MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
CHƯƠNG 1- CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN VÀ
XÁC ĐỊNH LI NHUẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH ..................... 7
1.1 BÁO
CÁO
TÀI
CHÍNH
VÀ
NHU
CẦU
THÔNG
TIN. .................... 8
1.1.1 Vai trò của kế toán và nhu cầu của người sử dụng thông tin ..... 8
1.1.2 Báo cáo tài chính và thông tin cần thiết của các đối tượng sử
dụng thông tin. .................................................................................... 10
1.2 TÀI
SẢN
VÀ
VIỆC
VIỆC
XÁC
ĐỊNH
LI
NHUẬN
TRÊN
BÁO
CÁO
TÀI
CHÍNH...............................................................
20
1.3.1 Khái niệm lợi nhuận................................................................. 20
1.3.2 Xác đònh lợi nhuận ................................................................... 22
1.4 MỐI
QUAN
HỆ
GIỮA
BÀY
BÁO
CÁO
TÀI
CHÍNH
THEO
ỦY
BAN
CHUẨN
MỰC
KẾ
TOÁN
QUỐC
TẾ
VÀ
TRÊN
BÁO
CÁO
TÀI
CHÍNH
THEO
ỦY
BAN
CHUẨN
MỰC
KẾ
TOÁN
QUỐC
TẾ
VÀ
TIÊU
TRÊN
BÁO
CÁO
TÀI
CHÍNH.......................................................................... 46
1.7.1 Giá trò tài sản và sự tác động của lạm phát.............................. 47
1.7.2 Lợi nhuận và sự tác động của lạm phát. .................................. 48
KẾT
LUẬN
CHƯƠNG
1........................................................................ 49
CHƯƠNG 2- THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN VIỆT NAM
VÀ VẤN ĐỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN- XÁC ĐỊNH LI NHUẬN TRÊN
CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH................................................................... 51
2.1 ĐẶC
ĐIỂM
CỦA
LI
NHUẬN................................... 51
2.1.1 Trước năm 1986 ....................................................................... 51
2.1.2 Trong nền kinh tế thò trường..................................................... 51
2.1.3 Hệ thống kế toán Việt nam đang được áp dụng hiện nay........ 57
2.1.4 Vai trò của kế toán trong doanh nghiệp................................... 59
2.2 THỰC
TRẠNG
ĐỊNH
GIÁ
TÀI
SẢN
VÀ
XÁC
ĐỊNH
LI
NHUẬN
TRONG
QUAN
ĐẾN
VIỆC
ĐỊNH
GIÁ
TÀI
SẢN
VÀ
XÁC
ĐỊNH
LI
NHUẬN
TRONG
HỆ
THỐNG
TIN
ĐÁP
ỨNG
TRÊN
BÁO
CÁO
TÀI
CHÍNH............................................................................................ 91
KẾT
LUẬN
CHƯƠNG
2........................................................................ 92
CHƯƠNG 3- ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN VÀ XÁC ĐỊNH LI NHUẬN
TRÊN CÁC BÁO CÁO TÀI CHÍNH....................................................... 94
3.1 MỤC
TIÊU
CỦA
VÀ
XÁC
ĐỊNH
LI
NHUẬN
TRÊN
HỆ
THỐNG
BÁO
CÁO
TÀI
CHÍNH............................................................................................ 97
3.2.1 Việc đònh giá tài sản trên Bảng cân đối kế toán...................... 98
3.2.2 Xác đònh lợi nhuận trên bảng kết quả hoạt động kinh doanh. 114
3.2.3 Thuyết minh báo cáo tài chính............................................... 127
3.3 KIẾN
NGHỊ
nhằm phù hợp và trở thành công cụ thiết yếu phục vụ cho công việc quản
lý vi mô cũng như vó mô trong nền kinh tế.
Hệ thống kế toán Việt Nam ban hành ngày 01 tháng 11 năm 1995
theo quyết đònh 1141 TC/CĐKT của Bộ tài chính với mục tiêu đặt ra là
“xây dựng và vận hành một hệ thống kế toán phù hợp với nền kinh tế thò
trường theo đònh hướng xã hội chủ nghóa, đồng thời hòa nhập với hệ thống
kế toán các nước trong khu vực cũng như trên thế giới, trên cơ sở vận dụng
có sáng tạo những nguyên tắc, chuẩn mực kế toán quốc tế và mô hình kế
toán của các nước có nền kinh tế thò trường phát triển tương xứng với nền
kinh tế thò trường nước ta”. Về cơ bản, hệ thống kế toán hiện hành đã và
đang được xây dựng theo xu hướng phù hợp với các thông lệ kế toán quốc
tế nhằm tạo dựng khuôn khổ pháp lý về kế toán, kiểm toán trong môi
trường pháp lý chung của nền kinh tế Việt nam và góp phần thúc đẩy tiến
trình hội nhập của Việt nam với sự phát triển các quốc gia trong khu vực
và trên thế giới.
Thông tin trên báo cáo tài chính của các doanh nghiệp hiện nay trên
thế giới đang có nhiều thay đổi cơ bản. Sự thay đổi này xuất phát từ yêu
cầu đòi hỏi cần phải đáp ứng một cách đầy đủ và đa dạng nhu cầu thông
tin của các đối tượng sử dụng trong nền kinh tế toàn cầu.
Hệ thống kế
toán
Việt nam trong nền kinh tế thò trường được thiết kế và phát triển với
nhận thức mới về đối tượng sử dụng thông tin. Thông tin trên báo cáo tài
chính là căn cứ quan trọng của các quyết đònh quản lý, đầu tư và vay nợ,
vì thế các báo cáo tài chính cần cung cấp các thông tin cần thiết, và phù
hợp với
nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng đã được xác lập. Tuy
nhiên, các quy đònh về lập và trình bày thông tin trên các báo cáo tài chính
trong hệ thống kế toán Việt nam hiện nay vẫn còn chòu ràng buộc bởi các
quy đònh theo hướng đối tượng sử dụng thông tin chủ yếu là Nhà nước với
cứu nhằm hoàn thiện các quy đònh hướng dẫn cho việc lập và trình bày các
báo cáo tài chính liên quan đến vấn đề đònh giá phục vụ cho nhu cầu
thông tin cần thiết của các đối tượng sử dụng trong mối quan hệ với việc
xác đònh và phân biệt kết quả hoạt động kinh doanh theo mục tiêu tài
chính và mục tiêu tính thuế thực sự là một trong những nhu cầu cấp thiết
nhằm hoàn thiện hơn hệ thống kế toán Việt nam hiện nay cũng như trong
thời gian sắp tới. Từ nhận đònh đó, chúng tôi đã chọn đề tài:
“Đònh giá tài sản và xác đònh lợi nhuận trên các báo cáo tài chính.”
2. Mục tiêu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
* Đề tài nghiên cứu hướng đến các mục tiêu chính:
- Xác đònh rõ mối quan hệ giữa việc chọn lựa các phương pháp đònh giá tài
sản và xác đònh lợi nhuận trên báo cáo tài chính và nhu cầu thông tin của
các đối tượng sử dụng trong lý luận và thực tiễn.
- Hoàn thiện các nội dung trong hệ thống kế toán Việt nam liên quan đến
vấn đề đònh giá tài sản nhằm nâng cao chất lượng của báo cáo tài chính
đáp ứng nhu cầu của các đối tượng sử dụng.
- Xác đònh rõ sự khác biệt giữa lợi nhuận kế toán theo mục tiêu tài chính
và lợi nhuận kế toán theo mục tiêu tính thuế.
- Thiết lập các báo cáo kết quả kinh doanh tách biệt giữa mục tiêu tài
chính và mục tiêu tính thuế.
- Đề xuất các giải pháp và kiến nghò cụ thể có liên quan việc đònh giá tài
sản và xác đònh lợi nhuận trên báo cáo tài chính.
* Đối tượng nghiên cứu:
Luận án nghiên cứu các phương pháp đònh giá tài sản và xác đònh lợi
nhuận trên các báo cáo tài chính trong hệ thống kế toán doanh nghiệp
Việt nam để đáp ứng nhu cầu thông tin cần thiết của các đối tượng sử
- Thiết lập sự tách biệt giữa bảng kết quả kinh doanh theo mục tiêu tài
chính và theo mục tiêu tính thuế.
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện việc đònh giá tài sản và xác đònh lợi
nhuận nhằm nâng cao chất lượng của các báo cáo tài chính và đáp ứng
một cách đầy đủ nhu cầu sử dụng thông tin trong nền kinh tế thò trường.
1 CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ ĐỊNH GIÁ TÀI SẢN VÀ
XÁC ĐỊNH LI NHUẬN TRÊN BÁO CÁO TÀI CHÍNH
1.1 BÁO CÁO TÀI CHÍNH VÀ NHU CẦU THÔNG TIN.
1.1.1 Vai trò của kế toán và nhu cầu của người sử dụng thông tin
Vai trò của kế toán là cung cấp các thông tin về kết quả tác động
của các sự kiện, nghiệp vụ kinh tế đến hoạt động kinh doanh của doanh
nghiệp. Các thông tin kế toán cung cấp sẽ tạo cầu nối liên kết các nhà
quản lý với các hoạt động của doanh nghiệp cũng như liên kết doanh
nghiệp và môi trường kinh doanh.
Tính hữu dụng của thông tin kế toán trong tiến trình ra quyết đònh
của các đối tượng sử dụng thông tin kế toán đã và đang là một đề tài
nghiên cứu khoa học suốt các thập kỷ qua. Các nghiên cứu thường tập
trung vào sự tác động của các thông tin trình bày trên các báo cáo tài
chính đến quyết đònh kinh tế của các đối tượng sử dụng thông tin. Các
thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính chòu ảnh hưởng của 2 nhóm
đối tượng là nội bộ doanh nghiệp, và những người sử dụng bên ngoài
doanh nghiệp.
- Nội bộ doanh nghiệp:
Là những nhà quản lý của doanh nghiệp. Theo từng cấp độ, những
nhà quản lý của một doanh nghiệp là nhóm đối tượng chính sử dụng các
dân cũng như các chỉ tiêu vó mô khác.
+ Các nhà cung cấp và các khách hàng: quan tâm đến những thông tin tài
chính về khả năng thanh toán cũng như khả năng tiếp tục hoạt động của
doanh nghiệp khi họ có những mối liên quan đến hoạt động của doanh
nghiệp.
+ Những nhóm người khác: như những nhà phân tích tài chính và những cố
vấn, người môi giới kinh doanh, báo chí, những nhà nghiên cứu kinh doanh
và công chúng. Họ cần những thông tin tài chính dưới nhiều dạng về xu
hướng phát triển và khả năng tăng trưởng trong các lónh vực hoạt động của
doanh nghiệp.
Tiến trình phát triển và thông đạt những thông tin tài chính cho
những người sử dụng bên ngoài đơn vò thường được gọi là kế toán tài
chính. Những người bên ngoài đơn vò vì sự tách biệt của họ đối với tổ
chức, vì thế họ thường phải dựa vào những báo cáo tài chính của tổ chức
để có được các thông tin cần thiết trong việc thực hiện các quyết đònh.
1.1.2 Báo cáo tài chính và thông tin cần thiết của các đối tượng sử
dụng thông tin.
1.1.2.1 Các đối tượng sử dụng thông tin
Các nhóm đối tượng sử dụng thông tin kế toán với các nhu cầu thông
tin khác nhau làm nảy sinh tính đa dạng và phức tạp đối với nhu cầu thông
tin cần cung cấp.
Sử dụng biểu đồ Venn để diễn giải tính đa dạng của các thông tin kế
toán cần thiết từ các nhóm đối tượng:
- Nhóm đối tượng I: Những người bên ngoài, nhu cầu thông tin cần thiết
thể hiện ở vòng tròn I.
- Nhóm đối tượng II: Nội bộ doanh nghiệp, nhu cầu thông tin cần thiết thể
hiện ở vòng tròn II.
thể của họ. Các báo cáo tài chính theo mục đích chung bao gồm những
báo cáo được trình bày tách biệt hay kèm theo những báo cáo khác như
báo cáo thường niên của doanh nghiệp.
Mục tiêu của những báo cáo tài chính theo mục đích chung là nhằm
thể hiện những tác động về mặt kinh tế của những nghiệp vụ cũng như các
sự kiện đã xảy ra đối với tình trạng tài chính và quá trình hoạt động kinh
doanh của đơn vò. Mặc dù có nhiều cách khác nhau trong việc thể hiện
những thông tin tài chính, tuy nhiên những báo cáo tài chính cho mục đích
chung thường trình bày những thông tin tài chính phù hợp với những quyết
đònh về đầu tư (đối với nhà đầu tư), tín dụng (đối với những chủ nợ), và
những chính sách chung.
Nhằm thực hiện 3 mục tiêu này, các loại báo cáo tài chính thường
được sử dụng là:
- Báo cáo về tình trạng tài chính: Bảng Cân đối Kế toán.
- Những báo cáo về sự thay đổi liên quan đến 1 thời kỳ:
+ Bảng kết quả kinh doanh.
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Những báo cáo tài chính này được bổ sung với nhiều thông tin chi
tiết trên các bảng thuyết minh báo cáo tài chính. Những thông tin bổ sung
trên thuyết minh báo cáo tài chính là một phần không thể tách rời của các
báo cáo tài chính.
1.1.2.3 Sử dụng thông tin trên các báo cáo tài chính
Các quyết đònh kinh tế của các đối tượng sử dụng thông tin kế toán
thường liên quan đến các thông tin trình bày trên các báo cáo tài chính.
- Thông tin trên bảng cân đối kế toán
Bảng cân đối kế toán hay báo cáo về tình hình tài chính là bảng báo
cáo về tài sản, nợ phải trả và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tại một
đến hạn (như tỷ lệ thanh toán ngắn hạn, tỷ lệ thanh toán nhanh,…). Thông
tin về khả năng thanh toán của doanh nghiệp hữu ích cho người sử dụng
trong việc dự đoán khả năng thực hiện các cam kết tài chính khi đến hạn
của doanh nghiệp.
- Đánh giá khả năng sinh lợi: thông tin trên bảng cân đối kế toán kết
hợp với thông tin trên kết quả kinh doanh cũng cung cấp thông tin về khả
năng sinh lợi của doanh nghiệp qua 2 cách:
+ Thứ nhất, tài sản được đònh nghóa như các nguồn lực kinh tế hy
vọng mang lại lợi ích kinh tế tương lai. Tương ứng với giả đònh hoạt động
liên tục của doanh nghiệp, các lợi ích kinh tế tương lai này không chỉ thể
hiện là dòng tiền mà còn thể hiện thông qua khả năng tạo ra lợi nhuận.
Số liệu của các khoản mục khoản phải thu là các khoản ước tính
dòng tiền sẽ thu vào, hàng tồn kho và tài sản cố đònh là các tài sản tạo ra
doanh thu trong tương lai. Sự tăng hay giảm các tài sản này hỗ trợ cho sự
dự đoán doanh thu và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp thông qua tỷ lệ
doanh thu trên tài sản và tỷ lệ lợi nhuận trên tài sản.
+ Thứ hai, việc đánh giá khả năng sinh lợi của doanh nghiệp cần
dựa trên thông tin về các nguồn lực như tỷ lệ doanh thu hay lợi nhuận trên
mức đầu tư để đo lường hiệu quả của các hoạt động doanh nghiệp thông
qua tỷ lệ lợi nhuận trên vốn hay tỷ lệ hoàn vốn đầu tư.
Bên cạnh các thông tin hữu ích, tính hữu dụng của bảng cân đối kế
toán bò hạn chế bởi các yếu tố sau:
- Sự không đầy đủ: Một số tài sản và nợ phải trả không được trình
bày trên bảng cân đối kế toán (do không có giá trò xác đònh một cách đáng
tin cậy như nguồn nhân lực, lợi thế thương mại tự tạo,…) hay một số tài sản
trình bày trên bảng cân đối kế toán không có giá trò kinh tế (như tài sản
thiếu chờ xử lý) vì tuân thủ theo các điều kiện ghi nhận quy đònh trong các
chuẩn mực hay nguyên tắc kế toán.
- Vấn đề đònh giá: Một số tài sản, nợ phải trả được ghi nhận theo giá
gốc (như tài sản cố đònh), một số tài sản khác thì được ghi nhận theo giá
thể hiện trên bảng kết quả kinh doanh cũng là căn cứ đánh giá khả năng
của doanh nghiệp thích nghi với các rủi ro và cơ hội đã qua, cũng như khả
năng của doanh nghiệp nhằm duy trì một mức độ hoạt động cụ thể nào đó.
Thông tin về kết quả kinh doanh cũng hữu ích trong việc dự tính khả
năng tạo ra các nguồn tiền của doanh nghiệp trên cơ sở các nguồn lực
hiện có và đánh giá về tính hiệu quả của các nguồn lực bổ sung mà doanh
nghiệp có thể sử dụng.
Các hạn chế của bảng kết quả kinh doanh thường được các nhà
nghiên cứu cũng như các đối tượng sử dụng đề cập đến như :
- Sự không đầy đủ : Một vài khoản mục doanh thu hay chi phí đóng
góp vào kết quả hoạt động của doanh nghiệp không được ghi nhận vì tuân
thủ theo các điều kiện ghi nhận quy đònh trong các chuẩn mực hay nguyên
tắc kế toán như chi phí cơ hội,…
- Tính chủ quan : Các khoản doanh thu và chi phí thường bò chi phối
bởi các chính sách kế toán được chọn lựa bởi doanh nghiệp (như phương
pháp khấu hao tài sản cố đònh, phương pháp xác đònh trò giá hàng tồn
kho,…)
- Sự ước tính : Một vài khoản doanh thu, chi phí được xác đònh bằng
phương pháp ước tính làm ảnh hưởng đến tính đáng tin cậy của thông tin
về lợi nhuận kinh doanh.
- Thông tin trên báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
Báo cáo lưu chuyển tiền tệ diễn giải sự thay đổi về các khoản mục
tiền (hay cung cấp thông tin về các khoản thu tiền và chi tiền) của doanh
nghiệp trong 1 thời kỳ. Báo cáo này cung cấp thông tin hữu dụng trong
việc đánh giá khả năng lưu chuyển tiền thuần trong quá khứ của 1 doanh
nghiệp, đánh giá khả năng thanh toán các khoản nợ phải trả và chi trả cổ
tức, đánh giá nhu cầu tài chính cần tài trợ.
1.2.1 Đònh nghóa Tài sản
Đònh nghóa về tài sản là cơ sở để xác đònh tài sản và việc ghi nhận
các sự kiện kinh tế liên quan đến tài sản, xác đònh giá trò và trình bày tài
sản trên các báo cáo tài chính. Qua nghiên cứu các đònh nghóa tài sản theo
các quan điểm kế toán hiện đại cho thấy các đònh nghóa tài sản đều tập
trung vào một số các đặc tính cơ bản như:
- Tài sản là 1 nguồn lực được sở hữu hay được kiểm soát: một số đònh nghóa
về tài sản đề cập đến quyền sở hữu tài sản (chuẩn mực cơ bản của Trung
quốc [1],…) , trong khi các đònh nghóa khác lại đề cập đến quyền kiểm soát
(theo khuôn mẫu lý thuyết của Ủy ban chuẩn mực kế toán quốc tế (IASB),
Báo cáo số 6- Các khái niệm kế toán tài chính- trong hệ thống khuôn mẫu
lý thuyết của Mỹ (SFAC 6) , Báo cáo số 4- Các khái niệm kế toán- trong
hệ thống khuôn mẫu lý thuyết của Úc (SAC 4), Báo cáo về các nguyên
tắc kế toán của Anh (SPFR), chuẩn mực chung của kế toán Việt nam
(CMCVN),..). Trong thực tế, phần lớn các tài sản đều thuộc quyền sở hữu
của tổ chức, nhưng sự khẳng đònh quyền sở hữu như một điều kiện tiên
quyết để xác đònh tài sản là không chính xác. Một tổ chức không có quyền
sở hữu tài sản không có nghóa là tổ chức này không có quyền kiểm soát tài
sản. Việc kiểm soát thường liên quan đến quyền sử dụng về mặt pháp lý.
- Liên quan đến lợi ích hay nguồn lực kinh tế tương lai: tài sản thể hiện 1
tiềm lực, tách biệt hoặc gắn kết với các tài sản khác, nhằm tạo ra lợi ích
kinh tế. Có 2 nhóm quan điểm khác nhau trong 1 số đònh nghóa tài sản
liên quan đến lợi ích kinh tế tương lai. Nhóm quan điểm thứ 1 cho rằng
“tài sản là các lợi ích kinh tế tương lai” (IASB, SAC 4, CMCVN,…), hay
nói cách khác khẳng đònh lợi ích kinh tế tương lai là tài sản. Trong khi
nhóm quan điểm thứ 2 cho rằng “lợi ích kinh tế tương lai được mang lại từ
các tài sản” (Báo cáo số 3- Các khái niệm kế toán tài chính- trong hệ
1.2.2 Phương pháp đònh giá tài sản
Đònh giá tài sản trên báo cáo tài chính là 1 tiến trình xác đònh giá trò
tiền tệ của tài sản được ghi nhận và trình bày trên các báo cáo tài chính.
Một cơ sở đònh giá tài sản là 1 phương pháp xác đònh giá trò tài sản
được lựa chọn ghi nhận trên các báo cáo tài chính. Cơ sở đònh giá tài sản
được xác đònh căn cứ vào giá trò đo lường tài sản và đơn vò đo lường được
sử dụng.
- Các giá trò có thể sử dụng đo lường tài sản là:
+ Giá gốc: Tài sản được ghi nhận theo số tiền hoặc các khoản tương
đương tiền đã trả hoặc ghi theo giá trò thực tế của tài sản đó vào thời điểm
có được tài sản.
+ Giá trò có thể thực hiện được (giá đầu ra hiện tại): Tài sản được ghi nhận
theo số tiền hoặc các khoản tương đương tiền hiện tại có thể thu được nếu
bán các tài sản đó tại thời điểm hiện tại.
+ Giá hiện hành (Giá thay thế hay giá đầu vào hiện tại): Tài sản được ghi
nhận theo số tiền hoặc các khoản tương đương tiền sẽ phải trả nếu như tài
sản đó có được tại thời điểm hiện tại.
+ Giá hiện tại chiết khấu (Hiện giá): Tài sản được ghi nhận theo giá trò
hiện tại của các luồng tiền dự đònh thu vào trong tương lai từ việc sử dụng
tài sản.
- Các đơn vò đo lường có thể được sử dụng là đơn vò tiền tệ và đơn vò sức
mua chung. Liên kết 4 giá trò đo lường và 2 đơn vò đo lường, các chuyên
gia kế toán đưa ra 8 cơ sở xác đònh giá trò tài sản:
- Giá gốc theo đơn vò tiền tệ không đổi
- Giá trò thuần có thể thực hiện được theo đơn vò tiền tệ không đổi
- Giá trò thay thế theo đơn vò tiền tệ không đổi
- Hiện giá theo đơn vò tiền tệ không đổi
Bảng 1.1- Giá trò tài sản và thông tin cung cấp
Giá gốc Giá trò thuần có thể
thực hiện được
Giá trò
hiện hành
Hiện giá
Thông tin
cung cấp
Quá khứ Hiện tại Hiện tại Tương lai
Nghiệp vụ
Mua tài sản Bán tài sản Mua
tài sản
Bán
tài sản
Bản chất
sự kiện
Thực tế
phát sinh
Giả đònh Giả đònh Dự tính
1.3 LI NHUẬN VÀ VIỆC XÁC ĐỊNH LI NHUẬN TRÊN BÁO
CÁO TÀI CHÍNH.
1.3.1 Khái niệm lợi nhuận.
Khái niệm lợi nhuận luôn là một vấn đề cốt lõi trong lý thuyết kinh
tế và lý thuyết kế toán. Xuất phát từ bản chất của lợi nhuận trong nền
kinh tế nói chung hay tại các doanh nghiệp nói riêng, nội dung của khái
niệm lợi nhuận luôn có những điểm tương đồng cũng như khác biệt giữa
quan điểm của các nhà kinh tế và của các chuyên gia kế toán.
1.3.1.1 Lợi nhuận kinh tế
nhuận. Vấn đề tranh luận chung quanh khái niệm lợi nhuận của Hicks là
“trạng thái tương tự” và phần lớn các nhà kinh tế chấp nhận diễn giải đó
là sự bảo toàn vốn.
Khái niệm lợi nhuận của Hicks được nhà kinh tế học Alexander dựa
vào để đưa ra khái niệm lợi nhuận của 1 doanh nghiệp (1962) “Lợi nhuận
của doanh nghiệp là số tiền mà doanh nghiệp có thể phân phối cho các
chủ sở hữu và và vẫn duy trì tình hình tài chính vào cuối kỳ như tại lúc đầu
kỳ”. Khái niệm này so sánh giá trò của doanh nghiệp tại 2 thời điểm đầu
kỳ và cuối kỳ theo giá trò hiện tại.
Cho đến những năm cuối thập niên 90, lợi nhuận kinh tế, về lý
thuyết, được nhiều nhà kinh tế học xem là sự diễn giải thuyết phục nhất
trong các mô hình về lợi nhuận khác nhau. Lợi nhuận kinh tế gắn kết được
giá trò vốn trong mối liên quan với dòng lưu chuyển tiền tệ. Lợi nhuận
kinh tế được tính toán trên cơ sở yếu tố thời gian và cả nguồn lực vật chất,
con người của 1 tổ chức. Và theo nhiều nhà kinh tế học, lợi nhuận trên
vốn trong lợi nhuận kinh tế được xem như thông tin hữu ích trong việc đưa
ra quyết đònh tái đầu tư hay xác đònh việc bảo toàn vốn.
1.3.1.2 Lợi nhuận kế toán
Lý thuyết về lợi nhuận và xác đònh lợi nhuận luôn đóng 1 vai trò
quan trọng trong nội dung của lý thuyết cũng như thực hành kế toán. Lợi
nhuận kế toán là sự chênh lệch giữa doanh thu thực hiện và các chi phí
phát sinh tương ứng với doanh thu đó.
Khái niệm về lợi nhuận kế toán có 5 đặc điểm:
- Lợi nhuận kế toán được xác đònh căn cứ vào nghiệp vụ thực sự xảy ra tại
doanh nghiệp, là chênh lệch giữa doanh thu bán hàng hóa, dòch vụ trừ chi
phí cần thiết để thực hiện nghiệp vụ bán hàng.
- Lợi nhuận kế toán được xác đònh căn cứ vào thời kỳ quy đònh liên quan
này, lợi nhuận được xác đònh thông qua các tiêu chuẩn cơ bản nhằm cung
cấp các thông tin về sự thành công hay hiệu quả kinh doanh của doanh
nghiệp. Hiệu quả kinh doanh ở đây thường tập trung vào lónh vực tài chính
như hiệu quả đầu tư, hiệu quả hoạt động kinh doanh,…
- Đánh giá năng lực quản lý: Các nhà đầu tư thường sử dụng yếu tố lợi
nhuận như một trong những cơ sở đánh giá khả năng của nhà quản lý trong
việc sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp mà họ đang được giao phó
điều hành.
- Quyết đònh tài trợ: Lợi nhuận được xem như một thông tin thiết yếu cho
các nhà đầu tư, các nhà cho vay trong việc thực hiện các quyết đònh đầu tư
hay cho vay nợ.
- Dự đoán tương lai: Lợi nhuận còn được sử dụng như một công cụ để dự
đoán hoạt động tương lai của doanh nghiệp theo giả đònh mức tăng trưởng
ổn đònh trong một khoảng thời gian nào đó.
- Phân phối cổ tức: Lợi nhuận là cơ sở xác đònh cổ tức phân phối cho các
cổ đông và lợi nhuận giữ lại cho việc thực hiện các chính sách đầu tư hay
mở rộng hoạt động kinh doanh.
- Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp: Lợi nhuận là căn cứ để tính toán
thuế thu nhập doanh nghiệp dựa trên các quy đònh cụ thể của chính sách
tài chính quốc gia.
- Các quyết đònh kinh tế- xã hội: Các chính sách kinh tế-xã hội của chính
phủ thường căn cứ vào nguồn thu ngân sách mà chủ yếu là từ thuế thu
nhập doanh nghiệp. Vì vậy, hàng loạt các chính sách kinh tế đều có liên
quan đến mức thuế thu nhập doanh nghiệp.
1.3.2.2 Phương pháp xác đònh lợi nhuận kế toán
Dưới góc độ kế toán, việc đo lường lợi nhuận kinh doanh luôn đóng
vai trò quan trọng trong cả kế toán tài chính cũng như kế toán quản trò.
Nhiều quan điểm khác nhau về đo lường lợi nhuận kế toán được hình
thành trong quá trình phát triển của lý thuyết kế toán. Về cơ bản, có 3
trường phái với các quan điểm khác nhau về đo lường lợi nhuận:
thời kỳ trước với các giá trò tiền tệ khác nhau để trình bày chỉ tiêu “lợi
nhuận tích lũy” làm giảm tính hữu ích của các thông tin kế toán được công
bố trên các báo cáo tài chính.
+ Sự tuân thủ nguyên tắc “giá gốc” dẫn đến sự khó khăn trong việc
so sánh các thông tin về chi phí do có nhiều phương pháp chấp nhận sử
dụng khác nhau trong việc xác đònh chi phí (như các phương pháp xác đònh
trò giá hàng tồn kho, hay các phương pháp phân bổ chi phí).
+ Việc tuân thủ nguyên tắc “giá gốc” để trình bày báo cáo tài chính
có thể dẫn đến sự sai lệch của thông tin kế toán cung cấp (như các thông
tin về tài sản, lợi nhuận không tính đến sự thay đổi giá trò tiền tệ, ảnh
hưởng lạm phát hay giảm phát,…) và khó có thể đạt được tính dễ hiểu và
tính thích hợp của thông tin kế toán đối với người sử dụng.
- Nguyên tắc doanh thu thực hiện:
Theo nguyên tắc này, kế toán viên chỉ ghi nhận các nghiệp vụ kinh
tế đã xảy ra và không quan tâm đến sự thay đổi giá trò cho đến khi nghiệp
vụ kinh tế phát sinh. Hay nói cách khác, doanh thu được ghi nhận để xác
đònh lợi nhuận chỉ khi quyền sở hữu hàng hóa, dòch vụ được công nhận
theo luật pháp. Nguyên tắc doanh thu thực hiện không đề cập đến việc ghi
nhận các khoản doanh thu chưa thực hiện.
- Trường phái tân cổ điển
Trường phái tân cổ điển, thừa nhận đơn vò đo lường theo nguyên tắc
giá gốc có điều chỉnh theo sự thay đổi của mức giá chung. Theo trường
phái này, lợi nhuận kế toán là lợi nhuận đã điều chỉnh theo mức giá
chung.
Sự khác biệt giữa trường phái cổ điển và tân cổ điển xuất phát từ
“thước đo tiền tệ”.
Kế toán theo nguyên tắc giá gốc không ghi nhận sự thay đổi của