quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí từ thực tiễn tỉnh quảng nam - Pdf 65

VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM VĂN TRỌNG Ý

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI, năm 2020


VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

PHẠM VĂN TRỌNG Ý

QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH QUẢNG NAM

Chuyên ngành : Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số : 8 38 01 02

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. ĐỖ MINH KHÔI

HÀ NỘI, năm 2020


LỜI CAM ĐOAN

2.2. Thực trạng hoạt động báo chí được cấp phép trên địa bàn tỉnh Quảng
Nam................................................................................................................. 32
2.3. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua........................................................ 36
2.4. Đánh giá chung về thực trạng quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam.......................................................................... 52
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU
QUẢ QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI HOẠT ĐỘNG BÁO CHÍ TRÊN
ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG NAM...................................................................59
3.1. Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí
trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đến năm 2025...................................................59


3.2. Các giải pháp chủ yếu quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí trên
địa bàn tỉnh Quảng Nam đến năm 2025..........................................................62
3.3. Một số kiến nghị đề xuất nhằm nâng cao hoạt động quản lý nhà nước đối
với hoạt động báo chí trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đến năm 2025...............74
KẾT LUẬN.................................................................................................... 79
TÀI LIỆU THAM KHẢO


DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

STT

Từ viết tắt

Nghĩa đầy đủ

1

Trung ương đóng tại Quảng Nam [38, tr.7]. Các CQBC bản tin trên địa bàn
tỉnh đã bám sát nội dung định hướng tuyên truyền, bám sát các sự kiện, những
vấn đề phát sinh trong đời sống hằng ngày để thông tin kịp thời và toàn diện
mọi diễn biến trong tỉnh, trong nước, quốc tế, và định hướng chỉ đạo của Tỉnh
ủy, UBND tỉnh về tuyên truyền các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội của
tỉnh đáp ứng nhu cầu được thông tin của người dân. Kịp thời biểu dương
những điển hình, nhân tố mới trên các lĩnh vực của đời sống xã hội; phán ánh
trung thực và khách quan các vấn đề được dư luận nhân dân quan tâm phục vụ
cho công tác chỉ đạo, điều hành của cấp ủy, chính quyền các cấp. Báo chí cơ
bản đảm bảo nội dung thông tin chính xác, góp phần định hướng dư luận xã
hội; đề xuất với các ngành, các cấp những giải pháp cụ thể, tích cực nhằm
giúp cho công tác chỉ đạo, điều hành và triển khai các nhiệm vụ phát triển
kinh tế - xã hội đạt hiệu quả.
Tuy nhiên, bên cạnh những đóng góp tích cực, hiệu quả, HĐBC của
tỉnh Quảng Nam vẫn còn những hạn chế, tồn tại nhất định: Nội dung, hình
1


thức báo chí chưa thật hấp dẫn, hiệu quả tuyên truyền chưa cao, chưa thật sự
chi phối làm chủ thông tin và dư luận xã hội; tuyên truyền các điển hình tiên
tiến, gương người tốt, việc tốt, cổ vũ phong trào thi đua yêu nước chưa thường
xuyên, chưa sâu rộng; chưa có nhiều tác phẩm có giá trị, sức lan tỏa cao và
đạt giải thưởng báo chí quốc gia. Đáng lo ngại nhất là một số cơ quan đại
diện, phóng viên thường trú thông tin một số vụ việc trên báo chí chưa thật
khách quan, trung thực, chuẩn xác, gây dư luận không tốt trong xã hội, ảnh
hưởng không nhỏ đến công tác chỉ đạo, điều hành của tỉnh, nhất là đối với
một tỉnh có đông đồng bào dân tộc thiểu số khu vực Miền Trung… Những tồn
tại trên một phần là do hệ thống văn bản pháp luật trong lĩnh vực HĐBC còn
thiếu, chưa đồng bộ, chưa được bổ sung, sửa đổi kịp thời phù hợp với thực
tiễn HĐBC. Ngoài ra, nguyên tắc “phát triển báo chí đi đôi với quản lý tốt”

