A. MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Môn Tập làm văn là một môn học chính trong chương trình lớp 4, bản
thân tôi đang là giáo viên trực tiếp đứng lớp giảng dạy, đón nhận chương trình
thay đổi tích hợp kỹ năng sống vào môn Tập làm văn, môn Đạo đức, Khoa học,
… nên bản thân cần phải nổ lực phấn đấu đảm nhiệm chức trách của mình đối
với học sinh .
Tiếng Việt hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng: nghe, nói,
đọc, viết để học tập và giao tiếp trong các môi trường hoạt động của lứa tuổi,
thông qua việc dạy và học Tiếng Việt góp phần rèn luyện các thao tác của tư
duy. Cung cấp cho học sinh những hiểu biết sơ giản về xã hội, tự nhiên, con
người, về văn hóa, văn học Việt Nam và nước ngoài.
Học Tiếng Việt, học sinh được trang bị những kiến thức cơ bản và tối
thiểu cần thiết giúp các em hòa nhập với cộng đồng và phát triển cùng với sự
phát triển của xã hội. Cùng với môn Toán và một số môn khác, những kiến thức
của môn Tiếng Việt sẽ là những hành trang trên bước đường đưa các em đi khám
phá, tìm hiểu, nghiên cứu thế giới xung quanh và kho tàng tri thức vô tận của
loài người. Trong đó phân môn Tập làm văn là phân môn thực hành, tổng hợp
của tất cả các phân môn thuộc môn Tiếng Việt (Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính
tả, Kể chuyện). Chính vì thế, việc dạy và học Tập làm văn là vấn đề luôn cần có
sự đổi mới. Không thể cứ áp dụng mãi phương pháp học hôm qua vào hôm nay
và mai sau.
Đổi mới việc dạy cũng thế, trong việc thừa kế cái cũ, cái vốn có đòi hỏi
phải là một sự sáng tạo. Với các phân môn khác của Tiếng Việt trong việc đổi
mới nội dung và phương pháp dạy học chỉ rõ quy trình các bước lên lớp rất cụ
thể rõ ràng. Còn với phân môn Tập làm văn, các nhà nghiên cứu chỉ đưa ra quy
trình chung nhất cho mỗi loại bài, chủ yếu vẫn là sự sáng tạo của giáo viên khi
lên lớp. Còn việc học thì sao? Ngoài Sách giáo khoa Tiếng Việt thì hiện nay có
rất nhiều loại sách tham khảo cho học sinh, giúp cho học sinh có cái nhìn đa
dang, phong phú hơn. Song những cuốn sách tham khảo của phân môn Tập làm
văn lại thường đưa ra các bài văn mẫu hoàn chỉnh nên khi làm văn các em
Từ những điều đã phân tích ở trên cho thấy việc rèn kĩ năng viết văn
miêu tả nói chung và miêu tả con vật nói riêng cho học sinh lớp 4 là vô cùng
quan trọng và đặt lên hàng đầu. Nó tạo nền móng vững chắc cho quá trình tích
lũy kiến thức của học sinh ở bậc học quan trọng này mà trong đó người giáo
viên Tiểu học chính là người thợ xây đặt những viên gạch đầu tiên cho tiến trình
sau này của học sinh. Vì những lí do quan trọng đó nên tôi đã mạnh dạn chọn đề
tài: “Một số biện pháp giúp học sinh làm tốt bài văn miêu tả con vật ở lớp
4”. Qua đó giúp giáo viên tự điều chỉnh phương pháp dạy học để tiết học diễn ra
nhẹ nhàng và có hiệu quả cao.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Giup hoc sinh lơp 4 :
+ Rèn kĩ năng quan sát, tìm ý, lập dàn ý cho bai văn miêu ta con vật.
+ Rèn kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn, liên kết đoạn, diễn đạt
lưu loát, mạch lạc.
+ Rèn kĩ năng viết văn miêu ta con vật giàu hình ảnh, cảm xúc.
- Giup giao viên khôi 4 co môt sô kiên thưc va kinh nghiêm khi hương
dân hoc sinh viêt bai văn miêu ta noi chung va ta con vật noi riêng.
- Giup ban thân tư hoc hoi đê nâng cao trinh đô chuyên môn.
3. Đối tượng nghiên cứu:
Nghiên cứu việc dạy học tập làm văn miêu tả con vật ở lớp 4, đề xuất một
số biện pháp khi dạy văn miêu tả con vật ở lớp 4.
Học sinh lớp 4A và 4B Trường Tiểu học Định Tiến.
4. Thời gian nghiên cứu:
Năm học : 2018 - 2019
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp đọc sách và tài liệu.
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lý thuyết.
- Phương pháp điều tra khao sát thực tế.
- Phương pháp quan sát khách quan.
