiến thức liên môn vào dạy
đòi hỏi sự nỗ lực cố gắng của cả giáo viên và học sinh nếu không dẫn đến tình
trạng học sinh không nhận biết đâu là trọng tâm bài học.
Trước thực trạng trên, qua nghiên cứu, khảo sát HS trường THCS Quảng
2.3.1.Về phía học sinh:
Để chuẩn bị cho một giờ học vận dụng kiến thức tích hợp liên môn đòi
hỏi bản thân từng học sinh phải có sự nỗ lực cố gắng ngoài sự chuẩn bị bài theo
đơn vị kiến thức lâu nay thì các em phải tự tìm tòi, suy nghĩ nội dung kiến thức
mới có thể vận dụng kiến thức liên môn nào?
2.3.2. Về phía giáo viên:
Để dạy tốt thì giáo án giờ dạy môn GDCD có vận dụng tích hợp kiến thức
liên môn đòi hỏi bản thân người giáo viên đầu tư, tìm tòi, trang bị cho mình
những kiến thức liên môn liên quan nhưng thật ra thì trong quá trình dạy học
môn học của mình GV đã vận dụng những kiến thức có liên quan đến các môn
học khác nên ít nhiều đã có sự am hiểu kiến thức liên môn đó hay nói cách khác
chúng ta đã dạy tích hợp liên môn từ lâu rồi nhưng chúng ta chưa đi sâu và chưa
có khái niệm tên gọi cụ thể mà thôi. Thứ đến với việc đổi mới phương pháp dạy
học hiện nay vai trò người GV không còn là người truyền thụ kiến thức mà là
người tổ chức, kiểm tra, định hướng hoạt động của HS nên GV các bộ môn có
điều kiện chủ động trong sự phối hợp, hỗ trợ nhau trong quá trình hoạt động dạy
6
học. Đặc biệt GV cần định hướng để cho chính các em có thể tự tìm hiểu các
kiến thức liên quan môn học.
2.3.3.Giáo án:
Kế hoạch dạy học bài học vận dụng kiến thức liên môn không phải là giáo
án mẫu để giáo viên lên lớp giảng giải, truyền thụ áp đặt cho học sinh, mà là một
bản kế hoạch các hoạt động, thao tác nhằm tổ chức cho HS thực hiện trong giờ
lên lớp để lĩnh hội tri thức, phát triển năng lực và nhân cách
Giáo án vận dụng kiến thức liên môn phải bảo đảm nội dung và cấu trúc
đặc thù nhưng không gò ép vào một khuôn mẫu cứng nhắc mà cần tạo ra những
chân trời mở cho sự tìm tòi sáng tạo trong các phương án tiếp nhận của học sinh
2.3.4.1. Tích hợp thông qua việc kiểm tra bài cũ: kiểm tra bài cũ là bước thứ hai
trong tiến trình lên lớp. Mục đích của hoạt động này là kiểm tra kiến thức đã học
cũng như mức độ hiểu bài và đây là hoạt động kết nối bài đã học với bài đang
chuẩn bị học nên vận dụng tích hợp kiến thức liên môn rất thuận tiện.
2.3.4.2. Tích hợp thông qua việc giới thiệu bài mới : Thời lượng dành cho giới
thiệu bài rất ít tuy nhiên hoạt động này có ý nghĩa vô cùng quan trọng vì tạo
hứng thú cho HS trước khi bước vào bài học. Vì vậy GV có thể vận dụng tích
hợp kiến thức liên môn (vận dụng trong giáo án minh hoạ ).
2.3.4.3.Tích hợp thông qua câu hỏi tìm hiểu nội dung bài học: Đây là cách GV
sử dụng nhiều vận dụng tích hợp kiến thức liên môn (vận dụng trong giáo án
minh hoạ).
2.3.4.4. Tích hợp thông qua phương tiện dạy học cụ thể bảng phụ, sử dụng
CNTT
2.3.4.5. Tích hợp thông qua hệ thống bài tập(trong phần bài tập vận dụng hoặc
phần luyện tập hay bài tập về nhà)....
.
Như vậy, vận dụng kiến thức liên môn cần được hiểu toàn diện và phải
được quán triệt trong toàn bộ môn học; quán triệt trong mọi khâu của quá trình
dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong
chương trình, tích hợp trong sách giáo khoa, tích hợp trong phương pháp dạy
học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh; tích hợp
trong các sách đọc thêm, tham khảo... Quan điểm “lấy học sinh làm trung tâm”
đòi hỏi thực hiện việc tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh trong mọi
mặt, trên lớp và ngoài giờ; tìm mọi cách phát huy năng lực tự học của học sinh,
phát huy tinh thần dân chủ, bồi dưỡng lòng tin cho học sinh thì các em mới tự
tin và học tốt được.