Nxb Chính trị quốc gia; TS. Hoàng Quốc Bảo (2010), Lãnh đạo và quản lý
HĐBC Việt Nam hiện nay, Nxb Chính trị - Hành chính; TS. Nguyễn Thế Kỷ
(2012), Công tác lãnh đạo quản lý báo chí trong 25 năm tiến hành sự nghiệp đổi
mới, Nxb Chính trị quốc gia; Ths. Phí Thị Thanh Tâm (2009), “QLNN về báo
chí trong thời kỳ hội nhập”, Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp.

Một số bài viết trên các báo tạp chí như: TS Hà Huy Phượng (2017),
Báo chí – Công cụ hoạt động hiệu quả trong công tác tư tưởng 2017; Ths.
Doãn Thị Thuận (2016), Kinh nghiệm quản lý báo chí điện tử ở một số quốc
gia trên thế giới; Ths. Nguyễn Thị Mai Anh (2016), QLNN về báo chí trong
thời kì đổi mới…
Tóm lại tất cả các công trình liên quan đến lĩnh vực QLNN đối với
HĐBC mà tác giả liệt kê ở trên là các công trình xây dựng và làm sáng tỏ
những vấn đề cơ bản về HĐBC và QLNN đối với HĐBC, vai trò và đóng góp
của báo chí trong đời sống xã hội. Phân tích những bất cập của pháp luật nước
3


ta trong những quy định về quản lý HĐBC. Về thực tiễn QLNN đối với báo
chí tại tỉnh Quảng Nam trong thời gian qua chưa có một bài viết cũng như đề
tài nghiên cứu nào. Qua các tài liệu trên thì đây là các công trình rất giá trị đối
với những người nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ khoa học pháp lý,
chuyên ngành Quản lý công và ở mức độ nhận xét chung về thực trạng HĐBC
trong phạm vi toàn quốc. Trên thực tế, nguồn tài liệu tham khảo, các sách
khảo cứu chuyên đề về quản lý báo chí khá nhiều, nhưng tài liệu mới còn quá
ít, nhất là chưa có công trình khoa học nào đi sâu nghiên cứu QLNN đối với
HĐBC ở tỉnh Quảng Nam, vì thế đã có khó khăn, trở ngại trong việc nghiên
cứu của tác giả. Đề tài tác giả lựa chọn để nghiên cứu làm luận văn tốt nghiệp
cao học chuyên ngành Quản lý công của mình không trùng lặp với các đề tài
đã nghiên cứu trước đây, tuy nhiên trong quá trình thực hiện đã giúp tác giả

hoạch, kế hoạch phát triển sự nghiệp báo chí; Tổ chức thông tin cho báo chí và
quản lý thông tin của báo chí; Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động báo chí, thẻ nhà
báo; Tổ chức, quản lý hoạt động khoa học, công nghệ trong lĩnh vực báo chí;
Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, đạo đức nghề nghiệp
cho đội ngũ cán bộ báo chí; Quản lý hợp tác quốc tế về báo chí và Tổ chức khen
thưởng; thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động báo chí.

Về không gian: Luận văn nghiên cứu QLNN đối với HĐBC trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam, thuộc thẩm quyền quản lý của UBND tỉnh Quảng Nam.
Về thời gian: từ năm 2014 đến năm 2019
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng
và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh và các quan
điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước Việt Nam về báo
chí cách mạng và QLNN đối với HĐBC trong thời kỳ đổi mới.