- Phương pháp thu thập thông tin.
nào trong cuộc sống cũng có thể trở thành đối tượng của văn miêu tả nhưng
không phải bất kỳ một sự việc nào cũng trở thành văn miêu tả. Miêu tả không
chỉ đơn giản ở việc giúp người đọc thấy rõ được những nét đặc trưng, những đặc
điểm, tính chất,…không phải là việc sao chép, chụp lại một cách máy móc mà
phải thể hiện được sự tinh tế của tác giả trong việc sử dụng ngôn từ, trong cách
thể hiện cảm xúc, tình cảm của tác giả đối với đối tượng miêu tả. Một bài văn
miêu tả đạt được đỉnh của nó khi mà bằng những ngôn ngữ sinh động nào đó
khiến cho người nghe, người đọc như cảm thấy mình đang đứng trước sự vật,
hiện tượng đó và cảm thấy như được nghe, sờ những gì mà tác giả nói đến.
Trong cuốn “Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu tả”, tác giả
Nguyễn Trí đã nêu rõ ba đặc điểm của văn miêu tả: Văn miêu tả mang tính thông
báo thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết; Văn miêu tả mang tính sinh
động, tạo hình; ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc, hình ảnh. Trong cuốn “Rèn kỹ
năng sử dụng Tiếng Việt” hai tác giả Đào Ngọc và Nguyễn Quang Ninh đã chĩ
rõ ba đặc điểm của văn miêu tả. Đó là: Văn miêu tả là một loại văn mang tính
thông báo thẩm mỹ, trong văn miêu tả, cái mới, cái riêng phải gắn chặt với tính
chân thật; ngôn ngữ trong văn miêu tả bao giờ cũng giàu cảm xúc, giàu hình
3
ảnh, giàu nhịp điệu, âm thanh,… Như vậy, hai tác giả đó nêu thêm một đặc điểm
cũng rất quan trọng của văn miêu tả đó là, tính sáng tạo phải gắn chặt với tính
chân thật.
Văn miêu tả là loại văn có tác dụng rất lớn trong việc tái hiện đời sống,
nó giúp học sinh hình thành và phát triển trí tưởng tượng, óc quan sát và khả
năng đánh giá, nhận xét .Tư duy hình tượng của trẻ cũng được rèn luyện và phát
triển qua việc sử dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá...
Miêu tả con vật là một thể loại văn bản mà trong đó, người viết dùng
ngôn ngữ có tính chất nghệ thuật của mình để tái hiện, sao chụp lại hình ảnh con
vật với những đặc điểm nổi bật cả về hình dáng bên ngoài lẫn những hoạt động
không chân thực hoặc tả chung chung, hay vay mượn của người khác nên dẫn
đến khi làm văn không đạt hiệu quả cao.
2. Học sinh chưa nắm chắc cách làm một bài văn miêu tả con vật do
chưa hiểu kĩ dàn bài chung, chưa lập được dàn bài chi tiết.
4
Nhiều học sinh chưa nắm chắc được cấu tạo chung của bài văn miêu tả con
vật dẫn đến bài làm chưa rõ 3 phần mở bài, thân bài, kết bài. Ví dụ: bài của em
Trịnh Văn Minh, em Lê Sĩ Thụy. Cũng do chưa nắm chắc cấu tạo của bài văn
miêu tả con vật mà học sinh sắp xếp ý còn lộn xộn, chưa tả theo một trình tự
hợp lý. Ví dụ Em Nguyễn Đức Lĩnh lớp tôi tả con chó như sau: “Tô Ni là con
chó mà em nuôi, người nó như quả bí, đầu nó như quả bóng gôn, mắt nó như
hai hòn bi ve. Mỗi lần em đi học về là nó lại nhảy tót lên người em. Em rất hạnh
phúc vì có chú chó, em sẽ yêu quý chú chó suốt đời. Em chúc chú chó mau khỏi
bệnh ghẻ”.
Nguyên nhân: Do các em chưa nắm chắc dàn bài chung, chưa lập dàn bài
chi tiết cho bài văn dẫn đến bài làm của các em ý còn lộn xộn và chưa theo một
trình tự hợp lý.
3. Kĩ năng dùng từ, đặt câu, diễn đạt viết đoạn văn miêu tả chi tiết
hình dáng, màu sắc, cấu tạo, hoạt động … của con vật ở học sinh chưa tốt.
