Mục lục
Lời mở đầu................................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ MÔ HÌNH PHÁ HỦY SÁNG TẠO
SCHUMPETER........................................................................................................... 3
1.1. Nội dung mô hình phá hủy sáng tạo Schumpeter........................................ 3
1.1.1.
Nội dung và mô hình gốc......................................................................... 3
1.1.2. Mô hình phá hủy sáng tạo theo cách nhìn của các nhà kinh tế khác và mô
hình mở rộng......................................................................................................... 6
1.2. Ý nghĩa thực tiễn của mô hình Schumpeter................................................. 8
Chương 2: ỨNG DỤNG MÔ HÌNH PHÁ HUỶ SÁNG TẠO TRONG MỘT SỐ
NGÀNH CÔNG NGHỆ HIỆN NAY........................................................................ 13
2.1. Phá hủy sáng tạo trong ngành điện thoại di động...................................... 13
2.1.1.
Trường hợp của Nokia........................................................................... 13
2.1.2. Trường hợp của Apple.............................................................................. 22
2.1.3. Trường hợp của Samsung......................................................................... 32
2.2. Ứng dụng trong lĩnh vực taxi công nghệ:...................................................... 40
2.2.1. Sản phẩm truyền thống – thứ bị phá hủy................................................ 40
2.2.2 Sản phẩm taxi công nghệ - thứ được coi là sáng tạo...............................42
2.3. Phá hủy sáng tạo trong lĩnh vực thanh toán............................................... 50
2.3.1 Hình thức thanh toán cũ: bằng tiền mặt.................................................. 51
2.3.2 Hình thức thanh toán công nghệ mới: Thanh toán điện tử và QR code 52
Chương 3: MỘT SỐ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY SÁNG TẠO CÔNG NGHỆ Ở VIỆT
NAM........................................................................................................................... 57
31
Biểu đồ 2. 4: Số bằng sáng chế tiêu chuẩn của những hãng smartphone lớn...............34
Biểu đồ 2. 5: Lượng xe taxi Vinasun và Mai Linh....................................................... 42
Biểu đồ 2. 6: Lượng cài thêm app đặt xe theo tháng.................................................... 46
Biểu đồ 2. 7: Các hình thức được nhà đầu tư lựa chọn khi thanh toán trực tuyến........51
Biểu đồ 2. 8: Hình thức thanh toán tại điểm bán hàng theo giá trị giao dịch...............52
Biểu đồ 2. 9: Chuyển dịch thanh toán toàn cầu năm 2017........................................... 54
Hình 2. 1: Các mẫu máy dòng Samsung Galaxy......................................................... 39
Hình 2. 2: Giá cước xe................................................................................................. 43
Hình 2. 3: Kết quả kinh doanh của Vinasun và Mai Linh............................................ 44
Lời mở đầu
Khoa học và công nghệ (KH&CN) thế giới đã trở thành lực lượng sản xuất hiện đại, là
động lực phát triển và nền tảng của nền kinh tế tri thức của các quốc gia thành công. Trong
đó, khoa học cơ bản không những được tiếp tục phát triển ở trình độ rất cao mà còn được thu
hẹp khoảng cách, tích hợp chặt chẽ với kỹ thuật - công nghệ và khoa học ứng dụng. Đặc biệt,
các khoa học liên ngành phát triển mạnh, góp phần hình thành các lĩnh vực mới, ngành nghề
mới, phi truyền thống.
Năm 1942, Joseph Schumpeter đưa ra khái niệm về phá hủy sáng tạo trong cuốn sách
“Capitalism Socialism and Demoncracy”. Schumpeter cho rằng động lực giúp cỗ máy kinh tế
vận hành chính là hàng hoá tiêu dùng mới, phương thức sản xuất hoặc vận tải mới, thị trường
mới, hình thức doanh nghiệp mới được tạo ra. Các hoạt động thị trường không ngừng cải tổ
cơ cấu nền kinh tế từ bên trong, liên tục phá huỷ những cái cũ và tạo ra cái mới. Chính quá
trình này đã giúp cho kinh tế tăng trưởng. Sáng tạo nhưng đồng thời cũng là sự huỷ diệt, việc
làm, doanh nhiệp, toàn bộ một ngành, và những khách hàng, những vùng vệ tinh của chúng.
Schumpeter cũng nhấn mạnh rằng chắc chắn có sự xung đột, sự phản đối từ phía thua cuộc
nhưng kinh tế tăng trưởng nhờ thị trường tạo ra người thắng – kẻ thua. Các doanh nhân và
công nhân trong các ngành công nghệ mới sẽ tạo ra sự mất cân bằng và các cơ hội lợi nhuận
nay
Chương 3: Một số giải pháp thúc đẩy sáng tạo công nghệ ở Việt Nam
Bài phân tích sẽ khó tránh khỏi những sai sót do hạn chế về thời gian và kiến thức.
Nhóm tác giả rất mong nhận được sự đóng góp từ phía thầy giáo hướng dẫn để bài tiểu luận
được hoàn thiện hơn.
2
Chương 1: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ MÔ HÌNH PHÁ
HỦY SÁNG TẠO SCHUMPETER
1.1.