5.2. Phương pháp nghiên cứu
5


Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phân tích, tổng
hợp, thống kê, lôgíc, so sánh đối chiếu, khoa học dự báo để hình thành các
khái niệm khoa học, đánh giá pháp luật, thực hiện pháp luật về QLNN trong
lĩnh vực báo chí.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn tổng quan góp phần làm rõ hơn cơ sở lý luận và thực tiễn
QLNN đối với HĐBC; được vận dụng trong QLNN đối với báo chí trên địa
bàn tỉnh Quảng Nam.

tác động to lớn đối với xã hội loài người được thể hiện trên nhiều phương diện
kinh tế, chính trị, văn hóa, lối sống… [27, tr.32]
Luật Báo chí năm 2017 có 6 chương, 61 điều, trong đó có 32 điều mới,
29 điều sửa đổi. Luật Báo chí năm 2017 đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã
hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 5.4.2016 và Chủ tịch nước công bố
Luật ngày 29.4.2016. Luật có hiệu lực thi hành từ ngày 1.1.2017. Kết cấu các
chương của Luật Báo chí lần này đã bỏ chương QLNN về báo chí, thay đổi
kết cấu chương III (Nhiệm vụ quyền hạn của báo chí), chương IV (Tổ chức
báo chí và nhà báo) của Luật Báo chí 1999 thành chương III (Tổ chức báo
chí) và chương IV (HĐBC) trong Luật Báo chí mới. Ở Điều 4, Luật Báo chí
2017 định nghĩa báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là
phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận
của cơ quan Đảng cơ quan nhà nước tổ chức chính trị - xã hội tổ chức chính
trị xã hội - nghề nghiệp tổ chức xã hội tổ chức xã hội - nghề nghiệp; là diễn
đàn của Nhân dân” [34]

7


HĐBC: Nguyên tắc là cơ sở lý luận – phương pháp luận của HĐBC.
Tính chất lý luận của nó thể hiện ở chỗ, HĐBC đòi hỏi phải nắm vững những
quy luật của bản thân nền báo chí với tư cách là một hoạt động chính trị - xã
hội, quy trình của quá trình tiếp nhận, truyền tải và phổ biến thông tin, quy
luật của lĩnh vực sáng tạo tinh thần. Tính chất phương pháp luận của nguyên
tắc báo chí thể hiện ở chỗ, nhà báo chẳng những hiểu biết, nắm vững các quy
luật nói trên mà còn phải tích cực vận dụng chúng,biến chúng thành những
quy tắc và chuẩn mực nghề nghiệp, nền tảng của những phương pháp sáng tạo
ra các tác phẩm báo chí.
Tại Điều 3, Luật Báo chí 2017 định nghĩa: HĐBC là hoạt động sáng tạo
tác phẩm báo chí sản phẩm báo chí sản phẩm thông tin có tính chất báo chí;

chí điện tử. Báo điện tử còn gọi là internet truyền tải thông tin bằng bài viết,
âm thanh, hình ảnh, clip... Ngày nay, báo điện tử chiếm ưu thế với khả năng
cập nhật thông tin nhanh, phong phú cùng một lúc có thể cập nhật tin tức của
nhiều tờ báo khác nhau gần như mức độ nhanh và chính xác ngày càng cao.
QLNN đối với HĐBC
Trên thực tế, chưa có một khái niệm nào chuẩn xác liên quan đến
QLNN đối với báo chí. Chính vì lẽ đó, để dễ hình dung được nội hàm của
cụm từ này, chúng ta đi từ khái niệm quản lý. Nói đến QLNN đối với báo chí
là nói đến những hoạt động của bộ máy Nhà nước nhằm đảm bảo cho HĐBC
được ổn định và phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội. Đặc biệt
trong giai đoạn hiện nay, Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc
đấu tranh chống các thế lực thù địch lợi dụng chính sách tự do ngôn luận, tự
do báo chí để đưa ra các luận điệu sai trái, thực hiện chiến lược “diễn biến hòa
bình gây mất an ninh chính trị và trật tự trong nước” [26, tr.16].