8
người an toàn khi tham gia giao thông .
- Có ý thức học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, sống có kỷ
luật
II. CÁC NĂNG LỰC HƯỚNG TỚI PHÁT TRIỂN HỌC SINH:
Năng lực tự học, năng lực hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực giao
tiếp.
* Lồng ghép, tích hợp các môn học:
- Địa Lí, Tiếng Anh, Mĩ Thuật, Âm nhạc, Giáo dục Quốc phòng, phòng chống
ma túy.
III. CÁC PHƯƠNG PHÁP/ KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC:
Giải quyết vấn đề, động não, xử lí tình huống, liên hệ và tự liên hệ, thảo luận
nhóm....
IV. PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:
* Giáo viên
- SGK+SGV GDCD 6
- Máy chiếu
- Giấy Ao, bút dạ
- Một số điều trong Luật Quốc tịch năm 2008, Luật giao thông đường bộ năm
2008
9
- Chuẩn kiến thức kỹ năng GDCD 6
* Học sinh: Soạn bài, chuẩn bị tài liệu, đồ dùng cần thiết (Tranh vẽ chủ đề an
toàn giao thông)
V. CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC
1. Kiểm tra bài cũ:
Tình huống: Hân là một em bé lai bị mẹ bỏ rơi từ lúc mới sinh, do người qua
đường nhặt được đưa vào trại trẻ mồ côi. Hân băn khoăn không biết em có phải
là công dân Việt Nam không ? Vì sao ? (HS trả lời căn cứ một số điều luật quốc
thông ở trong nước và ở địa phương?
- Ở trong nước và tại địa phương số vụ tai
nạn giao thông có người chết và bị
thương ngày càng tăng.
Cho HS quan sát một số hình ảnh sau
đây và rút ra nguyên nhân dẫn dến tai
nạn giao thông là gì?
- Nguyên nhân:
+ Do ý thức của một số người
tham gia giao thông chưa tốt.
+ Phương tiện tham gia giao thông
không đảm bảo an toàn.
+Người tham gia giao thông đông.
+ Sự quản lí của nhà nước về giao
thông còn hạn chế.
( Dựa theo chuẩn kiến thức
Người tham gia giao thông chở quá khổ, quá tải,
kỹ năng môn GDCD)
mang đồ cồng kềnh đi trên đường
Những cung đường
nguy hiểm
Xe hết niên hạn sử
dụng vẫn lưu hành
2. Một số quy định về đi đường:
Hoạt động 2: Thảo luận giúp Hs hiểu một ( Dựa theo chuẩn kiến thức kỹ
NGƯỜI ĐI XE ĐẠP KHÔNG NÊN LÀM GÌ KHI THAM GIA
GIAO THÔNG
- Người đi xe đạp:
+ Cấm lạng lách, đánh võng,
12
HS: Làm một số bài tập ở sách BT tình
huống.
Quan sát các hình ảnh trên đây và từ
đó nêu quy định đối với người đi xe đạp
? Cho biết quy định đối với trẻ em
khi tham gia giao thông
?Hãy nêu những hiệu lệnh và ý nghĩa
của từng loại hiệu lệnh khi người
cảnh sát giao thông đưa ra?.( GV có
thể giới thiệu cho HS).
Bước 1: Giao nhiệm vụ
Cho HS quan sát trên máy chiếu để tìm
hiểu các tín hiệu đèn và các loại biển
báo giao thông cơ bản.
buông cả hai tay hoặc đi xe bằng
1 bánh.
+ Không được dàn hàng ngang
quá 2 xe.
+ Không được sử dụng xe để
nó?. HS thực hiện theo yêu cầu
- Thời gian : 5 phút
Cấm đi
Đi chậm
lại
Được đi
13
Bước 3: Thảo luận trao đổi, báo cáo
- HS: Thảo luận, báo cáo
- Đại diện nhóm trình bày HS nhận xét.
- GV kết luận.
Bước 4: Phương án kiểm tra , đánh giá
GV kiểm tra HS trong việc nắm bài học.
Câu hỏi kiểm tra:
? Em hãy nêu các loại biển báo
giao thông và ý nghĩa của nó
b. Hệ thống biển báo:
+ Biển báo cấm: Hình tròn, viền
đỏ - hình vẽ màu đen thể hiện
điều cấm.
GV chốt kiến thức trên máy chiếu
GV cho HS lên bảng trình bày sản phẩm
biển báo của mình ( Tích hợp với môn
4. ý nghĩa của việc thực hiện trật
tự an toàn giao thông:
- Bảo đảm an toàn giao thông cho
mình và cho mọi người, tránh tai
nạn đáng tiếc xảy ra, gây hậu quả
đau lòng cho bản thân và cho mọi
? Việc thực hiện trật tự an toàn giao thông người.
có ý nghĩa như thế nào?