Qua khảo sát tôi thấy cách dùng từ của nhiều em chưa chính xác và chưa
phù hợp VD: Con mèo có bộ lông trắng tinh. Khi viết đoạn văn chủ yếu là các
em mới biết liệt kê các bộ phận chứ chưa biết tả các đặc điểm nổi bật của các bộ
phận đó. Ví dụ: Em Vũ Thị Thảo Tuyến lớp tôi tả con mèo như sau: “ Con mèo
nhà em nuôi đã lâu, lông nó màu trắng. Hai con mắt to tròn, cái mũi đỏ. Râu
dài mọc xung quanh mép. Nó chạy nhảy và leo trèo cả ngày, lúc mệt nó lại ngủ
ở góc nhà.” . Đây không phải là văn miêu tả. Đây chỉ là sự liệt kê các đặc điểm,
tính chất của một con mèo. Vì thế nếu nói một cách chặt chẽ thì đoạn văn trên
mang tính chất sinh học chứ chưa mang tính văn học. Có em viết câu không đủ
sự cảm thấy yêu môn học.
- Một số học sinh chưa xác định được trọng tâm của đề bài văn miêu tả
con vật nên đoạn viết của các em không biết viết bắt đầu từ đâu, phải viết những
gì, viết như thế nào, thậm chí viết còn sai đề, xa đề. Các em còn rất lúng túng
khi làm một bài văn miêu tả con vật vì thế dẫn đến kết quả đạt được chưa cao.
- Các tiết Tập làm văn chính khoá GV đã dạy các em viết từng phần, miêu
tả từng bộ phận nhưng nhiều em chưa biết tổng hợp để viết thành bài văn hoàn
chỉnh dẫn đến bài viết chưa đạt yêu cầu.
* Sau khi nắm được thực trạng dạy và học kiểu bài văn miêu tả con vật ở
lớp 4, tôi đã tiến hành khảo sát ở hai lớp 4A và 4B để kiểm tra khả năng làm bài
văn miêu tả con vật của các em.
Để kiểm tra bài làm của học sinh, tôi cho các em làm bài văn với đề bài
sau:
Đề bài: Hãy tả một con vật nuôi mà em thích nhất.
Sau khi kiểm tra, tôi đã chấm bài và thu được kết quả như sau:
Lớp Số HS
được
kiểm tra
4A
28
4B
24
Hoàn thành Tốt
SL
TL
Hoàn thành
SL
Qua khảo sát tôi thấy khả năng làm bài văn của các em còn nhiều hạn chế.
Số học sinh làm bài văn đạt hoàn thành tốt không cao, mặc dù vẫn biết rằng để
làm được bài văn đạt hoàn thành tốt là rất khó. Số học sinh đạt hoàn thành cũng
quá ít. Với các em đạt hoàn thành, tuy các em đã nắm được yêu cầu và nội dung
của đề bài, bố cục rõ ràng, cũng đã biết lồng cảm xúc khi miêu tả nhưng các em
chưa biết miêu tả những đặc điểm nổi bật của con vật đó, còn miêu tả chung
chung, chưa biết sử dụng một số biện pháp nghệ thuật so sánh, nhân hoá... dẫn
đến bài văn miêu tả chưa sinh động. Các em đạt hoàn thành thì mới làm được
bài văn với đủ 3 phần: mở bài, thân bài, kết bài. Bài văn mang tính kể lể, liệt kê
các bộ phận của con vật chứ chưa biết miêu tả đặc điểm nổi bật các bộ phận của
con vật. Còn các bài văn chưa hoàn thành thì chưa có bố cục rõ ràng, sắp xếp ý
lộn xộn, diễn đạt dài dòng... Đặc biệt một số em mới chỉ viết dưới dạng đoạn
văn 8 đến 10 câu. Về mặt cấu tạo câu các em cũng còn mắc rất nhiều lỗi về
thành phần câu, về nghĩa của câu,…
6
Kết quả này cũng cho thấy một phần nào đó sự quan tâm của giáo viên
trong việc rèn luyện kỹ năng làm bài văn và mở rộng kiến thức cho học sinh còn
hạn chế.
Từ thực trạng trên tôi thấy cần phải cung cấp kiến thức và hướng dẫn cho
học sinh kỹ năng làm bài văn miêu tả con vật để học sinh làm tốt dạng văn này.
III. Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
1 . Hướng dẫn học sinh quan sát, tìm ý.
Như chúng ta đã biết: Quan sát là sử dụng các giác quan để xem xét, nhận
biết sự vật, hiện tượng. Có quan sát tốt, quan sát theo trình tự hợp lý học sinh
mới viết được bài văn hay. Một số học sinh do chưa nắm được phương pháp
quan sát nên dẫn đến bài văn miêu tả có nội dung sơ sài, mang tính liệt kê, chưa
làm nổi bật được đối tượng miêu tả.
dùng tai để nghe tiếng động, .... Sau khi hướng dẫn học sinh quan sát, giáo viên
cần hướng dẫn học sinh ghi lại những điều mình quan sát được theo một trình tự
7
hợp lý. Tôi thường hướng dẫn học sinh ghi lại những điều các em quan sát được
theo dàn bài chung của bài văn miêu tả con vật .