9


Qua việc khái quát trên chúng ta có thể hiểu QLNN đối với báo chí là
tổng thể những hoạt động của bộ máy Nhà nước trên cơ sở những quy định
của pháp luật đảm bảo cho báo chí thực hiện được nhiệm vụ thông tin của
mình và chịu sự điều chỉnh thống nhất của pháp luật.
Nó là sự tác động có tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật trên cơ
sở quyền lực Nhà nước đối với các quá trình xã hội và HĐBC do các cơ quan
có thẩm quyền trong hệ thống hành pháp từ Trung ương đến cơ sở tiến hành
để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước phát triển các mối quan hệ
xã hội thỏa mãn nhu cầu tự do báo chí của công dân.
1.1.1.2. Đặc điểm quản lý nhà nước về báo chí ở Việt Nam
Với một thể chế chính trị rất đặc thù là chỉ có một đảng duy nhất cầm
quyền là Đảng Cộng sản Việt Nam. Và theo quy định Hiến pháp năm 2013 thì

chuẩn về đảm bảo an ninh mạng. Bên cạnh sự thiếu thốn về trang thiết bị như
hệ thống mạng, các thiết bị, phương tiện hiện đại, những hạn chế của đội ngũ
cán bộ quản lý về khả năng sử dụng ngoại ngữ, công nghệ cũng đang là một
rào cản, hạn chế hiệu quả quản lý đối với lĩnh vực này.
1.1.2. Mục tiêu, nguyên tắc và chủ thể quản lý nhà nước đối với hoạt
động báo chí
1.1.2.1. Mục tiêu quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí
Hoạt động QLNN đối với báo chí có mục tiêu cơ bản:
Thứ nhất, một trong những mục tiêu của quản lý HĐBC là sắp xếp hệ
thống báo chí, khắc phục tình trạng chồng chéo, đầu tư dàn trải, buông lỏng
quản lý, hoạt động xa dời tôn chỉ mục đích... Rõ ràng mục tiêu này đã phần
nào phản ánh một số hạn chế của báo chí hiện nay.
Thứ hai, hoàn thiện hệ thống văn bản quản lý về báo chí. Trong xu thế
phát triển của báo chí, của khoa học công nghệ như hiện nay, đôi khi có
những văn bản vừa mới ban hành ra đã xuất hiện sự không phù hợp với hiện
11


tại. Chẳng hạn như Luật báo chí vừa mới ban hành 2016 bắt đầu đã có biểu
hiện lạc hậu. Có những cái chúng ta chưa quy định rõ ràng, chẳng hạn như:
tạp chí điện tử là như thế nào, báo điện tử là như thế nào, những quy định
trong nội dung liên kết sản xuất chương trình là như thế nào... chúng ta có quy
định đó nhưng chưa rõ ràng. Cho nên có hiện tượng lách luật, dẫn đến khó
khăn trong công tác quản lý và mục tiêu của QLNN đối với HĐBC là xây
dựng một hệ thống văn bản quản lý ổn định, toàn diện nhằm định hướng cho
HĐBC phát triển.
Thứ ba, quản lý, chắt lọc các thông tin xuất hiện trên các loại hình chí.
Do sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, người làm báo hiện nay
có nhiều lợi thế, nhất là trong khai thác thông tin, chỉ vài phút vào Internet là
có thể biết cả thế giới có việc gì đang diễn ra; do sự phát triển của các loại

định của Hiến pháp về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin
đã được cụ thể hóa. Điều 25, Hiến pháp năm 2013 nêu rõ: Công dân có quyền tự
do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc
thực hiện các quyền này do pháp luật quy định [31]. Các quyền tự do ngôn luận,
báo chí đã được khẳng định ngay trong Điều 10, Hiến pháp đầu tiên (năm 1946)
của Nhà nước Việt Nam, sau đó được tiếp tục ghi nhận trong các bản Hiến pháp
sau này. Các quyền hiến định đó được thể chế hóa trong nhiều văn bản quy phạm
pháp luật Việt Nam.