Nội dung mô hình phá hủy sáng tạo Schumpeter
1.1.1. Nội dung và mô hình gốc
Sự hủy diệt mang tính sáng tạo là thuật ngữ để chỉ một cái gì đó mới mẻ ra đời giết
chết một cái cũ. Nhưng nhờ có sự "hủy diệt sáng tạo" này mà các nhà sáng lập doanh nghiệp
đã tạo ra một trong những phát minh quan trọng nhất của thế kỷ này - ví dụ như laptop ra đời
đã hủy diệt nhiều công ty sản xuất máy tính mainframe. Sự hủy diệt mang tính sáng tạo được
Joseph Schumpeter đặt ra năm 1942 trong công trình mang tên Chủ nghĩa Tư bản, Chủ nghĩa
Xã hội và Dân chủ. Khái niệm dùng để chỉ "quá trình biến đổi công nghiệp, liên tục cách
mạng hóa cơ cấu kinh tế từ bên trong, liên tục phá hủy cái cũ, liên tục tạo ra cái mới".
Joseph Schumpeter đặt ra cụm từ “Phá hủy mang tính Sáng tạo” (Creative
Destruction), đây là tiền đề mà qua đó những cách tân mới phá hủy các doanh nghiệp đã thành
lập và tạo ra các thị trường mới. Clayton Christensen, đặt ra thuật ngữ “Cách tân mang tính
Triệt phá” (Disruptive Innovation), ở đây ông sử dụng cách tiếp cận do dữ liệu định hướng để
chứng minh bằng cách nào mà các công ty đã thành lập đang hoạt động bị những công ty mới
gia nhập [thị trường] phá vỡ, những công ty này tạo ra các bất cân xứng về kĩ năng và động
lực để ngăn chặn những công ty đang hoạt động phản ứng với các mối đe dọa của chúng.
γ tốc độ tăng năng suất
n tốc độ tăng dân
số r lãi suất
λ xác suất có phát kiến
⍺ tỷ trọng đóng góp của lao động vào GDP
Tăng trưởng kinh tế và thay đổi công nghệ luôn đi cùng với sự phá hủy sáng tạo.
Chúng thay cái cũ bằng cái mới. Các khu vực mới thu hút nguồn lực từ các khu vực cũ. Các
hãng mới lấy mất công việc kinh doanh của các hãng đã được xác lập. Các công nghệ mới làm
cho các kỹ năng và các máy móc hiện hành trở nên lỗi thời. Quá trình tăng trưởng kinh tế và
các thể chế kinh tế mà sự tăng trưởng dựa vào, tạo ra những người thua cũng như những kẻ
thắng trên chính thương trường. Sự sợ hãi phá hủy sáng tạo thường nằm ở gốc rễ của sự chống
đối các thể chế bao gồm kinh tế và chính trị.
Lịch sử Âu châu cho một thí dụ sinh động về các hậu quả của sự phá hủy sáng tạo. Vào
trước Cách mạng công nghiệp trong thế kỷ mười tám, các chính phủ của hầu hết các nước Âu
châu đã được kiểm soát bởi các giới quý tộc và elite truyền thống, mà nguồn thu nhập chính
của họ đã từ việc làm chủ đất hoặc từ các đặc quyền buôn bán mà họ được hưởng nhờ sự độc
quyền được ban cho và các rào cản tham gia được áp đặt bởi các quốc vương. Phù hợp với ý
tưởng về sự phá hủy sáng tạo, sự mở rộng của các ngành công nghiệp, các nhà máy, và các thị
trấn đã lấy đi các nguồn lực từ đất, đã làm giảm tiền thuê đất, đã làm tăng lương mà các địa
chủ phải trả cho những người làm công của họ. Các elite này cũng đã thấy sự nổi lên của các
nhà kinh doanh và thương gia mới làm xói mòn các đặc quyền buôn bán của họ. Xét về mọi
mặt, họ đã là những người thua thiệt kinh tế rõ ràng do công nghiệp hóa. Việc đô thị hóa và sự
nổi lên của các tầng lớp trung lưu và lao động có ý thức về mặt xã hội cũng đã thách thức độc
quyền chính trị của các giới quý tộc có nhiều đất. Như thế với sự mở rộng của Cách mạng
Công nghiệp, các giới quý tộc đã không chỉ là những kẻ thua về mặt kinh tế; họ cũng còn bị
rủi ro trở thành những kẻ thua về mặt chính trị, mất ảnh hưởng của họ lên quyền lực chính trị.
Với quyền lực kinh tế và chính trị của họ bị đe dọa, các elite này thường đã tạo ra sự chống đối
ghê gớm chống lại công nghiệp hóa.
Schumpter cho rằng động lực giúp cỗ máy kinh tế vận hành chính là hàng hoá tiêu dùng
Những gợn sóng của ô tô tràn vào dầu mỏ, du lịch, giải trí, bán lẻ và các ngành công nghiệp
khác. Trên gót xe, chiếc máy bay bay vào thế giới của chúng ta, tạo ra sự bùng nổ của các
doanh nghiệp và công việc mới.
Các công ty đã từng cách mạng hóa và thống trị các ngành công nghiệp mới - ví dụ, Xerox
trong máy photocopy hoặc Polaroid trong chụp ảnh tức thời - đã thấy lợi nhuận của họ giảm và sự
thống trị của họ biến mất khi các đối thủ tung ra các thiết kế cải tiến hoặc cắt giảm chi phí sản
xuất. Về công nghệ, băng cassette đã thay thế 8 track và bị thay thế lần lượt bằng đĩa compact , sau
đó có thể tải xuống bởi các máy nghe nhạc MP3, còn hiện tại là sự chiếm dụng của các dịch vụ
phát nhạc trực tuyến trên web hoặc trên các thiết bị di động. Một ví dụ về cách mà các trang web
hỗ trợ quảng cáo trực tuyến như Huffington Post đang dẫn đến sự phá hủy sáng tạo của tờ báo
truyền thống. Ở cấp quốc gia tại Hoa Kỳ, việc làm trong ngành kinh doanh báo chí đã giảm từ
455.700 năm 1990 xuống còn 225.100 vào năm 2013. Trong cùng thời gian
5
đó, việc làm trong xuất bản và phát thanh truyền hình đã tăng lên từ 29.400 đến 121.200.
Mạng lưới cựu sinh viên truyền thống của Pháp, thường tính phí sinh viên của họ lên mạng
trực tuyến hoặc thông qua các thư mục giấy, có nguy cơ bị phá hủy sáng tạo từ các trang mạng
xã hội miễn phí như LinkedIn và Viadeo .
Trên thực tế, đổi mới thành công thường là một nguồn sức mạnh thị trường tạm thời,
làm xói mòn lợi nhuận và vị thế của các công ty cũ, nhưng cuối cùng vẫn chịu khuất phục
trước áp lực của các phát minh mới được thương mại hóa bởi những người tham gia cạnh
tranh. Phá hủy sáng tạo là một khái niệm kinh tế mạnh mẽ bởi vì nó là động lực của thay đổi
công nghiệp: sự chuyển đổi từ một thị trường cạnh tranh sang độc quyền, và trở lại. Nó là
nguồn cảm hứng của lý thuyết tăng trưởng nội sinh và cả kinh tế học tiến hóa.
David Ames Wells (1890), người có thẩm quyền hàng đầu về tác động của công nghệ
đối với nền kinh tế vào cuối thế kỷ 19, đã đưa ra nhiều ví dụ về sự phá hủy sáng tạo do các cải
tiến về hiệu quả của động cơ hơi nước , vận chuyển, mạng điện báo quốc tế, và cơ giới hóa
nông nghiệp.
1.1.2. Mô hình phá hủy sáng tạo theo cách nhìn của các nhà kinh tế khác và mô
khác nhau sẽ có khả năng khác nhau, có những phát kiến nhất định và sự đổi mới sáng tạo
xuất hiện khi các công ty đã thử nghiệm nhiều hơn, và thậm chí có những hạn chế nhất định về
lượng thông tin mà người đưa ra quyết định có thể tiếp cận và tiệm cận. Cuộc cạnh tranh vì
vậy càng trở nên thú vị, khốc liệt và liên tục. Hủy diệt sáng tạo thật sự là tiến trình tạo ra giá
trị. Và điều này mở ra một kênh mới cho quá trình cạnh tranh, trong lựa chọn sinh tồn hay diệt
vong. Hay nói cách khác, đó là cuộc cạnh tranh bằng “cái mới”; và sáng tạo khi đó là để hủy
diệt, nhưng hủy diệt để sinh tồn. Nhưng tồn tại khó bất biến, vì sáng tạo không ngừng.
Theo Komlos J. để khám phá khía cạnh này của khái niệm họ đã phân tách sự đổi mới
thành một thành phần sáng tạo (C) và một thành phần phá hủy (D) được đo bằng đơn vị tiền tệ
hoặc việc làm. Để đánh giá hiệu quả của một sự đổi mới đối với GDP hoặc việc làm, Komlos
xác định tỷ lệ sáng tạo của Schumpeter là ScR = C – D. D có thể được xem như là một ngoại
ứng tiêu cực – một chi phí được áp dụng cho bên thứ ba.
Hai tác giả Aghion P. và Howitt P. đã xây dụng mô hình tăng trưởng dựa trên mô hình
phá hủy sáng tạo của Schumpeter trong quyển sách “Bureau Quốc gia nghiên cứu kinh tế”:
Giả định:
T là bốn loại đối tượng không thể phá hủy: đất đai, lao động, hàng tiêu dùng và
hàng hóa trung gian. Với tỷ lệ không đổi của thời gian r> 0. Giả sử một lợi ích cận biên của
tiêu dùng là không đổi; do đó r cũng là lãi suất duy nhất trong nền kinh tế. Không có bất đồng
từ việc cung cấp lao động. Ngoài ra còn có nguồn cung cố định H đất đai. Hàng tiêu dùng
được sản xuất bằng đất và hàng hóa trung gian, tùy thuộc vào lợi nhuận không đổi. Vì H đã cố
định nên chúng ta có thể biểu thị hàm sản xuất là:
(2.1)
y = f (Ftx (i)] / c (i)} di
Trong đó F '> 0, F "
Internet có lẽ là ví dụ bao quát nhất về sự hủy diệt mang tính sáng tạo trong thời đại
chúng ta. Việt Nam hiện xếp thứ 13 trong top 20 quốc gia có số dân sử dụng mạng Internet
đông nhất thế giới. Dây chuyền lắp ráp của Henry Ford đã cách mạng hóa việc sản xuất ô tô
và nhiều ngành sản xuất khác, nhưng nó cũng thay thế các thị trường cũ và khiến nhiều lao
động mất việc. Những người thua cuộc không chỉ là nhân viên bán lẻ và các chủ cửa hàng, mà
còn là giao dịch viên ngân hàng, thư kí, đại lí du lịch và tài xế taxi. Những người chiến thắng,
ngoài các lập trình viên, có thể cũng đông không kém những người thất bại. Ngành công
nghiệp giải trí đã bị đảo lộn bởi internet, nhưng nhu cầu về tài năng và sản phẩm sáng tạo vẫn
như cũ hoặc thậm chí còn tăng lên. Internet đã phá hủy nhiều doanh nghiệp nhỏ nhưng tạo ra
nhiều doanh nghiệp mới trực tuyến.
Theo Seru A., giáo sư tài chính tại Đại học Kinh doanh Stanford, nghiên cứu xác nhận
rằng tốc độ đổi mới thực sự là một vấn đề quan trọng giữa các đối thủ cạnh tranh. Nhưng cũng
nhận thấy rằng các thời kỳ đổi mới công nghệ nhanh chóng, chẳng hạn như những năm 1920,
1960 và 1990, dẫn đến sự gia tăng đáng kể về năng suất và tăng trưởng kinh tế nói chung. Seru
8
nói “Nếu sự đổi mới chỉ là về việc McDonald vượt lên trên Burger King, chúng tôi sẽ không
thực sự quan tâm . Nhưng nghiên cứu của chúng tôi cho thấy rằng một cái gì đó quan trọng
hơn đang xảy ra. Khi các công ty đổi mới, họ đang mở rộng chiếc bánh và chúng ta thấy sự
tăng trưởng tổng hợp tăng lên”. Cụ thể, các công ty trong top 10% về đổi mới có tốc độ tăng
trưởng hàng năm trong năm năm tiếp theo nhanh hơn từ 1 đến 3 điểm phần trăm so với các
công ty chỉ có tốc độ đổi mới trung bình. Cho rằng 10% là tốc độ tăng trưởng nhanh đối với
hầu hết các công ty, con số đó có lợi thế đáng kể . Ngược lại, các công ty tụt hậu so với tốc độ
đổi mới của ngành công nghiệp đã chứng kiến sự tăng trưởng hàng năm của họ trong năm
năm tới chậm tới 2,5 điểm phần trăm. Những kết quả này tương tự với những nghiên cứu
trước đây chỉ nhìn vào giá trị khoa học của bằng sáng chế, nhưng kết quả mới cho thấy nhiều
bằng chứng về sự phá hủy sáng tạo của Hồi giáo. Các nghiên cứu trước đây không tìm thấy
nhiều thiệt hại cho các đối thủ kém sáng tạo.
đổ các thị trường truyền thống hiện tại. Công nghệ số sẽ sinh ra những mô hình kinh doanh
mới, thách thức mới, hoặc thay thế mô hình kinh doanh cũ. Dưới góc nhìn của kinh tế số, thì
đổi mới sáng tạo là doanh nghiệp tập trung vào chuyển đổi số để trở thành doanh nghiệp số.
Chính phủ tập trung vào tạo môi trường pháp lý, cho phép các mô hình kinh doanh mới, ứng
dụng công nghệ mới đột phá.
Phá hủy sáng tạo có ý nghĩa rõ nét nhất trong ngành công nghiệp, không những giúp
cải thiện năng suất lao động, chất lượng sản phẩm mà còn giúp các doanh nghiệp quản lý một
cách dễ dàng, dần dần mở rộng quy mô sản xuất theo hướng tự động hóa. Công nghiệp sáng
tạo được phát triển dựa trên nền tảng công nghiệp văn hóa nhưng không bị giới hạn, bó buộc
bởi văn hóa, nó có phạm vi rộng hơn công nghiệp văn hóa. Cả hai ngành đều vận dụng đến trí
tuệ, tính sáng tạo của con người, nên đều thuộc “nền kinh tế sáng tạo” - đó là nền kinh tế kết
hợp ba yếu tố kinh tế, văn hóa và tiến bộ công nghệ. Sáng tạo được coi là nguồn lực chính của
nền kinh tế tri thức, nói cách khác “sáng tạo” là nguyên liệu đầu vào của nền kinh tế, và công
nghiệp sáng tạo giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế này. Một thực tiễn khác, công nghiệp
sáng tạo là công cụ quan trọng cho việc hình thành “quyền lực mềm” của quốc gia khi tạo ra
thương hiệu nổi tiếng được thế giới công nhận (ví dụ: truyền hình và phim ảnh Mỹ, phim tình
cảm và mỹ phẩm Hàn quốc; các câu lạc bộ bóng đá Liverpool, Chelsea (Vương quốc Anh);
thương hiệu Made in Japan...).
Tạo ra sự thay đổi lớn về mô hình kinh doanh bền vững hơn và cơ hội cho các
DN khởi nghiệp sáng tạo.
Sáng tạo giúp nâng cao năng lực công nghệ của doanh nghiệp, thúc đẩy tăng năng
suất, chất lượng và sức cạnh tranh của doanh nghiệp và của cả nền kinh tế khiến đất nước có
thể bắt kịp công nghiệp 4.0. Vì vậy, nhà nước chỉ ra rằng lấy doanh nghiệp là trung tâm tiếp
nhận công nghệ nhằm thực hiện chuyển đổi số, nâng cao năng lực công nghệ của doanh
nghiệp sẽ hướng đến các nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa (chiếm trên 90% tổng số doanh
nghiệp cả nước), cũng như đối với các doanh nghiệp có quy mô lớn. Định hướng phát triển
những sản phẩm công nghệ riêng sẽ shướng đến sự dẫn dắt của các doanh nghiệp có quy mô
lớn, đi đầu, cùng với sự phát triển đột phá của các doanh nghiệp KHCN, doanh nghiệp công
nghệ cao và doanh nghiệp khởi nghiệp đổi mới sáng tạo.
Mô hình sáng tạo ở ngành này có thể tạo ý tưởng cho ngành liên quan phát triển theo hình
chắc trong sáng tạo mới có thể tồn tại và cạnh tranh thị phần trên thị trường.
Đổi mới sáng tạo có trong tất cả góc độ của nền kinh tế, điều này khẳng định đóng góp
của đổi mới sáng tạo rất quan trọng. Trong nền kinh tế tri thức, đổi mới và sáng tạo có tầm
quan trọng đặc biệt đối với tăng trưởng kinh kế. Ở góc độ khác, năng lực đổi mới, đặc biệt là
năng lực đổi mới khoa học và công nghệ là yếu tố quyết định ưu thế cạnh tranh quốc gia.
Trong xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng với thế giới và khu vực, đổi mới sáng tạo đã trở
thành một triết lý tiến bộ về tư duy và phát triển kinh tế - xã hội. Hướng tới một nền kinh tế phát
triển dựa trên vai trò dẫn dắt của đổi mới sáng tạo là mục tiêu chiến lược của nhiều quốc gia trên
thế giới. Xu hướng chung của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay là hội nhập quốc tế sâu rộng
và tăng cường năng lực cạnh tranh dựa trên tri thức với các giải pháp như tăng cường các hoạt
động và việc làm dựa nhiều vào tri thức; đổi mới thể chế, tháo gỡ các rào cản đối với dòng chảy
tri thức, hỗ trợ cho việc sáng tạo tri thức, đẩy mạnh quá trình đổi mới sáng tạo.
Mang lại tiềm năng cho các nước đang phát triển có thể rút ngắn quá trình công
nghiệp hóa bằng cách đi tắt, đón đầu, phát triển nhảy vọt lên công nghệ cao hơn.
11
Sáng tạo chính là bước đà thuận lợi cho những nước đang phát triển là không phải chi
quá tốn kém để phá hủy cái cũ thay thế cái mới. Khi cái mới ra đời, cái cũ bị mất ưu thế, bộc
lộ ra nhiều bất cập tồn tại bao nhiêu năm mà chưa giải quyết được.
Sáng tạo giúp mở ra cho các nước đang phát triển nhiều cơ hội trong việc nâng cao
trình độ công nghệ, năng lực sản xuất và cạnh tranh trong chuỗi giá trị toàn cầu. Các nước có
cơ hội để hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài hàng đầu trong lĩnh vực kinh tế số nói
riêng cũng như các lĩnh vực khác nói chung là rất lớn.
Công nghiệp 4.0 là cuộc cách mạng bùng nổ diễn biến rất nhanh, các doanh nghiệp Việt
cần hành động nhanh để thích ứng cũng như chấp nhận thay đổi phương cách quản trị, đối mặt
những cuộc “phá hủy sáng tạo” cũng như thay đổi về năng lực của con người để vươn lên.
của Nokia chiếm 40% thiết bị di động được phân phối toàn cầu). Không chỉ sản xuất các thiết
bị mang thương hiệu Nokia, tập đoàn đã phát triển quy mô sang dòng điện thoại cao cấp và
sang trọng với nhãn hiệu Vertu. Mặc dù tên thương hiệu con này ít người biết được là của
Nokia song những gì Vertu đóng góp cho tập đoàn mẹ cũng đã góp phần tăng trưởng mạnh mẽ
về doanh số.
Tháng 6/2006, Nokia đã liên doanh với Siemens thành lập nên công ty chuyên cung
cấp thiết bị mạng Nokia Siemens Networks và Nokia đã phụ thuộc rất nhiều vào công ty liên
doanh này.
Tuy nhiên, chính thời kỳ cột mốc hoàng kim này (từ năm 2008 trở đi), Nokia đã chính
thức tụt dốc với sự phát triển bởi cạnh tranh của các dòng smarphone mới ra đời. Có thể nói,
mặc dù đi trước về thế hệ điện thoại cảm ứng, song Nokia đã bị Apple vượt mặt một cách
ngoạn ngục bởi dòng điện thoại “điện dung đa điểm” và đây chính là điểm yếu của Nokia.
Mặc dù vậy, ảnh hưởng của đế chế Nokia vẫn giúp thương hiệu này duy trì trong tâm trí của
khách hàng với 1 nhãn hiệu bền, đa dạng về mẫu mã và thực sự phổ biến.
b) Tầm nhìn và sứ mạng của công ty
“The vision of nokia company is that rule on mobile world. And the mission is to
provide more cheapest and valuable mobiles to the people of world.”
Tầm nhìn của công ty Nokia là quy tắc trên thế giới di động. Và nhiệm vụ là cung cấp
điện thoại di động với giá rẻ nhất và có giá trị cho người dân của thế giới.
13
c) Chiến lược hoạt động
Chiến lược cấp công ty
Sau khi Apple nhúng tay vào thị trường, nhận thấy sự lớn mạnh của Apple cùng chiếc
smartphone iPhone sử dụng hệ điều hành iOS. Ngày 24/6/2008, Nokia đã chi 410 triệu USD
để mua nốt số cổ phần còn lại của Symbian, và công bố miễn phí hệ điều hành này cho tất cả
các hãng điện thoại khác, động thái này được coi là nước cờ “phòng vệ” của Nokia trước
những đối thủ mới đáng gờm.
Khi Apple kí kết hợp đồng với hãng viễn thông AT&T để giảm giá bán iPhone xuống còn
chú ý của các nhà điều hành - một vấn đề ngăn cản những hoạt động nghiên cứu và phát
triển (R&D) của Nokia.
14
Sau khi đảm nhận vị trí Tổng giám đốc của Nokia vào năm 2010, ông Stephen Elop
quyết định từ bỏ các hệ điều hành smartphone “tự chế” của Nokia để sử dụng nền tảng
Windows Phone của Microsoft. Theo ông Elop, bằng cách này, Nokia có thể cho ra đời dòng
điện thoại cạnh tranh với iPhone trong chưa đầy một năm, nhanh hơn nếu Nokia cứ bám lấy
phần mềm của riêng mình.
Tuy nhiên, điện thoại Windows Phone không được tiêu thụ mạnh. Nokia ngày càng lún
sâu vào khó khăn. Giữa tháng 6, ông Elop bị buộc phải tuyên bố sa thải thêm 10.000 nhân
viên và cắt giảm chi phí 1,7 tỷ USD ở bộ phận nghiên cứu và phát triển. Khi Elop đảm nhận
vị trí CEO vào năm 2010, Nokia đã tiêu tốn 5 tỷ euro mỗi năm vào hoạt động R&D, chiếm
30% của tổng số ngành công nghiệp điện thoại di động, theo nghiên cứu của Bernstein.
Chiến lược cấp kinh doanh
─
Chiến lược khác biệt hóa: Nhận thấy điện thoại sẽ dần trở nên phổ biến và thiết yếu.
Trong khi các đối thủ như Motorola đầu tư nâng cấp tính năng kỹ thuật của điện thoại,
Nokia lại đầu tư vào tính năng thời trang ví dụ như thiết kế đẹp hơn, nhiều màu sắc để
khách hàng lựa chọn, nhiều tính năng giải trí… Kết quả là Nokia đã dẫn đầu thị trường
từ việc khác biệt hoá mà ban đầu tưởng chừng như chẳng liên quan gì đến sản phẩm
mà họ kinh doanh. Trọng tâm của Nokia là tính sáng tạo và nhấn mạnh yếu tố bảo vệ
môi trường cũng là điểm khác biệt của Nokia so với các đối thủ cạnh tranh. Hơn nữa,
Nokia được yêu thích bởi tính bền, một trong các tính năng khác biệt của nó.
─
Chiến lược chi phí thấp nhất: Nokia đã tung ra nhiều dòng sản phẩm có giá tương đối
a) Sự hình thành phát triển của sản phẩm mới
Bảng 2. 1: Các dòng sản phẩm của Nokia
Dòng
Thời gian sản xuất
Dòng Mobira
1982 - 1990
Dòng ban đầu
1992 - 1999
Nokia 1xxx – Dòng Ultra basic
1996 - 2010
Nokia 2xxx – Dòng Basic
1994 - 2010
Nokia 3xxx – Dòng Expression
1997 - 2009
Nokia 5xxx – Dòng Active
1998 - 2010
2005 - 2011
Xseries
2009 - 2011
Dòng 4-digit
Dòng 3-digit
Dòng Worded
Điện thoại khác
từ 2011
Asha
2011 - 2014
Lumia
2011 - 2017
N-Gage – Điện thoại chơi game
2003 - 2004
Cardphones (PCMCIA)
2001 - 2003
hiệu model được ghép từ ngày ra mắt, tức 10/11. Đây là sản phẩm rất quan trọng có ảnh
hưởng sâu sắc đến sự phát triển của thế giới GSM về sau, tiến tới một thế giới với chuẩn
mạng di động chung. Nokia 1011 là chiếc điện thoại di động bán chạy nhất trong lịch sử, với
hơn 250 triệu máy được bán ra trên toàn cầu. Đặc biệt, chiếc điện thoại di động thứ 1 tỷ được
tiêu thụ của Nokia cũng chính là 1100, được bán ra tại Nigeria vào năm 2005.
─ Năm 1994: Nokia tích hợp đoạn nhạc chuông nổi tiếng của mình vào các điện thoại Nokia
2100 series.
─ Năm 1996: Nokia đưa hệ điều hành Symbian làm hệ điều hành nền tảng cho hầu hết các
thiết bị điện thoại di động của mình và cho ra đời chiếc smartphone đầu tiên (Nokia 8110,
một chiếc điện thoại nắp trượt hướng đến các doanh nhân). Cùng năm, Nokia tung ra
chiếc Communicator 9000, máy có màn hình 4,5″ (vẫn lớn hơn nhiều máy ngày nay), vi
xử lí 24MHz và bàn phím QWERTY vậy lý đầy đủ. Communicator 9000 sở hữu dạng mở
ngang thân máy.
─ Năm 1999: Nokia trình làng mẫu 8210 có ăn-ten gắn bên trong thân thiết bị – một tính
năng nay cực kì phổ biến ngày nay nhưng rất lạ lẫm vào năm 1999. Thiết bị này cũng có
trọng lượng rất nhẹ, chỉ 790g. Và mặc dù rất gọn gàng nhưng 8210 vẫn có những chức
năng cao cấp như cổng hồng ngoại để cho phép hai người cùng chơi chò bắt rắn (Snake)
huyền thoại. Nokia 3310, thiết bị tiếp nối của 3210, sở hữu nhiều đặc điểm thiết kế tương
đồng với 8210 và được thêm thắt một số chi tiết khác. Nhờ việc cân bằng giữa tính năng
và giá bán, Nokia đã bán được 125 triệu chiếc 3310 trên toàn thế giới. Mẫu máy này được
bán từ năm 2000 đến 2003.
─ Năm 2001: Nokia 7650 là chiếc điện thoại đầu tiên của Nokia chạy Symbian OS – hệ
điều hành mà rất nhiều smartphone sử dụng trong nhiều năm liền sau đó. Đây cũng là
điện thoại đầu tiên của Nokia có camera tích hợp. Máy sử dụng CPU 32-bit xung nhịp
104MHz dựa trên kiến trúc ARM-9, RAM 4MB và ROM 16MB.
─ Năm 2002: Nokia 6800 là một trong những thiết bị chứng minh khả năng sáng tạo không
ngừng nghỉ của Nokia. Thiết bị này có thể gập để tiết lộ một bàn phím QWERTY, còn khi
cần thì có thể xếp lại để trở về thân hình gọn gàng của một chiếc điện thoại thông thường.
Sau đó còn có những mẫu máy kế nhiệm như 6810, 6820, 6822.
tham gia vào vào sản xuất sản phẩm đang rất có tiền năng phát triển này. Trước sự cạnh
tranh gay gắt từ những đối thủ, Nokia dần mất đi vị trí dẫn đầu, những sản phẩm
smartphone tiếp theo không còn tạo được dấu ấn rõ nét. Nokia vẫn giữ được ngôi dẫn đầu
về thị phần cho đến hết năm 2010, dù doanh số rất cao nhưng dòng smartphone vẫn liên
tục suy giảm về thị phần.
Nokia N95, “sát thủ của iPhone”. Máy chạy Symbian và có một phần trượt ở bên trên để
lộ các phím điều khiển việc chơi nhạc, còn trượt xuống thì tiết lộ bàn phím T9. Sau đó,
Nokia tung ra mẫu N95 8GB với màu đen, hơn rất nhiều so với dung lượng 147,3MB của
phiên bản trước đó.
Nokia ra mắt N82, chiếc điện thoại chuyên chụp ảnh với đèn flash Xenon, cảm biến 5MP và
ống kính Carl Zeiss, được xem là mẫu máy có khả năng chụp ảnh tốt nhất trên thị trường
18
lúc mới ra đời. Máy thậm chí còn được Hiệp hội TIPA trao giải “thiết bị nhiếp ảnh di
động tốt nhất Châu Âu” hồi năm 2008.
─ Năm 2009: Nokia tung ra N97 với màn hình cảm ứng to như iPhone, có cả bàn phím trượt
dạng ngang. Thế nhưng máy không thành công vì nhiều lý do khác nhau. Đồng thời, Nokia ra
mắt chiếc máy tính xách tay Booklet 3G để hòa cùng xu thế netbook trên toàn cầu. Booklet
3G thực sự là một chiếc máy được làm rất cao cấp, từ nguyên liệu cho đến các kết nối. Là
chiếc netbook đầu tiên do Nokia sản xuất nên nó cũng mang tính chất di động cao với các kết
nối không dây lẫn có dây như: HDMI, WIFI chuẩn b/g/n, USB 2.0, và tất nhiên là khe gắn
SIM 3G… Nokia Booklet 3G còn được Nokia trang bị ổ cứng 120GB, vi xử lý Intel Atom
Z530, tốc độ 1.6GHz và đặc biệt là Windows 7. Đây là một chiến lược mạo hiểm vì nhảy vào
thị trường laptop, nơi mà các hãng điện tử khác đã chiếm lĩnh phần lớn thị phần và không
ngừng lớn mạnh, với tỷ lệ lãi cực thấp động thái này sẽ khiến cho lợi nhuận của Nokia càng
bị thâm hụt. Việc phải phân tán sức mạnh về tài chính, nhân lực khi phải căng sức để phát
triển các ngành hàng mới vốn đã là thế mạnh của đối thủ trước đó đã đẩy Nokia đã khó khăn
lại càng thêm rối rắm, mất định hướng.
đang xuất hiện trên Google Play có thể chạy tốt khi mang sang Nokia X Platform mà
không cần tinh chỉnh gì. Số 25% còn lại có thể được chuyển thể chỉ trong vòng 8 giờ
đồng hồ, là một bài thử nghiệm cho chiến lược điện toán đám mây.
─ Ngày 18/05/2016: Microsoft Mobile đã bán mảng kinh doanh điện thoại Nokia của mình cho
HMD Global , một công ty mới được thành lập bởi cựu giám đốc Nokia Jean-Francois
Baril và một nhà máy liên kết tại Việt Nam cho công ty con FIH Mobile của Foxconn.
b) Quá trình sản phẩm mới thay thế sản phẩm cũ
Ban đầu, Nokia sản xuất điện thoại mang chuẩn tiền di động "0G". Giai đoạn này, Nokia
sản xuất một loạt thiết bị di động nhưng nó giống radio hơn là điện thoại.
Năm 1987, Nokia cho ra mắt chiếc điện thoại cầm tay đầu tiên trên thế giới, so với chiếc
Mobira Senator (1982) nặng 9,8kg và Talkman (1984) nặng 5kg, thiết bị Mobira Cityman này
chỉ có trọng lượng 800g đã kèm pin. Mặc dù có giá cao, lên tới 5999 USD, nhưng máy vẫn
được tiêu thụ khá nhiều. Vào năm 1992, Nokia cho ra mắt Nokia 1011 là chiếc điện thoại di
động GMS (2G) đầu tiên trên thế giới.
Năm 1998, Nokia vượt lên trở thành hãng điện thoại bán chạy nhất nhờ các miễu điện thoại
c ó nhiều màu sắc đa dạng và nắp lưng có thể thay thế được gọi là Xpress-on. Năm 2001, Nokia
đã phát hành chiếc điện thoại chạy hệ điều hành Symbian (là hệ điều hành điện thoại thông
minh phổ biến nhất trên mức trung bình trên toàn thế giới cho đến cuối năm 2010).
Năm 2002, Nokia tích hợp thêm camera cho điện thoại đồng nghĩa với màn hình màu
với hệ điều hành Symbian phiên bản 6.1 trong chiếc Nokia 7650.
Năm 2003, Nokia có ra mắt chiếc Nokia 6800 với thiết kế bàn phím tách và gập thân,
khác hoàn toàn so với thiết kế dạng thanh đơn thuần từ trước đến nay của hãng. Vào quý 2
cùng năm, hãng ra mắt các phiên bản có hỗ trợ kết nối bluetooth, bộ nhớ có thể mở rộng cùng
tính năng chơi nhạc/video, có thẻ nhớ ngoài.
Cuối năm 2004, Nokia 7710 là thiết bị với cảm ứng đầu tiên của hãng đồng thời được
nâng cấp thẻ nhớ nhưng do chạy trên hệ điều hành Symbian 90 nên đã bị thu hồi.
Qua năm 2005, Nokia gây bất ngờ khi cho ra mắt N90 – dòng chuyên giải trí đa phương
0
Khi Apple và Google ra mắt hai hệ điều hành iOS và Android thì hãng vẫn trung thành
với hệ điều hành lỗi thời là Symbian. Hệ điều hành này yêu cầu phải viết lại toàn bộ mã cho
mỗi mẫu điện thoại mới nên nhiều nhà phát triển ứng dụng chán ghét từ lâu. Để khắc phục
vấn đề, nhân viên của Nokia đã phát triển một hệ điều hành thay thế là Maemo và được đổi
tên thành MeeGo vào năm 2010. Tuy nhiên, ban lãnh đạo Nokia lại không quá mặn mà để
phát triển hệ điều hành này, MeeGo bị bỏ rơi và quên lãng. Vậy tại sao Nokia không thử sản
xuất điện thoại Android sau khi từ bỏ MeeGo. Câu trả lời là Microsoft đã trả hàng tỷ USD để
Nokia chỉ sử dụng duy nhất một hệ điều hành là Windows Phone. Tuy nhiên, Windows Phone
lại không thể cạnh tranh được với Android và iOS trên rất nhiều phương diện.
Cuối năm 2010, với một CEO mới và sự thay đổi chiến lược khi không còn coi Symbian
là hệ điều hành chủ đạo nữa, Nokia đã có một quyết định táo bạo: bắt tay với Microsoft sản
xuất dòng điện thoại Lumia chạy trên hệ điều hành Windows Phone nhằm cạnh tranh với
iPhone và các loại smartphone chạy Android.
21
Biểu đồ 2. 1: Doanh số điện thoại di động Nokia kể từ khi bắt đầu tuyên bố hợp tác chiến
lược với Microsoft vào 11/2/2011
Đơn vị: Triệu USD
Nguồn: Business Insider.
Mặc dù đã bán được 2,9 triệu điện thoại Lumia dùng Windows Phone trong Q3/2012
nhưng Nokia vẫn lỗ 755 triệu USD trong tổng doanh thu 9,4 tỉ USD của công ty. Tổng cộng,
Nokia đã bán được 10,2 triệu smartphone trong năm 2012, trong khi Samsung đã bán được
50,5 triệu smartphone và Apple là 26 triệu.
Điện thoại Windows Phone không được tiêu thụ mạnh. Nokia ngày càng lún sâu vào
khó khăn. Giữa tháng 6, ông Elop bị buộc phải tuyên bố sa thải thêm 10.000 nhân viên và cắt
giảm chi phí 1,7 tỷ USD ở bộ phận R&D. Khi Elop đảm nhận vị trí CEO vào năm 2010,
Nokia đã tiêu tốn 5 tỷ euro mỗi năm vào hoạt động R&D, chiếm 30% của tổng số ngành công