* Tóm lại: Mỗi một người giáo viên cần phải hiểu rằng: Hướng dẫn học
sinh quan sát là một bước làm rất quan trọng trong tiết Tập làm văn miêu tả nói
chung và miêu tả con vật nói riêng. Nhờ vậy mà học sinh lóp tôi em nào cũng
biết quan sát quan sát con vật của mình theo đúng trình tự, quan sát được những
đặc điểm nổi bật về hình dáng và hoạt động của con vật đó.
2. Hướng dẫn và xây dựng cho học sinh một dàn bài chung, dàn bài chi
tiết cho bài văn miêu tả con vật .
Muốn làm tốt, viết trôi chảy mạch lạc học sinh cần nắm vững cấu tạo của
bài văn miêu tả con vật, vì vậy ở các tiết luyện Tiếng Việt, giáo viên cần hướng
dẫn để học sinh xây dựng được dàn bài của bài văn miêu tả con vật. Nắm được
dàn bài của bài văn miêu tả con vật học sinh sẽ có điểm tựa để quan sát theo
trình tự hợp lý, viết được bài văn mà không lúng túng, nhất là đối với học sinh
không có năng khiếu viết văn. Vì vậy tôi đã hướng dẫn học sinh lập được một
dàn bài chung có bố cục như sau:
Mở bài: Giới thiệu con vật định tả là con gì? Con vật này của nhà ai? Nó
được nuôi từ bao giờ?
Thân bài:
+Tả đặc điểm hình dáng bên ngoài : Tầm vóc, hình dáng, màu sắc, đường
nét cùng các bộ phận đầu, tai, mũi, miệng, chân, đuôi,….
+Tả tính nết và hoạt động: Tính nết và hoạt động nổi bật của con vật là gì?
(Ví dụ: Khi ăn, ngủ; lúc đứng, nằm; khi trong chuồng, lúc ngoài sân; khi bình
thường, lúc có chuyện đột xuất xảy ra…..)
b) Tả hoạt động của con chó.
- Mực rất khôn ngoan, mỗi khi em vui bảo nó nằm xuống, hay bắt tay là nó
làm liền.
- Chú là loài vật rất thính, khách lạ hay quen vào nhà chú đều phân biệt
được hết. Khách lạ thì chú sủa những tràng dài như báo hiệu cho chủ biết, còn
khách quen thì chú ngó ngoáy đuôi vui mừng như là hiếu khách lắm vậy.
- Mực thường ngủ ngoài hiên nhà để trông coi nhà và đàn gà của mẹ.
Không một tiếng động nhở nào mà chú không phát hiện được cả. Dù ai trong
gia đình em đi đâu thật xa, thật lâu không về nhưng khi về đến cổng là con Mực
đã nhảy ào ra mừng rỡ.
Kết bài : Người ta nói “ Chó là loài vật trung thành với chủ nhất” quả
không sai chút nào. Em yêu con Mực như một người bạn thân của mình, nhất là
những lúc ở nhà một mình. Mực đúng là niềm vui của em.
* Tóm lại : Từ dàn bài chi tiết này các em sẽ làm tốt được bài văn với đầy
đủ ba phần (mở bài, thân bài, kết bài) và sắp xếp các ý theo một trình tự hợp lý.
3. Hướng dẫn học sinh rèn luyện miêu tả các bộ phận của con vật và
viết thành đoạn văn.
Từ việc học sinh được làm quen và tìm hiểu cách miêu tả các bộ phận của
con vật của một số nhà văn như SGK đã giới thiệu, tôi hướng dẫn học sinh miêu
tả các bộ phận của con vật mà các em đã được quan sát. Tôi không gò bó, ép
buộc các em phải miêu tả con vật nào mà con vật cần miêu tả do các em lựa
chọn và các em được quan sát ở tiết trước.
- Hướng dẫn học sinh viết đoạn văn tả đặc điểm hình dáng bên ngoài với
các câu hỏi gợi ý sau:
+ Trông nó to nhỏ ra sao?
+ Hình dáng nó trông giống vật gì quen thuộc?
+ Màu sắc bộ lông (hoặc màu da) thế nào?
+ Đầu, mình, chân, đuôi, ….. có nét gì đặc biệt ?