Như vậy, quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận trên báo chí có nội dung
rõ ràng, cụ thể và được công bố một cách hệ thống.
Thứ hai, nguyên tắc đảm bảo quyền thụ hưởng thành quả HĐBC một
cách bình đẳng của tất cả công dân
Bằng hoạt động của mình, báo chí đã góp phần đáng kể vào việc ổn
định chính trị, phát triển kinh tế và định hướng dư luận xã hội một cách tích
cực. Nhiều nước trên thế giới đã khai thác triệt để hiệu quả HĐBC nhằm phục
13


vụ cho mục tiêu xây dựng xã hội thịnh vượng, công bằng, dân chủ và văn
minh thông qua sự điều tiết của pháp luật. Để cụ thể hóa nguyên tắc này, Điều
17, Luật Báo chí sửa đổi, bổ sung năm 1999 đã quy định: “Nhà nước có chính
sách hỗ trợ ngân sách, tạo điều kiện cho xuất bản, phát hành báo chí đến với
nhân dân các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội khó khăn và vùng có điều
kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, đến với cộng đồng người Việt Nam ở
nước ngoài” [33].
Thứ ba, kiên quyết đấu tranh chống lợi dụng việc tôn trọng tự do báo
chí tự do ngôn luận làm trái pháp luật
Từ khi ra đời cho đến ngày nay, báo chí luôn có những ảnh hưởng nhất
định đến tình hình an ninh chính trị của một quốc gia và cả quốc tế bởi tính

Ở địa phương, trách nhiệm QLNN đối với báo chí thuộc về UBND các
cấp tỉnh theo sự phân cấp của Chính phủ. Đây là các cơ quan Nhà nước có sự
can thiệp một cách trực tiếp, sâu sắc nhất đối với việc QLNN đối với báo chí
thông qua các Sở Thông tin - Truyền thông và các bộ phận trực thuộc.
Đối với báo chí, Sở Thông tin - Truyền thông có nhiệm vụ và quyền
hạn: Hướng dẫn và tổ chức thực hiện các quy định của pháp luật về HĐBC
trên địa bàn;Tổ chức kiểm tra báo chí lưu chiểu và quản lý báo chí lưu chiểu
của địa phương; Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động bản tin cho các cơ quan, tổ
chức trên địa bàn tỉnh; Trả lời về đề nghị tổ chức họp báo đối với các cơ quan,
tổ chức của địa phương; Tiếp nhận, thẩm định hồ sơ và đề nghị các cấp có
thẩm quyền cấp thẻ nhà báo, cấp phép HĐBC, giấy phép xuất bản các ấn
phẩm báo chí, ấn phẩm thông tin khác theo quy định của pháp luật cho các
CQBC và các cơ quan, tổ chức khác của địa phương; Xem xét cho phép các
CQBC của địa phương khác đặt văn phòng đại diện, văn phòng liên lạc, cơ
quan thường trú trên địa bàn của địa phương mình; Tổ chức triển khai thực
hiện kế hoạch phát triển sự nghiệp phát thanh, truyền hình của địa phương sau
15


khi được phê duyệt; Quản lý việc sử dụng thiết bị thu tín hiệu phát thanh
truyền hình trực tiếp từ vệ tinh cho các đơn vị, tổ chức, cá nhân trên địa bàn
địa phương theo quy định của pháp luật.
1.2. Nội dung quản lý nhà nước đối với hoạt động báo chí của
UBND cấp tỉnh
1.2.1. Ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp
luật về báo chí; xây dựng chế độ, chính sách về báo chí
Xây dựng và ban hành văn bản QLNN về báo chí của UBND cấp tỉnh
là kết quả của quá trình nhận thức về sự vận động, phát triển của báo chí. Từ
nguyên tắc Đảng lãnh đạo, quá trình xây dựng và ban hành các văn bản quản
lý về báo chí đã hiện thực hóa các chủ trương, đường lối về báo chí của Đảng,