- Bảo đảm cho giao thông được
( Dựa theo chuẩn kiến thức kỹ năng môn thông suốt, tránh ùn tắc, gây khó
GDCD)
khăn trong giao thông, ảnh hưởng
đến mọi hoạt động của xã hội
4. Hoạt động luyện tập.
GV Cho HS làm bài tập
Khoanh tròn vào chữ cái trước câu mà em chọn
Câu 1. Trẻ em trong độ tuổi nào được đi xe đạp của người lớn?
A. Đủ 9 tuổi C. Đủ 11 tuổi
B. Đủ 10 tuổi D. Đủ 12 tuổi
Câu 2. Trẻ em trong độ tuổi nào được lái xe gắn máy?
A. Đủ 13 tuổi C. Đủ 15 tuổi
B. Đủ 14 tuổi D. Đủ 16 tuổi
Đáp án:
Câu 1. D
Câu 2. D
15
GV Cho HS đóng vai:
Gồm 2 học sinh,một HS đóng vai một người nước ngoài chưa hiểu luật đi
20.6
8 27.5
15
48.4 1
3.5
HK II
Với kết quả khảo sát trên, so sánh với kết quả trước khi áp dụng, tôi nhận
thấy rằng những giải pháp đưa ra đã có hiệu quả, góp phần nâng cao giờ dạy.
3. Kết luận, kiến nghị
3.1. Kết luận
Qua thời gian nghiên cứu và áp dụng vào trong thực tế giảng dạy trong
tiết 23, 24 GDCD 6, bản thân tôi nhận thấy: HS chịu khó dành nhiều thời gian
tìm tòi, nghiên cứu chuẩn bị bài , phần nào khắc phục tình trạng chán học, lười
học và ngại học môn GDCD. HS phát hiện kiến thức liên môn có thể vận dụng
trong những bài học. GV đầu tư nhiều hơn trong bài dạy của mình ngoài kiến
thức phân môn thì người giáo viên tìm hiểu, đọc thêm tư liệu, tham khảo đồng
nghiệp để cùng hợp tác với học sinh chiếm lĩnh tri thức nhân loại . Làm tốt công
tác chuẩn bị nội dung bài dạy tích hợp liên môn GV chủ động các khâu tổ chức,
điều hành HS tự khai thác và chiếm lĩnh tri thức cũng như không bị động trước
vấn đề HS thắc mắc liên quan kiến thức tích hợp
17
Bằng những kinh nghiệm của bản thân trong quá trình giảng dạy, tôi đã
thu được kết quả khả quan đối với những lớp mình trực tiếp giảng dạy. Hi vọng
những kinh nghiệm này sẽ góp phần nào đó cho các bạn đồng nghiệp trong việc
khơi gợi hứng thú, say mê học tập HS, các em chủ động khám phá tri thức đặc
biệt môn GDCD.
Tuy nhiên theo bản thân tôi nhận thấy không phải tiết dạy GDCD nào có
thể vận dụng được kiến thức liên môn. Để phát huy tính tích cực và chủ động
18
Trên đây là một vài kinh nghiệm giảng dạy “Vận dụng tích hợp kiến thức
liên môn trong dạy bài 14 - Thực hiện trật tự an toàn giao thông - GDCD 6 ”.
Với khả năng có hạn, không tránh khỏi những sai sót, rất mong sự đóng góp ý
kiến của Hội đồng khoa học trường, ngành cũng như tất cả các quý thầy cô.
Tôi xin chân thành cảm ơn !
XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƯỞNG ĐƠN VỊ
Quảng Chính, ngày: 25/3/2019.
Tôi xin cam đoan đây là SKKN
của mình viết, không sao chép
nội dung của người khác.
Người thực hiện.
Lê Văn Tài
19
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Sách giáo khoa, Sách giáo viên Giáo dục công dân 6.
2.Tài liệu về vận dụng kiến thức liên môn vào giảng dạy.
3.Thiết kế bài giảng Giáo dục công dân 6
4.Luật an toàn giao thông đường bộ 2008.
5.Tài liệu từ internet.
6. Chuẩn kiến thức kỹ năng môn GDCD.
(A, B, hoặc C)
1.
"Phát huy việc sử dụng câu chuyện Cấp huyện
tình huống pháp luật trong giờ học
GDCD để cho HS phát hiện kiến
thức và củng cố kiến thức phần
pháp luật trong môn giáo dục công
dân lớp 8 cấp THCS."
C
2013-2014
2.
"Một số kinh nghiệm khi giảng
dạy tác phẩm thơ Đường trong
Cấp huyện
B
2015-2016
Cấp Tỉnh
C