Từ các câu hỏi gợi ý, tôi hướng dẫn học sinh viết thành một đoạn văn tả
bao quát. Sau đó tôi cho học sinh đọc trước lớp để các bạn nhận xét, bổ sung và
Ví dụ đoạn văn tả hoạt động và tính nết của chú chó, em Trần Thị Hồng
Thu viết như sau:
“Con Rô sạch sẽ lắm. Mỗi lần mẹ gọi: “Rô đi tắm” là nó vẫy đuôi chạy
theo ngoan ngoãn như một đứa bé được nuông chiều. Thân hình nó không hề có
một con bọ, con rận nào cả. Không biết mẹ dạy con rô từ bao giờ mà nó biết đi
vệ sinh vào một chỗ phía sau nhà. Nó rất ý tứ. Mỗi khi có khách đến chơi nhà,
nó nằm im trên tấm đệm, đôi tai vểnh lên nghe bố mẹ và khách nói chuyện.
Khách đứng dậy ra về, con Rô cũng theo bố mẹ em đi ra cửa như để tiễn chân
khách”
Ngoài ra, tôi còn hướng dẫn học sinh nêu sự gắn bó và những kỷ niệm của
em đối với con vật. Nhất là tác dụng của nó đối với đời sống của chúng ta và cái
tình của chúng ta đối với con vật. Cần lưu ý học sinh ý này phải miêu tả cảm
xúc, kỷ niệm chân thực đúng với tình cảm của mình. Với học sinh có năng khiếu
tôi hướng dẫn các em lồng ý này khi miêu tả các bộ phận của con vật.
Khi hướng dẫn học sinh miêu tả các bộ phận của con vật, tôi lưu ý học sinh
trình bày thành các đoạn văn. Với mỗi đoạn văn cần có câu mở đoạn giới thiệu
chung. Hết đoạn văn cần xuống dòng và lùi vào một chữ. Cần hướng dẫn học
sinh khi viết câu mở đoạn nên dùng từ ngữ để liên kết với đoạn trên.
* Tóm lại: Qua việc hướng dẫn học sinh rèn miêu tả các bộ phận của con
vật rồi viết thành đoạn văn, tôi thấy đa số học sinh trong lớp đã miêu tả đầy đủ
các bộ phận, hoạt động, tính nết của con vật. Nhiều em còn sử dụng biện pháp
so sánh, nhân hóa biểu lộ tình cảm, cảm xúc của mình khi miêu tả làm cho đoạn
văn hay hơn sinh động hấp dẫn hơn.
4. Hướng dẫn học sinh luyện tập xây dựng mở bài, kết bài.
Bài văn không thể thiếu phần mở bài và kết bài, những phần này thường
thu hút người đọc, người nghe chú ý cách đặt vấn đề và cách cảm nghĩ về vấn đề
10
gian mơ màng như bừng tỉnh giấc. Đó chính là tiếng gáy của chú gà trống nhà
tôi đấy”. Sau khi học sinh nhận xét, bổ sung mở bài cho bạn, tôi thường khuyến
khích học sinh nêu những cách mở bài khác nhau. Nhờ được khuyến khích,
được nhận xét, bổ sung nên học sinh đã viết được nhiều mở bài hay, thể hiện
được cảm nhận riêng của mình.
b. Đoạn văn kết bài: Có nhiều cách kết bài khác nhau nhưng đều phải xuất
phát từ nội dung của bài. Dù kết bài bằng cách nào cũng cần phải nêu được cảm
nghĩ, tình cảm của em đối với con vật và cách chăm sóc, bảo vệ... Phần lớn các
em chỉ nêu cảm xúc ngắn gọn bằng một câu “Em rất yêu chú gà trống nhà em.”
Tôi gợi ý để học sinh nhận thấy kết luận như thế này còn khô khan. Tôi yêu cầu
các em suy nghĩ nêu kết luận khác hay hơn. Một học sinh đã nêu “ Em rất yêu
quý chú gà trống nhà em vì chú vừa đẹp, vừa oai vệ và dũng mãnh.. Em xem chú
gà trống của mình như một người bạn thân thiết và hàng ngày chăm sóc chú
chu đáo. Em cho chú ăn thóc và dọn chuồng sạch sẽ để gà trống mau lớn khỏe”.
Kết luận này cảm xúc được biểu hiện kín đáo hơn và hay hơn kết luận trước. Từ
11
việc được nhận xét, sửa chữa mà các em đã viết được nhiều kết luận hay, bộc lộ
được cảm xúc của mình.
5. Hướng dẫn học sinh tích luỹ các từ ngữ miêu tả từ các phân môn
khác.
Tạo điều kiện cho học sinh tích luỹ vốn từ ngữ miêu tả. Biện pháp đầu tiên
giúp các em tích luỹ vốn miêu tả qua các bài tập đọc, kể chuyện…... Nhiều bài
tập đọc là các bài miêu tả hay của nhà văn, số lượng từ ngữ miêu tả ở các bài
văn đó rất phong phú, cách sử dụng sáng tạo. Dạy các bài đó giáo viên cần chỉ ra
các từ ngữ miêu tả, chọn các trường hợp đặc sắc để phân tích cái hay, cái đẹp sự
sáng tạo của người viết khi dùng chúng và hướng dẫn học sinh ghi vào sổ tay.