1.2.3. Tổ chức thông tin cho báo chí và quản lý thông tin của báo chí
Việc thông tin vừa được tổ chức định kỳ thường xuyên (chủ trì giao ban
báo chí hằng tuần), vừa đột xuất khi có sự kiện cần thiết; thực hiện chế độ
người phát ngôn theo quy định để cung cấp thông tin. Đây là một trong những
nội dung quản lý quan trọng bởi quản lý báo chí thực chất, mục tiêu chính là
quản lý thông tin trên báo chí. Để nguồn thông tin đưa đến cho công chúng là
chuẩn mực và đúng “luồng”, cần có sự định hướng vĩ mô của Nhà nước.
Muốn vậy, việc tổ chức thông tin cho báo chí, quản lý thông tin của báo chí
phải được thực hiện một cách nghiêm túc, tuân theo các qui định của Luật
Báo chí năm 2016 [34]. Trong thời gian tới, để công tác này đạt hiệu quả, các
cơ quan quản lý vĩ mô báo chí cần bám sát thực tiễn HĐBC và nhất quán thực
hiện việc tổ chức thông tin, quản lý thông tin từ Trung ương tới địa phương.
1.2.4. Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động báo chí, thẻ nhà báo
Trên cơ sở các quy định đã ban hành về điều kiện được cấp giấy phép
hoạt động như bảo đảm các yêu cầu về nhân sự tổng biên tập, phó tổng biên
tập, trụ sở, nguồn kinh phí hoạt động, sự đồng ý của cơ quan chủ quản…, điều
17


kiện được cấp mới, cấp lại thẻ nhà báo, Bộ Thông tin và Truyền thông thực
hiện việc cấp hoặc thu hồi giấy phép họat động báo chí, thẻ nhà báo.
Sở Thông tin và Truyền thông các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương cấp giấy phép HĐBC cho các CQBC ở địa phương. Hồ sơ xin cấp giấy
phép HĐBC do Bộ Thông tin và Truyền thông quy định.
Việc cấp giấy phép HĐBC phải căn cứ vào các điều kiện quy định tại
điều 18 của Luật Báo chí 2016.
CQBC phải có giấy phép do cơ quan QLNN về báo chí cấp mới được
hoạt động. Trong trường hợp không có giấy phép thì chậm nhất là 30 ngày kể
từ ngày nhận được hồ sơ xin phép HĐBC, cơ quan QLNN về báo chí phải trả
lời bằng văn bản, nói rõ lý do. Tổ chức bị từ chối cấp giấy phép có quyền

định hướng chung nhằm mục đích cao nhất là đem thông tin, đem báo chí đến
với công chúng.
1.2.6. Đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chính trị, nghiệp vụ, đạo
đức nghề nghiệp cho đội ngũ cán bộ báo chí
Với mọi nghề nghiệp trong xã hội, con người luôn là nhân tố quan trọng
nhất. Báo chí là một nghề đặc tù. Người làm báo phải có những phẩm chất tương
đối cao về nhận thức chính trị, năng lực chuyên môn, đạo đức nghề nghiệp.
Nhiệm vụ đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho đội ngũ cán bộ báo chí được
giao cho Ban Tuyên giáo Trung ương, Bộ Thông tin và Truyền thông, Bộ Giáo
dục và Đào tạo, Học viện Chính trị - Hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh, Học
viện Báo chí và Tuyên truyền, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn Hà
Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Các Ban, Bộ và các cơ sở đào tạo này có nhiệm
vụ nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng cán bộ lãnh đạo, quản lý báo chí; đào
tạo phóng viên, biên tập viên cho các CQBC. Việc bổ nhiệm, miễn nhiệm lãnh
đạo CQBC, việc tuyển dụng cán bộ, phóng viên, nhân

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status