Công cụ phòng ngừa cho thị trường chứng khoán Việt Nam - Pdf 66

Mục lục
 LỜI MỞ ĐẦU Trang
Chương 1 Cấu trúc thị trường quyền chọn chứng khoán
1.1. Quyền chọn chứng khoán 1
1.2. Đặc điểm quyền chọn chứng khoán 4
1.3. Thực hiện quyền chọn 4
1.4. Các thành phần tham gia giao dịch quyền chọn 7
1.5. Chi phí giao dịch quyền chọn 7
1.6. Một số thị trường quyền chọn chứng khoán trên thế giới 8
1.6.1 Thị trường Chicago Board Options Exchange (CBOE) 8
1.6.2 Thị trường Tokyo (TSE) 18
Chương 2 Thị trường chứng khoán Việt Nam và quyền chọn chứng
khoán

HOSE: Sàn giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh
HASTC: Sàn giao dịch chứng khoán Hà Nội
CP: cổ phiếu

MỤC LỤC HÌNH, BẢNG:
Trang
Hình 1.1.1: Quyền chọn mua cổ phiếu ..................................................................... 2
Hình 1.1.2: Quyền chọn bán cổ phiếu ...................................................................... 3
Hình 1.1.3: Đồ thị quyền chọn mua - quyền chọn bán ............................................. 3
Hình 1.3.1: Sơ đồ giao dịch quyền chọn .................................................................. 6
Hình 2.1.1: Tỷ lệ tăng trưởng GDP 2000 - 2007 của Việt Nam ................................ 23
Hình 2.1.2: Tốc độ tăng trưởng tổng mức vốn hoá thị trường từ 2005 – 2007 .......... 23
Hình 2.1.3: Biểu đồ thể hiện số lượng thành viên tham gia nhập TTCK năm 2007 .. 24
Hình 2.1.4: Biểu đồ thể hiện sự gia tăng giá trị giao dịch tại hai sàn năm 2007 ........ 24
Hình 2.2.1.1: Biểu đồ VN-INDEX từ tháng 6/2006 đến tháng 3/2008 ..................... 28
Hình 2.2.2.1: Bảng thể hiện tỷ suất sinh lợi và mức độ dao động của cổ phiếu từ tháng
8/2004 đến tháng 3/2008 ......................................................................................... 28
Bảng 3.1.1.1: Các mã cổ phiếu có thể giao dịch quyền chọn .................................... 41
Hình 3.2.3.1: Cơ chế giao dịch trực tiếp .................................................................. 46
Hình 3.2.3.2: Cơ chế giao dịch gián tiếp thông qua nhà môi giới ............................. 47
Hình 3.2.4.1: Bảng tóm tắt các nguyên tắc định giá quyền chọn .............................. 49
Lời mở đầu


Nền kinh tế Việt Nam đã trải qua bao thăng trầm trong lịch sử, một sự kiện được đánh
dấu là mở cửa trên đường hội nhập kinh tế thế giới, đặc biệt là gia nhập tổ chức thương
mại thế giới WTO, ngày 28 tháng 7 năm 2000 với hồi chuông vang lên từ sở giao dịch
chứng khoán TP.HCM đã đánh dấu một bước ngoặc trong lịch sử với phiên giao dịch
chứng khoán đầu tiên đã được thực hiện. Khi bắt đầu chỉ có hai công ty niêm yết với
mã cổ phiếu là REE và SAM. Trải qua bao sóng gió trên thị trường và trên lộ trình cổ

vào một ngày trong tương lai với giá đã đồng ý vào ngày hôm nay.
Người mua quyền chọn trả cho người bán quyền chọn một khoản tiền gọi là phí quyền chọn.
Người bán quyền chọn sẵn sàng bán hoặc tiếp tục nắm giữ tài sản theo các điều khoản của hợp
đồng nếu người mua muốn thế.
Hợp đồng quyền chọn có hai loại: quyền chọn mua và quyền chọn bán.
Quyền chọn mua cổ phiếu
Hợp đồng quyền chọn mua là thỏa thuận cho phép người mua có quyền mua tài sản từ người
bán với mức giá định sẵn vào ngày đáo hạn hợp đồng.
Người mua quyền chọn mua sẽ trả cho người bán quyền chọn mua một khoản tiền, gọi là giá
trị quyền chọn hay phí quyền chọn và người mua quyền chọn mua sẽ có quyền được mua
nhưng không bắt buộc phải mua một lượng tài sản nhất định (chứng khoán, ngoại tệ, hàng
hoá…) theo một mức giá đã được thoả thuận trước vào một ngày xác định trong tương lai
(theo kiểu châu Âu) hoặc được thực hiện trước ngày đó (theo kiểu Mỹ). Người bán quyền
chọn mua nhận được tiền từ người mua quyền chọn mua nên họ có trách nhiệm phải bán một
số lượng cổ phiếu nhất định theo một giá cả đã được thoả thuận trước vào một ngày xác định
trong tương lai hoặc được thực hiện trước ngày đó, khi người mua quyền chọn mua muốn thực
hiện quyền được mua.
Hình 1.1.1 Quyền chọn mua

Trên đồ thị ta cũng dễ dàng thấy được, khi mua quyền chọn mua cổ phiếu nếu giá thực hiện ở
80.000đ/cp và phí quyền chọn là 2000đ/cp, điểm hoà vốn khi giá cổ phiếu trên thị trường tăng
lên 82.000đ/cp. Người mua quyền chọn có vùng lời không giới hạn và lỗ có giới hạn còn
người bán quyền chọn thì ngược lại. Ngoài ra người mua quyền chọn cũng có thể bán hợp
đồng quyền chọn của mình khi hợp đồng chưa đáo hạn đối với quyền chọn mua kiểu Mỹ.
Nhưng nếu giá cổ phần ABC không tăng lên theo dự đoán của bạn, nó giảm liên tục, cho tới
ngày đến hạn trên hợp đồng giá vẫn giảm thì bạn sẽ không thực hiện quyền chọn mua của
mình và bạn chỉ lỗ phí quyền chọn mà thôi.
Điểm hoà vốn quyền chọn mua = Giá thực hiện + Phí quyền chọn mua
82.000 đ = 80.000 đ + 2.000 đ
Quyền chọn bán cổ phiếu

- Không ràng buộc nghĩa vụ đối với bên mua hợp đồng quyền chọn phải mua hay bán
một lượng cổ phiếu nhất định khi hợp đồng quyền chọn đến hạn.
- Người mua có thể thực hiện quyền hoặc bán quyền cho người khác hay không thực
hiện quyền. Để thực hiện quyền này, khi ký kết hợp đồng người mua phải trả phí quyền chọn,
giá trong hợp đồng gọi là giá thực hiện và ngày định trong hợp đồng là ngày đáo hạn. Tương
tự như vậy đối với người bán trong hợp đồng quyền chọn bán.
- Tùy theo từng loại mà hợp đồng quyền chọn có thể thực hiện tại bất kỳ thời điểm nào
trước ngày đáo hạn hoặc đến ngày đáo hạn.
1.3. Thực hiện quyền chọn.
Đặt lệnh mở: Sau khi mở tài khoản ở công ty môi giới, khi tham gia giao dịch các nhà đầu tư.
Một cá nhân đặt lệnh quyền chọn đầu tiên phải mở một tài khoản ở công ty môi giới. Sau đó
cá nhân này sẽ đặt lệnh thông qua người môi giới. Người môi giới gởi lệnh đến người môi giới
sàn giao dịch của công ty trên sàn giao dịch quyền chọn. Tất cả các lệnh phải được thực hiện
trong giờ giao dịch bình thường, trong trường hợp có thay đổi trung tâm giao dịch sẽ thông
báo.Các giao dịch được thực hiện tại các trạm giao dịch thiết kế cho các quyền chọn riêng biệt.
Một nhà giao dịch có thể đặt nhiều lệnh:
 Lệnh thị trường chỉ thị cho các nhà môi giới trên sàn giao dịch nhận giá tốt nhất.
 Lệnh giới hạn quy định cụ thể mức giá cao nhất có thể trả để mua hoặc mức giá thấp
nhất chấp nhận bán, các lệnh giới hạn có thể có giá trị cho đến khi bị huỷ hoặc có giá
trị trong ngày.
 Lệnh dừng ở mức giá thấp hơn mức giá hiện tại.
 Lệnh tất cả hoặc không cho phép người môi giới thực hiện một phần lệnh giá này, và
phần còn lại với giá khác.
 Lệnh tất cả hoặc không, cùng giá yêu cầu người môi giới hoặc là thực hiện toàn bộ
lệnh với cùng một mức giá hoặc là không thực hiện lệnh.
Vai trò của trung tâm thanh toán: Sau khi các giao dịch được thực hiện. Trung tâm thanh toán
(Công ty thanh toán bù trừ quyền chọn OCC) là một công ty độc lập đảm bảo cho việc thực
hiện của người bán. OCC là trung gian cho mỗi giao dịch. Người mua thực hiện giao dịch
không hướng vào người bán mà hướng vào OCC vì vậy OCC thực hiện một trách nhiệm quan
trọng là bảo đảm cho việc thực hiện của người bán quyền. Người mua không cần biết đến hay

người mua.
(7a) (7b) Người mua (người bán) ký gửi phiếu quyền chọn cho người môi giới.
(8a) (8b) Người môi giới của người mua và người bán ký gửi phí quyền chọn và tiền ký quỹ
cho công ty thanh toán của mình.
(9a) (9b) Công ty thanh toán của người môi giới của bên mua và bên bán ký gửi phí quyền
chọn và tiền quỹ cho trung tâm thanh toán bù trừ.
1.4. Các thành phần tham gia giao dịch quyền chọn.
Nhà tạo lập thị trường: Vai trò của nhà tạo lập thị trường trên sàn giao dịch là đảm bảo cho các
lệnh mua bán của các nhà đầu tư công chúng luôn luôn được khớp lệnh, khi các nhà đầu tư
mua hay bán quyền chọn mà không có nhà đầu tư khác bán hay mua quyền chọn thì nhà tạo
lập thị trường sẽ thực hiện giao dịch đó.
Nhà tạo lập thị trường về bản chất là một doanh nghiệp, các nhà tạo lập thị trường sử dụng đa
dạng các biện pháp kỹ thuật để giao dịch quyền chọn một cách thông minh và để có lợi nhuận.
Môi giới sàn giao dịch: thực hiện giao dịch cho các thành viên công chúng có thể nhận được
một mức lương thuần hoặc nhận hoa hồng trên mỗi lệnh thực hiện được. Nhà môi giới trên sàn
không quan tâm đến việc giá tăng hay giảm. Tuy nhiên một nhà môi giới sẽ làm việc mẫn cán
để đạt được một kết quả tốt nhất cho khách hàng.
Nhân viên giữ sổ lệnh (OBO): đảm bảo cho lệnh giới hạn của công chúng luôn luôn được thực
hiện trước lệnh của các nhà tạo lập thị trường.
Các hệ thống giao dịch quyền chọn: Các sàn giao dịch đã đưa các tiện ích của công nghệ hiện
đại vào hoạt động xử lý lệnh của họ, sử dụng nhiều phương tiện điện tử để đẩy nhanh tốc độ
thực hiện lệnh. Ví dụ hầu hết các nhà kinh doanh của CBOE hiện nay đều sử dụng thiết bị đầu
cuối cầm tay thay vì cấp thẻ viết tay hoặc các mảnh giấy để gửi theo dõi các giao dịch của
mình.
Những nhà kinh doanh quyền chọn trên sàn: Các tổ chức lớn như quỹ hưu bổng, quỹ uỷ thác,
quỹ hỗ tương, số lượng các tổ chức nước ngoài giao dịch quyền chọn cũng tăng lên. Ngoài ra
còn có nhiều nhà đầu tư có tổ chức lớn, dĩ nhiên là nhiều cá nhân – giàu có hoặc không – mua
bán quyền chọn. Số tiền tham gia giao dịch quyền chọn trên sàn khá nhỏ nên hầu hết bất cứ ai
cũng có thể tham gia.
1.5. Chi phí giao dịch quyền chọn.

chọn thường giao dịch trực tiếp với đối tác.
Chênh lệch giá mua bán: Mức chênh lệch do nhà tạo lập thị trường đưa ra là một khoản phí
giao dịch đáng kể. Tuy nhiên điều này không có nghĩa là nhà đầu tư có thể kiếm lời. Giá
quyền chọn mua có thể tăng giá đáng kể trước khi quyền chọn được bán đi, nhưng nếu khoản
chênh lệch không đổi, giá hỏi mua phải tăng lên ít nhất bằng khoản chênh lệch giá mua – bán
rồi mới có thể kiếm được lợi nhuận.
Các chi phí giao dịch khác: Ngoài ra không có các chi phí như: tiền ký quỹ và thuế. Hầu hết
các nhà kinh doanh quyền chọn đều giao dịch cổ phiếu. Vì vậy chi phí giao dịch cổ phiếu cũng
là nhân tố ảnh hưởng chi phí giao dịch quyền chọn.
Yêu cầu ký quỹ đối với quyền chọn cổ phiếu: Khoản ký quỹ ban đầu thấp nhất đối với mua và
bán khống cổ phiếu là 50%. Mức ký quỹ duy trì thấp nhất là 25%. Nhiều công ty môi giới
cộng thêm khoản 5% hay hơn nữa với các mức yêu cầu này.
1.6. Một số thị trường quyền chọn chứng khoán trên thế giới
1.6.1. Thị trường Chicago Board Options Exchange (CBOE).
Thông tin về thị trường Quyền chọn
Trong thập niên 80 thị trường quyền chọn đối với ngoại tệ, chỉ số chứng khoán và hợp đồng
future đã phát triển ở Mỹ. Thị trường CBOE trao đổi quyền chọn chỉ số chứng khoán của S &
P 100 và S & P 500. Thị trường chứng khoán Mỹ giao dịch quyền chọn về chỉ số chứng khoán
của một số thị trường chính, và thị trường chứng khoán New York giao dịch chỉ số NYSE.
Hầu hết các thị trường đều giao dịch quyền chọn đối với những hợp đồng future. Thị trường
CBOE giao dịch quyền chọn đối với hợp đồng tương lai về các sản phẩm nông nghiệp. Hiện
nay thị trường quyền chọn tồn tại khắp nơi trên thế giới.
Từ khi ra đời, thị trường quyền chọn của Mỹ, đặc biệt là sàn giao dịch quyền chọn CBOE phát
triển mạnh. Theo những tiêu chuẩn của sàn CBOE, một hợp đồng quyền chọn được xác định
rõ bởi 6 phần : loại quyền chọn, cổ phiếu hoặc tài sản gốc, số lượng hợp đồng, cách thức thực
hiện hợp đồng, giá thực hiện và ngày đáo hạn. Tiêu chuẩn của những phần này như sau:
 Tiêu chuẩn của cổ phiếu được giao dịch quyền chọn
Những cổ phiếu được chọn ra từ sàn giao dịch làm cơ sở cho quyền chọn phải chắc chắn tuân
theo những tiêu chuẩn:
- Giá của cổ phiếu cơ sở phải thấp nhất là $7.50 trong 1 thời kỳ 3 tháng niêm yết.

Tháng 2, tháng 3, tháng 4, tháng 7
Tháng 2, tháng 3, tháng 5, tháng 8
Tháng 2, tháng 3, tháng 6, tháng 9
Ngày đáo hạn thường là ngày thứ bảy sau ngày thứ 6 của tháng đáo hạn cho quyền chọn cổ
phiếu và quyền chọn chỉ số được niêm yết trên thị trường Mỹ. Ngày cuối cùng trên hợp đồng
có thể được giao dịch vào ngày làm việc ngay trước ngày đáo hạn (thường là ngày thứ 6 của
tháng có ngày đáo hạn).
Những điểm lưu ý khi tham gia trên sàn CBOE
Một phần quan trọng trên thị trường quyền chọn đó là nhà tạo lập thị trường. Cấu trúc và
những cơ quan riêng biệt của thị trường quyền chọn cổ phiếu của Mỹ phát thảo những mục
sau:
 Đặt lệnh
Có hai loại lệnh mua và bán là lệnh thị trường (market order) và lệnh giới hạn (limit order).
Lệnh thị trường là một cấu trúc mua hay bán tại mức giá tốt nhất ngay khi lệnh tới sàn giao
dịch. Lệnh giới hạn là cấu trúc mua hay bán chỉ tại mức giá đã định trước hoặc tốt hơn. Lệnh
giới hạn là được định rõ là lệnh trong ngày đặt lệnh hay GTC. Lệnh trong ngày tự động hết
hiệu lực vào cuối ngày giao dịch nếu như nó không được khớp. Một lệnh GTC vẫn có tác
dụng cho đến khi nó được thực hiện, huỷ bỏ bởi khách hàng hay quyền chọn hết hiệu lực.
Lệnh spread là lệnh mua hoặc bán đồng thời hai quyền chọn như là một sự kết hợp. Giao dịch
mở là một cách để tăng số lượng quyền chọn mua hay bán trong một tài khoản. Giao dịch
đóng bù lại những giao dịch ưu tiên và bao gồm quyền chọn bán để làm giảm bớt số lượng
hợp đồng trong một vị thế bán hiện tại hoặc là người mua quyền chọn để giảm bớt số lượng
hợp đồng trong vị thế bán hiện tại.
 Giới hạn vị thế
Trung tâm giao dịch sẽ quy định tổng số lượng quyền chọn lớn nhất đối với một cổ phiếu cơ
sở mà một cá nhân riêng lẽ có thể mua hoặc bán. Giới hạn này tương ứng với số lượng cổ
phiếu đang lưu hành và lượng giao dịch của cổ phiếu đó trong 6 tháng trước và hiện tại là
25000, 20000, 10500, 7500, 4500 hợp đồng. Giới hạn này áp dụng cho bất kỳ hợp đồng kết
hợp nào mà được lập trên cùng một thị trường.
Giới hạn vị thế thường là số lượng hợp đồng lớn nhất trên cùng một thị trường mà có thể đáo

cách duy trì thống kê và giao dịch với những tài khoản họ sở hữu. Với vai trò là nhân viên giữ
sổ lệnh, họ thực hiện nhiệm vụ của người môi giới bằng cách chấp nhận và thực hiện những
lệnh giới hạn của khách hàng. Tuy nhiên, không giống như nhân viên giữ sổ lệnh tại CBOE,
chuyên gia không bị bắt buộc công bố lệnh giới hạn đến những thành viên khác. Một đặc điểm
khác của hệ thống những nhà chuyên biệt là sự có mặt của những người giao dịch tài sản khác,
họ tự giao dịch cho chính họ và cố gắng để thu được lợi nhuận từ việc mua hay bán quyền
chọn. Một số sàn quyền chọn chính trên thế giới như là Amsterdam Options Exchange (AEX
Options) and the Australian Stock Exchange, Derivatives (ASXD), cũng có hệ thống giao dịch
và đấu giá như nhau.
Tuy nhiên, những sàn giao dịch lớn khác như là Swiss Options & Financial Futures Exchange
(SOFFEX), Deutsche Terminborse (DTB), OM Stockholm, và Marche des Options
Negociables de Paris (MONEP), sử dụng hệ thống bảng điện tử. Hệ thống điện tử thay thế cho
đấu giá công khai trong sàn giao dịch với hệ thống đặt lệnh, gởi lệnh từ xa, và khớp lệnh. Hệ
thống giao dịch điện tử rẻ hơn so với đấu giá công khai bởi vì hệ thống này không cần có một
toà nhà rộng để đặt sàn giao dịch và cần ít nhân viên hơn. Những sàn giao dịch phái sinh mới
hầu như sử dụng hệ thống này vì chúng cung cấp hiệu quả và năng suất để bắt đầu hoạt động.
Sàn giao dịch Mỹ được dự đoán trong tương lai có khả năng tiếp tục với phương thức đấu giá
mở, và sẽ tiếp tục phát triển những sản phẩm phái sinh.
 Thanh toán, trả tiền, và trung tâm thanh toán bù trừ (OCC)
Trung tâm thanh toán bù trừ cung cấp yêu cầu khả năng thanh toán tiền mặt cho hoạt động trên
thị trường thứ cấp bởi vì người mua hay người bán đều mong muốn quyền chọn của mình
được giao dịch đầu tiên.
Như là một thành viên đối lập trong mỗi giao dịch, trung tâm thanh toán bù trừ bảo đảm mối
quan hệ của tất cả các hợp đồng và theo cách đó chuyển dịch rủi ro của người tham gia vào thị
trường cho trung tâm thanh toán bù trừ.
Trung tâm thanh toán bù trừ phục vụ riêng cho thị trường quyền chọn cổ phiếu của Mỹ là
Option Clearing Corporation (OCC). OCC là một công ty được sở hữu như nhau bỡi 4 trung
tâm giao dịch quyền chọn cổ phiếu lớn nhất: AMEX, CBOE, PHLX, và Pacific Stock
Exchange (PCX).
Sau một giao dịch được thực hiện trên sàn giao dịch, điều kiện thoả thuận của giao dịch phải

trong khoảng thời gian từ 10giờ sáng đến 8 giờ tối.
Khi trung tâm OCC chấp nhận thông báo thực hiện, quyền chọn chỉ định ngẫu nhiên một hoặc
nhiều thành viên thanh toán có cùng vị thế quyền chọn. Thành viên được chỉ định sẽ nhận
được thông báo vào ngày làm việc đầu tiên sau khi trung tâm OCC nhận được thông báo thực
hiện. thành viên thanh toán ấn định một quyền chọn trong số những quyền chọn ngắn hạn.
 Phí hoa hồng và phí giao dịch.
Nhân viên môi giới quyền chọn sẽ tính phí hoa hồng cho những dịch vụ như là thực hiện lệnh
của khách hàng, quản lý tài khoản của khách hàng, cung cấp báo cáo giao dịch và tư vấn.
Khách hàng trả phí hoa hồng khi:
o Quyền chọn được mua hay bán để xác minh vị thế của quyền chọn
o Quyền chọn được mua hay bán để đóng vị thế hiện tại.
o Quyền chọn đáo hạn. Một quyền chọn mua hay bán đáo hạn cần phải trả phí
hoa hồng trên cổ phiếu được mua hay bán tại mức giá thực hiện. Tương tư vậy, người bán
quyền chọn mua hay quyền chọn bán cần phải trả phí hoa hồng cho cổ phiếu mua hay bán vào
mức giá thực hiện.
Không cộng thêm phí hoa hồng vào số tiền phải trả nếu quyền chọn được thực hiện. Phí hoa
hồng mà nhà đầu tư trả cho người môi giới cho giao dịch quyền chọn là khoảng từ $1 đến
$3/hợp đồng, nhưng cũng có thể thương lượng và thay đổi tuỳ người môi giới. Điều này phụ
thuộc vào mối quan hệ giữa khách hàng và người môi giới và phụ thuộc và kích cở của giao
dịch, tỷ lệ phần trăm chi phí sẽ giảm khi giá trị của hợp đồng tăng. Những nhà đầu tư nhỏ,
giao dịch thông qua tài khoản của người môi giới luôn trả phí hoa hồng thấp hơn khi tổng giá
trị giao dịch tăng lên nhưng việc bán lẻ thường không thể thương lượng được. Điển hình là,
phí trả cho 1 hợp đồng lẻ là $25, $8 cho 10 hợp đồng lẻ, $5 cho 20 hợp đồng lẻ hoặc hơn.
Chi phí giao dịch khác là mức chênh lệch giá đặt mua bán. Nhà tạo lập thị trường và những
chuyên gia trên sàn giao dịch quyền chọn được yêu cầu mua bán quyền chọn từ chính những
nhà đầu tư của họ. Để bù đắp cho rủi ro mà họ nhận được khi thực hiện dịch vụ này, họ mua
tại giá thấp hơn mức giá mà họ bán, điều này được gọi là mức chênh lệch giá đặt mua bán.
Chênh lệch lớn nhất cho phép được thiết lập bởi sàn giao dịch và phụ thuộc vào giá quyền
chọn theo biểu sau:
Giá quyền chọn Chênh lệch lớn nhất

Yêu cầu ký quỹ được xác định rõ trong việc sử dụng những mô hình thống kê và được thiết kế
đủ lớn để đảm bảo rằng sự sụt giảm trong giá trị của vị thế trong cả 7 ngày kinh doanh vượt
qua chỉ 5% lượng ký quỹ của các tác động có thể xảy ra.
Yêu cầu ký quỹ thay đổi thường xuyên vì những biến số rủi ro dùng để tính toán cũng thay
đổi. Bởi vậy, thật khó khăn để lập một danh sách những điều luật ký quỹ cho tất cả khách
hàng và cho mỗi vị thế. Tuy nhiên, cũng phải ký quỹ một mức thấp nhất nào đó cho hầu hết
các hợp đồng quyền chọn.
1.6.2 Thị trường Tokyo (TSE)
Thị trường chứng khoán Tokyo ra đời 1878 thuộc sự quản lý của Sở chứng khoán Tokyo
(Tokyo Stock Exchange). Năm 1943 – 1945 Sở giao dịch chứng khoán đóng cửa do thế chiến
thứ II, cho đến năm 1949 luật chứng khoán và Sở giao dịch chứng khoán mới hoạt động trở
lại, Tokyo Stock Exchange đứng thứ 2 trên thế giới về doanh số sau NYSE.
Trên TSE, việc giao dịch, mua bán chứng khoán được quy định dựa trên các nguyên tắc cơ
bản quan trọng nhất là:
 Nguyên tắc công khai: công khai về hoạt động của người phát hành; các loại chứng
khoán được chào bán, đặt mua, giá cả, số lượng chứng khoán được mua bán...
 Nguyên tắc trung gian mua bán: mọi hoạt động mua bán chứng khoán đều phải qua
môi giới là các công ty chứng khoán được quyền hoạt động trên TSE (TSE có 125 công ty
chứng khoán, trong đó có 25 công ty nước ngoài để đảm bảo sự tin cậy của thị trường, tránh
sự giả mạo; lừa đảo.)
 Nguyên tắc tập trung: có nghĩa là tập trung tất cả mọi đơn đặt hàng, đơn chào bán TSE
để đảm bảo hình thành giá cả trung thực, hợp lý.
 Nguyên tắc đấu giá: bao gồm quyền ưu tiên giá (ưu tiên giá chào bán thấp nhất và giá
đặt mua cao nhất) và quyền ưu tiên về thời gian.
Sau khi đưa hệ thống giao dịch bằng máy tính chính thức đi vào hoạt động (ngày 18/03/1991).
Hiện nay, các cổ phiếu trên TSE vẫn được giao dịch theo hai phương thức khác nhau: giao
dịch tại sàn và thông qua hệ thống máy tính.
Trên TSE, hầu hết các giao dịch mua bán chứng khoán được thanh toán vào ngày làm việc thứ
3 sau ngày giao dịch (T + 3).
Hiện nay, Nhật Bản có 8 Sở giao dịch chứng khoán theo thứ tự từ Bắc xuống Nam là:

thông tin này thông qua mục tiêu đảm bảo sự minh bạch thông tin.
Lịch giao dịch trên TSE cho hàng tháng cho các được công bố vào đầu năm: Tham khảo phụ
lục 4
Trên thị trường chứng khoán Tokyo thông tin giao dịch và ngày đáo hạn trên các hợp đồng
quyền chọn được công khai cụ thể:
Hợp đồng theo tháng: 2 tháng gần nhất trong quý (tháng 3, 6, 9, 12 và xoay vòng) và 2 tháng
tiếp theo.
Ngày giao dịch đầu tiên: Ngày làm việc sau ngày đáo hạn của hợp đồng trong tháng trước đó.
Ngày giao dịch cuối cùng của hợp đồng hay ngày đáo hạn: Trước ngày thứ 6 của tuần thứ 2
trong tháng (hoặc ngày làm việc trước thứ 6 tuần thứ 2 nếu thứ 6 là ngày nghỉ lễ do Nhà nước
quy định).
Ngày thanh toán: Khi giao nhận cổ phiếu cơ sở và thanh toán hoặc nhận tiền mặt được thực
hiện vào ngày làm việc thứ 4 sau ngày đáo hạn.
Giới thiệu đến hệ thống khớp lệnh tự động (give-up)
Trong hệ thống này bao gồm một thành viên giao dịch và thành viên thực hiện thanh toán bù
trừ (“ETP”: executing trading participant và “CTP”: clearing trading participant).
Bộ phận “Take-up” trong hệ thống sẽ đo lường khi CTP đồng ý thực hiện thanh toán bù trừ
cho các hoạt động quyền chọn hay giao sau được huỷ bỏ bởi ETP.
Một CTP: là một thành viên giao dịch, thành viên này sẽ công bố có tiếp tục khi thành viên đó
đã đồng ý thực hiện thanh toán bù trừ của hoạt động quyền chọn hoặc giao sau, và thông báo
tiếp tục không chấp nhận khi thành viên không đồng ý thực hiện thanh toán bù trừ.
Mục đích của hệ thống khớp lệnh tự động: Khi các nhà đầu tư uỷ thác cho các thành viên giao
dịch các hợp đồng quyền chọn và giao sau, thanh toán bù trừ (quản lý quyền lợi công khai,
thanh toán hay nhận về khoảng chênh lệch bằng tiền mặt hay là cổ phiếu) phải được thực hiện
bởi các thành viên tương tự. Tuy nhiên, khi có nhu cầu từ các nhà đầu tư thực hiện sự uỷ thác
đến một vài thành viên giao dịch khác để thống nhất về việc thanh toán bù trừ để giảm gánh
nặng tài chính cũng như khoảng chênh lệch biên yêu cầu. Trái lại, cũng có nhu cầu từ các nhà
đầu tư phân quyền thực hiện thanh toán bù trừ theo mục đích giao dịch.
Sở giao dịch chứng khoán Tokyo đã quyết định giới thiệu hệ thồng “Give-up” được sử dụng
rộng rải trong giao dịch hợp đồng quyền chọn và giao sau để các nhà đầu tư có thể chọn thành

huy động vốn trung và dài hạn cho hoạt động kinh tế.
Nhận thức rõ việc xây dựng TTCK là một nhiệm vụ chiến lược có ý nghĩa đặc biệt quan trọng
đối với tiến trình xây dựng và phát triển đất nước, trước yêu cầu đổi mới và phát triển kinh tế,
phù hợp với các điều kiện kinh tế – chính trị và xã hội trong nước và xu thế hội nhập kinh tế
quốc tế, trên cơ sở tham khảo có chọn lọc các kinh nghiệm và mô hình TTCK trên thế giới,
TTCKVN đã ra đời.mSự ra đời của thị trường chứng khoán Việt Nam được đánh dấu bằng
việc đưa vào vận hành Trung tâm giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh ngày
20/07/2000 và thực hiện phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/07/2000.
Tuy ra đời từ năm 2000 nhưng TTCKVN thực sự phát triển và trở thành nguồn huy động vốn
lớn trong nền kinh tế kể từ năm 2005 trở lại đây. Với mức độ gia tăng GDP luôn duy trì ở mức
7%-8%, nền kinh tế Việt Nam luôn nằm trong tình trạng phát triển nhanh luôn cần có những
nguồn vốn lớn đề tài trợ cho các hoạt động của doanh nghiệp.
Hình 2.1.1 Biểu đồ tốc độ tăng trưởng GDP 2000-2007 ở Việt Nam
0,00%
1,00%
2,00%
3,00%
4,00%
5,00%
6,00%
7,00%
8,00%
9,00%
năm
2000
năm
2001
năm
2002
năm

Hình 2.1.2 Tốc độ tăng trưởng mức vốn hoá thị trường từ năm 2005 – 2007

Tuy nhiên con số này xem như còn rất khiêm
tốn nếu so với các nước trong khu vực và
trên toàn thị trường thế giới.
Trong năm 2007, 179 công ty cổ phần đã
phát hành ra thị trường 2,46 triệu cổ phiếu
(tương đương 3 tỷ USD), tăng 26 lần so với năm
2006. Uỷ ban chứng khoán nhà nước cũng đã phát hành thành công 3,468
triệu trái phiếu (tương đương 235 triệu USD) và 25 triệu chứng chỉ quỹ đầu tư (tương
đương15,6 triệu USD). Tính đến cuối năm 2007, có tất cả 80 công ty chứng khoán được phép
thành lập, trong đó có 68 công ty tại Trung tâm giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí
Minh và Hà Nội. Ngoài ra, theo báo cáo của uỷ ban chứng khoán nhà nước thì vẫn còn khoảng
70 đơn xin thành lập công ty chứng khoán đang chờ xét duyệt thông qua.
Hình 2.1.3 Biểu đồ thể hiện số lượng thành viên gia nhập TTCKVN năm 2007
Sự thay đổi của các thành viên trong thị trường chứng khoán
Việt Nam
193
55
18
6
256
80
24
8
0
50
100
150
200

Giai đoạn trước tháng 5 năm 2006: mặc dù thị trường đã đi vào hoạt động khá lâu nhưng ít
mấy ai quan tâm tới cổ phiếu, quá trình cổ phần hoá chậm chạp của các công ty nhà nước. Tuy
vậy, chỉ số VN-Index cũng biến động lên tục qua số liệu thống kê từ 28/07/2000 đến tháng
05/2006.
Từ lúc bắt đầu VN-Index chỉ 100 điểm, sau gần một năm VN-Index tăng hơn 5 lần lên tới
517,04 vào ngày (25/06/2001), trong năm phiên giao dịch tăng bình quân 6,77% và có khi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status