Ví dụ: Khi dạy bài tập đọc “Con chuồn chuồn nước” Tiếng Việt 4 – Tập 2
có đoạn: “Ôi chao! Chú chuồn chuồn nước mới đẹp làm sao! Màu vàng trên
Liên tiếp sau đó, mỗi câu văn được tác giả dùng để nói tới một con bướm. Mỗi
con bướm lại được tả bằng các tính từ, các hình ảnh so sánh gợi vẻ đẹp đầy hấp
dẫn: đen như nhung, loang loáng, vàng sẫm, lượn lờ đờ như trôi trong nắng, líu
12
ríu như hoa nắng, …. Tác giả đã khéo chọn những hình ảnh mới mẻ, độc đáo để
so sánh làm nổi bật dáng bay của từng loại bướm. Nó làm nên vẻ đẹp hấp dẫn
riêng của đoạn văn miêu tả này.
* Tóm lại: Từ việc thường xuyên nhắc nhở các em tích luỹ những từ ngữ
và các biện pháp miêu tả như vây, vốn từ của các em sẽ phong phú hơn.Các em
sẽ làm được những bài văn miêu tả một cách tốt hơn. Qua đó tôi thấy nhiều em
đã biết học tập cách miêu tả của các nhà văn, nhà thơ vào câu văn, đoạn văn,
bài văn miêu tả của mình rất linh hoạt.
6. Hướng dẫn học sinh diễn đạt câu văn sinh động, có hình ảnh.
Để viết được một bài văn hay, yêu cầu học sinh phải biết diễn đạt câu văn
sinh động, có hình ảnh, bài văn phải biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật. Để
giúp học sinh có vốn từ ngữ miêu tả phong phú, tôi thường hướng dẫn để học
sinh thấy các từ ngữ miêu tả, hình ảnh mà học sinh đã ghi chép được vào sổ tay
của mình để học tập . Tuy nhiên, ngôn ngữ miêu tả cần chân thực, chính xác, vì
vậy tôi hướng dẫn học sinh học tập chứ không sao chép, lựa chọn những từ ngữ
phù hợp để diễn đạt bài văn của mình. Để học sinh diễn đạt được những câu văn
sinh động có hình ảnh, tôi hướng dẫn học sinh sử dụng ngôn ngữ miêu tả như
dùng động từ, tính từ, từ láy.... cần lưu ý học sinh dùng từ ngữ miêu tả đúng, sát,
hợp, lựa chọn từ ngữ khi miêu tả để làm cho câu văn có “hồn”.
Mặt khác, để diễn đạt câu văn sinh động hơn, tôi còn hướng dẫn học sinh
sử dụng các biện pháp nghệ thuật như so sánh, nhân hoá, điệp từ, điệp ngữ... Tôi
hướng dẫn các em khi miêu tả cần liên tưởng để so sánh phù hợp làm cho sự vật
miêu tả cụ thể hơn, dùng từ ngữ chỉ người để nhân hoá sự vật làm cho con vật
được miêu tả sinh động.
người đọc, người nghe.
* Tóm lại: Bằng cách hướng dẫn như thế, tôi đã giúp học sinh viết được
những câu văn giàu hình ảnh, biết sử dụng những từ ngữ, biện pháp so sánh,
nhân hóa khi miêu tả.
7. Nâng cao chất lượng làm văn miêu tả thông qua việc việc chấm,
chữa bài, nhận xét bài làm của HS:
Tất cả những công việc, từ những việc làm thông thường hàng ngày đến
việc nghiên cứu khoa học nghiêm túc đều phải thực hiện theo một chu trình nhất
định, bắt đầu từ việc lập kế hoạch đến việc triển khai thực hiện kế hoạch đó và
cuối cùng là khâu kiểm tra dánh giá lại những việc đã làm so với kế hoạch đề ra.
Để làm việc có hiệu quả, mang lại sự thành công thì không thể bỏ qua bất cứ
khâu nào trong các khâu trên, nhất là với khâu kiểm tra, đánh giá. Có kiểm tra,
đánh giá thì mới có thể biết được những ưu, khuyết điểm trong công việc đã
thực hiện, để diều chỉnh cho những việc tiếp theo.
Muốn có được tiết trả bài có hiệu quả cao thì việc chấm bài là rất quan
trọng. Giáo viên cần chấm bài thật kỹ càng, chữa từng lỗi nhỏ trong bài viết cho
học sinh. Khi chấm bài phát hiện ra lỗi của học sinh giáo viên cần ghi lại cẩn
thận các lỗi của học sinh theo từng loại: lỗi về cách dùng từ, lỗi về câu, lỗi diễn
đạt, lỗi chính tả, …và cũng cần ghi lại các từ, câu, đoạn văn hay. Sau khi chấm
bài giáo vên cần thống kê các loại bài đạt, chưa đạt, đưa ra nhận xét chung nhất
về ưu, nhược diểm trong bài viết của học sinh, thống kê được các lỗi mà học
sinh thường mắc và những câu văn, đoạn văn hay. Trong tiết trả bài ngoài việc
tiến hành các trình tự như trong sách giáo viên đã hướng dẫn, giáo vên cần thay
đổi hình thức hoạt động để học sinh đỡ nhàm chán. Sau phần giáo viên nhận xét
chung, giáo viên cần chữa lỗi cho học sinh theo từng loại lỗi đã thống kê khi
chấm bài và nêu các câu văn, đoạn văn hay đã chuẩn bị trước. Sau đó, giáo viên
trả bài và có thể tổ chức cho học sinh thảo luận theo nhóm bàn để các em trao
đổi với bạn về cách làm bài của mình, đọc cho nhau nghe các câu văn hay hoặc
giúp nhau sửa lỗi trong bài làm. Từ đó học sinh sẽ thấy được ưu, nhược điểm
trong bài làm của mình, của bạn và biết tự sửa chữa hoặc viết lại đoạn văn của
tôi đưa ra và áp dụng vào tiết dạy cụ thể, giáo viên trong tổ tránh được những
vướng mắc, những lúng túng, khi giảng dạy tập làm văn. Các đồng chí trong tổ
đã biết vận dụng sáng tạo phương pháp giảng dạy tập làm văn mà tôi nêu ra. Kết
quả tiết dạy đã được nâng lên một cách rõ rệt.
b) Về phía học sinh : Học sinh đã hứng thú dần với các giờ Tập làm văn,
các em ham thích đọc truyện, thích quan sát, các em đã biết tưởng tượng và kể
chuyện có sáng tạo, từng bước đã biết cách quan sát, lập dàn ý và diễn đạt ý
thành những câu văn giàu hình ảnh, tư duy hình tượng của các em cũng được
rèn luyện và phát triển nhờ biết vận dụng các biện pháp so sánh, nhân hoá ... khi
miêu tả con vật...
Chính vì vậy tôi nghĩ rằng để dạy tốt phân môn Tập làm văn nói riêng và
các môn học khác nói chung, người giáo viên phải không ngừng học tập, trau
dồi chuyên môn. Đặc biệt với Tiểu học, chúng ta cần tích cực đổi mới phương
pháp dạy học, bắt đầu từ việc đổi mới cách soạn bài, phải thiết kế được bài soạn,
tổ chức sao cho học sinh được hoạt động, sử dụng các hình thức dạy học phong
phú, đa dạng phù hợp với loại bài, với đặc điểm tâm lý của học sinh Tiểu học.
Riêng với phân môn Tập làm văn, điều quan trọng là người giáo viên phải tạo
cho học sinh có hứng thú trong giờ học, trong việc học văn, và để làm được việc
đó người giáo viên càng phải tích cực đổi mới phương pháp dạy học.
Cụ thể sau khi thực nghiệm, tôi đã tiến hành kiểm tra kết quả học tập của
học sinh tại 2 lớp là lớp 4A và 4B Trường Tiểu học Định Tiến
Đề bài: Em hãy tả một con vật nuôi gần gũi nhất đối với em
Với đề bài trên tôi yêu cầu học sinh vận dụng các kiến thức đã học và kỹ
năng của mình để làm bài.
Sau khi kiểm tra tôi đã chấm bài và thu được kết quả như sau:
Lớp
4A (Thực nghiệm)
Số HS
được
2
8
21
88
1
4
Qua thực tế bài làm của học sinh lớp 4A (do tôi vận dụng sáng kiến kinh
nghiệm) cao hơn lớp 4B ( lớp đối chứng). Điều đó cho thấy các giải pháp mà tôi
đưa ra hướng dẫn học sinh có tính khả thi. Phần lớn các em học sinh lớp tôi dạy
có bài văn miêu tả bố cục rõ 3 phần, miêu tả theo một trình tự hợp lý, diễn đạt
trôi chảy, mạch lạc, bài văn đã biết sử dụng các biện pháp nghệ thuật so sánh,
nhân hoá, làm cho bài văn sinh động hấp dẫn. Còn nhiều em khác lần kiểm tra
trước kết quả thấp thì lần này đã tiến bộ rất nhiều. Trong các kỳ thi thì lớp tôi có
số học sinh đạt điểm hoàn thành tốt môn Tiếng Việt cao, chất lượng học sinh
được nâng lên một cách rõ rệt. Điều này một lần nữa đã khẳng định một số biện
pháp tôi vận dung trong dạy văn miêu tả con vật cho học sinh lớp 4 là có hiệu
quả.
C. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Kết luận:
Quá trình dạy học môn Tiếng Việt nói chung và phân môn Tập làm văn
nói riêng thì việc nâng cao chất lượng dạy học là một yêu cầu cần thiết và quan
trọng. Vì vậy trong quá trình dạy học tôi không ngừng tìm tòi, nghiên cứu để
đưa ra những giải pháp tích cực nhằm giúp quá trình dạy học phân môn Tập làm
quan sát những con vật không có ở địa phương để mở rộng hiểu biết cho các em.
- Trong quá trình dạy học cần kiểm tra đánh giá kịp thời sự tiến bộ của
học sinh để phát huy sự sáng tạo của các em , bổ sung những kiến thức còn thiếu
giúp học sinh làm tốt bài văn miêu tả con vật.
- Giáo viên cần thường xuyên tham khảo tài liệu, chuyên san … có liên
quan đến phương pháp giảng dạy Tiếng Việt ở Tiểu học nói chung và dạng văn
miêu tả
con vật nói riêng.
2. Kiến nghị:
2.1. Đối với phòng Giáo dục và Đào tạo:
Mỗi năm học, phòng Giáo dục và Đào tạo nên chọn các sáng kiến tốt in
thành các tập san theo môn học để cung cấp cho các trường làm tài liệu sinh
hoạt chuyên môn.
2.2. Đối với Ban giám hiệu nhà trường:
- Tăng cường đầu sách trong thư viện để giáo viên có đủ tư liệu tham
khảo phục vụ cho giảng dạy nhất là các tạp chí: Giáo dục tiểu học, Thế giới
trong ta,...
- Nâng cao hiệu quả các giờ chuyên môn, khuyến khích giáo viên đầu
tư trao đổi kế hoạch bài học, cùng thống nhất soạn giáo án tập thể để phát huy
sở trường của từng cá nhân và sức mạnh của cả tập thể.
- Hàng năm thường xuyên tổ chức cho giáo viên và học sinh đi thăm
quan du lịch để nâng cao hiểu biết về cảnh vật, đất nước và con người Việt Nam.
2.3. Đối với giáo viên:
- Nghiên cứu nắm vững chương trình, hệ thống kiến thức, mức độ yêu cầu
kiến thức, kĩ năng của học sinh, nghiên cứu nắm vững sự thể hiện cụ thể của
chương trình, sách giáo khoa, sách bài tập, sách giáo viên. Sưu tầm nghiên cứu
các kinh nghiệm dạy học trên các tập chí, tài liệu bồi dưỡng giáo viên về kiến
thức, nghiệp vụ, nắm tình hình điều kiện địa phương, trường lớp và hoàn cảnh
học tập của học sinh. Nghiên cứu mục đích yêu cầu bài học cả về 3 mặt (kiến
thức, kĩ năng tư duy và giáo dục). Xác định kiến thức trọng tâm căn cứ trên mục
Lê Thị Trà
Yên Định, ngày 9 tháng 4 năm 2019
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Người viết
Nguyễn Thị Ngà
MỤC LỤC
Nội dung
A- Mở đầu
1-Lý do chọn đề tài:
Trang
1
1
18
2- Mục đích nghiên cứu
3- Đối tượng nghiên cứu
4- Thời gian nghiên cứu
5- Phương pháp nghiên cứu.
B - Nội dung của sáng kiến kinh nghiệm
I - Cơ sở lý luận
II. Thực trạng của việc làm văn miêu tả con vật của học sinh lóp 4
III - Các biện pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.
1. Hướng dẫn học sinh quan sát, tìm ý.
15
16
16
17
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 . Sách giáo khoa, sách Giáo viên Tiếng Việt lớp 4– Nhà xuất bản Giáo dục.
2 . Dạy và học môn Tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới – NXB Giáo
dục.
3 . Phương pháp dạy học tiếng Việt của PGS-TS Lê Phương Nga, Nguyễn Trí.
4 . Phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục - NXB Giáo dục.
5 . Phương pháp dạy học các môn Tiểu học – Nhà xuất bản Giáo dục.
6 . Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng các môn học lớp 4.
7 . Bồi dưỡng văn Tiểu học của Nguyễn Quốc Siêu- Nhà xuất bản ĐH Quốc gia
Hà Nội.
8 . Văn miêu tả và phương pháp dạy học văn miêu tả của Nguyễn Trí.
19
9 . Rèn kỹ năng sử dụng Tiếng Việt” của Đào Ngọc và Nguyễn Quang Ninh
10 . Các tập san, chuyên đề Tiểu học.
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO HUYỆN YÊN ĐỊNH
TRƯỜNG TIỂU HỌC ĐỊNH TIẾN
20
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM