BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH KINH TẾ CHIA SẺ
TRONG NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
LÊ XUÂN BÁCH
Hà Nội - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Giải pháp phát triển mô hình kinh tế chia sẻ trong ngành
du lịch Việt Nam
Ngành: Quản trị kinh doanh
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 8340101
Họ và tên: Lê Xuân Bách
Người hướng dẫn: PGS, TS Đỗ Thị Loan
Hà Nội - 2019
Xin chân thành cảm ơn!
Hà nội, ngày 20 tháng 05 năm 2019
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Lê Xuân Bách
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .......................................................................................................i
LỜI CẢM ƠN ........................................................................................................... ii
TÓM TẮT LUẬN VĂN ............................................................................................ v
DANH MỤC KÝ HIỆU, VIẾT TẮT ......................................................................vi
DANH MỤC HÌNH VẼ ......................................................................................... vii
LỜI MỞ ĐẦU ............................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ PHÁT TRIỂN MÔ
HÌNH KINH TẾ CHIA SẺ TRONG NGÀNH DU LỊCH ..................................... 9
1.1. Tổng quan về mô hình kinh tế chia sẻ trong ngành du lịch ............................... 9
1.1.1 Khái niệm kinh tế chia sẻ.................................................................................... 9
1.1.2. Khái niệm mô hình kinh tế chia sẻ ................................................................ 11
1.1.3. Khái niệm mô hình kinh tế chia sẻ trong ngành du lịch ........................... 12
1.2. Các loại hình kinh tế chia sẻ chính ........................................................................ 13
1.2.1. Dịch vụ cho vay ngang hàng (Peer – to – peer lending) ............................ 14
1.2.2. Hoạt động gọi vốn cộng đồng (Crowdfunding)........................................... 14
1.2.3. Dịch vụ cho thuê nhà/căn hộ........................................................................... 15
1.2.4. Dịch vụ thuê chung xe ...................................................................................... 16
2.1.1. Điểm mạnh của ngành du lịch Việt Nam ..................................................... 53
2.1.2. Cơ hội ngành du lịch Việt Nam cần năm bắt .............................................. 55
2.1.3. Điểm yếu của ngành du lịch Việt Nam ......................................................... 56
2.1.4. Thách thức ngành du lịch Việt Nam phải đối mặt ..................................... 58
2.2. Thực trạng mô hình kinh tế chia sẻ áp dụng vào ngành du lịch Việt Nam... 60
2.2.1. Thực trạng phát triển mô hình kinh tế chia sẻ tại Việt Nam ................... 60
2.2.2. Các mô hình kinh tế chia sẻ chính đang có mặt trong ngành du lịch Việt
Nam ................................................................................................................................ 62
2.2.3. Ảnh hƣởng của mô hình kinh tế chia sẻ với ngành du lịch Việt Nam .... 66
2.3. Nhận xét chung .......................................................................................................... 69
2.3.1. Mặt tích cực........................................................................................................ 69
2.3.2. Mặt còn tồn tại và nguyên nhân..................................................................... 70
CHƢƠNG 3: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN MÔ HÌNH KINH TẾ CHIA SẺ
TRONG NGÀNH DU LỊCH VIỆT NAM ............................................................. 74
3.1. Định hƣớng phát triển mô hình kinh tế chia sẻ trong ngành du lịch
Việt Nam .................................................................................................. 74
3.2. Đề xuất một số giải pháp phát triển mô hình kinh tế chia sẻ trong ngành du
lịch Việt Nam ..................................................................................................................... 75
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 86
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................... 88
v
TÓM TẮT LUẬN VĂN
Luận văn “Giải pháp phát triển mô hình kinh tế chia sẻ trong ngành du lịch
Việt Nam” trước tiên đã bao gồm một số vấn đề lý luận về kinh tế chia sẻ trong
ngành du lịch như: Tổng quan về mô hình kinh tế chia sẻ trong ngành du lịch, Các
EU
Cộng đồng các nƣớc Châu Âu
FDI
Đầu tƣ trực tiếp nƣớc ngoài
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
WTO
Tổ chức thương mại thế giới
KTCS
Kinh tế chia sẻ
vii
DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Tổng đóng góp và đóng góp trực tiếp của ngành du lịch cho nền kinh
tế thế giới từ năm 2006 đến 2017 …………………………………..…….………13
Hình 1.2: Mô hình kinh tế chia sẻ căn bản ……………………….......…………24
1
2
Chính sự thâm nhập của các doanh nghiệp đa quốc gia này đã làm cho nền
kinh tế truyền thống của Việt Nam bị thay đổi, mà một trong số những ngành chịu
ảnh hưởng nặng nề nhất là du lịch. Du lịch được coi là một trong những ngành mũi
nhọn, được đầu tư phát triển ở Việt Nam. Hiện nay, du lịch Việt Nam được nhận
định là có tiềm năng phát triền phong phú, với sự tăng trưởng đều đặn qua từng
năm. Bởi vậy, việc thâm nhập của nền kinh tế chia sẻ này vào ngành du lịch nước ta
có thể mang lại nhiều thay đổi đáng kể, trong đó có nhiều cơ hội mới nhưng cũng
đồng thời đe dọa những công ty đang hoạt động và phát triển dựa trên nền kinh tế
truyền thống.
Do vậy, có thể nói, một mặt, du lịch Việt Nam có cơ hội hòa nhập và bắt kịp
với những xu thế kinh tế mới của thế giới. Tuy nhiên, mặt khác, những nhà làm luật
cũng như các doanh nghiệp đang hoạt động trong lĩnh vực du lịch của nước ta cũng
bối rối bởi sự thay đổi nhanh chóng và mới mẻ này. Thực tế cho thấy, không chỉ
riêng nước ta, mà nhiều nước khác trên thế giới cũng đang loay hoay tìm cách để
đưa những công ty hoạt động theo mô hình kinh tế chia sẻ này vào khuôn khổ. Làm
thế nào để tránh thất thu thuế thu nhập doanh nghiệp, làm thế nào để đảm bảo quyền
lợi của những người tham gia kinh tế chia sẻ? Phải làm sao để tạo ra môi trường
cạnh tranh công bằng giữa những doanh nghiệp định hướng mô hình kinh tế chia sẻ
và các doanh nghiệp hoạt động dựa trên mô hình kinh tế truyền thống? Hay phải sửa
đổi bổ sung những văn bản luật hiện hành như thế nào để vừa không bóp chết nền
kinh tế non trẻ này, vừa kiểm soát được những vấn đề tiêu cực của nó? Đó là một số
trong rất nhiều câu hỏi đặt ra cho những nhà làm luật, những cấp quản lý lãnh đạo
ngành du lịch Việt Nam nói riêng và các ngành khác nói chung.
Xuất phát từ những trăn trở đó, bài viết này được đưa ra để tìm hiểu những
khái niệm về kinh tế chia sẻ nói chung cũng như những nội dung áp dụng cho nền
kinh tế chia sẻ trong ngành du lịch Việt Nam. Từ thực trạng hiện tại của du lịch Việt
Nam, những văn bản pháp luật hiện hành cũng như tham khảo cách giải quyết của
doanh nghiệp. Nghiên cứu thực hiện phỏng vấn hơn 25 nhà sáng lập và CEO của
các công ty khởi nghiệp kinh tế chia sẻ trên toàn cầu và khảo sát hơn 3.500 người
tiêu dùng ở Mỹ, Đức và Ấn Độ. Nghiên cứu này tập trung vào tìm ra các cơ hội
được tạo ra bởi nền kinh tế chia sẻ, thái độ của người tiêu dùng đối với việc chia sẻ
và các ngành công nghiệp có thể bị ảnh hưởng. Nghiên cứu tiếp theo của nghiên
cứu này sẽ xem xét các lựa chọn chiến lược mà kinh tế chia sẻ cung cấp, trong khi
4
nghiên cứu thứ 3 sẽ phản ánh về tương lai của việc chia sẻ trong nền kinh tế toàn
cầu và các mô hình kinh doanh cụ thể có khả năng thành công.
Nghiên cứu “Nền kinh tế chia sẻ về cho thuê nhà và xe phát triển nhanh
chóng so với cho thuê truyền thống” của Codagnone, 2018. Doanh nghiệp sử dụng
kinh tế chia sẻ sử dụng bằng mô hình ngang hàng trên nền tảng đang tăng tăng
trưởng mạnh mẽ, thu hút người đăng ký và sử dụng với tỷ lệ theo cấp số nhân, và
hình thức kinh doanh này lôi kéo từ những khách hàng truyền thống. Trong khi hình
thức kinh doanh cho thuê truyền thống ngành có khả năng biến mất bất cứ lúc nào
sớm, bởi sự tăng trưởng của này ngày càng chậm chạp. Ví dụ, trong khi thị trường
cho thuê xe truyền thống là dự kiến tăng trưởng với tốc độ là 2% năm năm 2017, thì
thị trường chia sẻ xe sẽ phát triển hơn nữa.
Nghiên cứu phạm vị trong nước:
Nền kinh tế chia sẻ mới du nhập vào Việt Nam vài năm gần đây, những cũng
đã có sự phát triển nhanh chóng. Đã có khá nhiều nghiên cứu trong nước về về chủ
đề này như:
Bài báo “Dịch vụ 'chia sẻ phòng' Airbnb lấy khách của khách sạn” của Như
Bình trên báo tuổi trẻ, 2018. Hiện có khoảng 6.500 cơ sở tham gia Airbnb ở Việt
Nam tính đến tháng 6-2017. Với giá rẻ hơn, chất lượng tốt, nhiều người đã chọn
phòng qua Airbnb thay vì khách sạn. Với giá trung bình mỗi phòng trên Airbnb
khoảng 35 USD/đêm trở lên, dịch vụ chia sẻ phòng có vẻ đang lấn thị phần của
khách sạn. Khác với khách sạn, khách và chủ trong giao dịch Airbnb đều có thể
lực để cơ quan chức năng “quản lý” Airbnb. Cũng từ đó, sự an toàn cho khách thuê
và trách nhiệm người cho thuê cũng được quản lý, tạo sự ổn định cho nền kinh
tế chia sẻ. Tuy nhiên, rất khó quản lý và thu thuế các cá nhân Việt Nam tham gia
kinh doanh trên www.airbnb.com, khi toàn bộ giao dịch được thực hiện trực tuyến
thông qua mạng Internet, không cần xuất hóa đơn hay thanh toán bằng tiền mặt.
Bài báo “Người tiêu dùng đông nam á sẵn sàng với mô hình kinh doanh chia
sẻ” của Hà Linh, 2017, Thời báo kinh tế. Khu vực Đông Nam Á đang hình thành
nhiều cộng đồng kinh doanh theo hình thức chia sẻ tài sản cá nhân. Đặc biệt tại Thái
Lan, Philippines và Indonesia, người tiêu dùng rất thích tăng thu nhập bằng hình
thức cho thuê tài sản cá nhân này. Người tiêu dùng khu vực Đông Nam Á đón nhận
hình thức kinh doanh chia sẻ này khá nhanh và hiệu quả, bốn trong năm thị trường
hàng đầu tại đây đã có nhiều cộng đồng sẵn sàng chia sẻ hoặc thuê các tài sản cá
6
nhân nhằm tiết kiệm và kiếm thêm thu nhập. Chỉ 12% người tiêu dùng tại Thái Lan,
13% tại Philippines, 18% tại Việt Nam, 14% tại Indonesia và 28% tại Malaysia là từ
chối chia sẻ tài sản cá nhân của mình. Singapore là thị trường khó tính nhất với mô
hình kinh doanh này với 32% được hỏi vẫn chưa sẵn sàng chia sẻ tài sản cá nhân
của mình, ngang bằng với tỉ lệ trung bình trên toàn thế giới (trong việc chưa sẵn
sàng). Người tiêu dùng tại Indonesia đứng hàng thứ 2 và Philippines đứng hàng thứ
4 trên toàn thế giới về việc thuê hoặc chia sẻ các sản phẩm, dịch vụ từ mô hình kinh
doanh này. Tám mươi bảy phần trăm (87%) người tiêu dùng tại Indonesia cho rằng
họ sẵn sàng tận dụng các sản phẩm và dịch vụ chia sẻ. Tỉ lệ này chiếm 85% tại
Philippines, 84% tại Thái Lan, 76% tại Việt Nam, 74% tại Malaysia, 67% tại
Singapore và 66% đối với người tiêu dùng toàn cầu. Nền móng cho sự xuất hiện của
mô hình kinh tế chia sẻ chính là sự phát triển nhanh chóng của internet trong khu
vực. Sự kết nối giữa những người tiêu dùng với nhau là yếu tố chính cho mô hình
kinh doanh chia sẻ này, do đó, mô hình này có thể sẽ phát triển ở mức độ cao hơn
trong những năm sắp tới.
Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến mô hình kinh tế chia sẻ và
mô hình kinh tế chia sẻ trong ngành du lịch Việt Nam.
Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Ngành du lịch Việt Nam
- Về thời gian: từ năm 2014 đến năm 2018
6. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong quá trình thực hiện đề tài này
thuộc loại hình nghiên cứu khoa học lý thuyết ứng dụng, khi những cơ sở lý luận và
số liệu được tổng hợp và phân tích nhằm rút ra những bài học cho thực tế. Cụ thể là
những cơ sở lý luận về kinh tế chia sẻ và nghiên cứu về thực trạng kinh tế chia sẻ
trong ngành du lịch Việt Nam sẽ được tổng hợp và phân tích để đưa ra những giải
pháp hữu hiệu nhằm phát triển mô hình kinh tế chia sẻ ngành du lịch nước nhà.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở nghiên cứu các tài liệu về lí thuyết và
thực tiễn liên quan đến kinh tế chia sẻ kết hợp với phương pháp phân tích và
tổng hợp.
8
Dữ liệu chính được sử dụng trong luận văn là dữ liệu thứ cấp, những dữ liệu
này được thu thập từ những nguồn cung cấp đáng tin cậy như trang thông tin điện tử
chính thức của các Tổng cục Thống kê, Bộ Tài chính, …, các văn bản pháp luật
hiện hành liên quan đến ngành Du lịch Việt Nam cũng như các ban ngành liên quan
như Luật Du lịch (2017), Luật Nhà ở (2014), Luật Doanh nghiệp (2014), …
7. Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và các phục lục, luận văn bao gồm 3 chương
như sau:
Chƣơng 1: Một số vấn đề lý luận cơ bản về phát triển mô hình kinh tế chia
sẻ trong ngành du lịch
Chƣơng 2: Thực trạng phát triển mô hình kinh tế chia sẻ trong ngành du lịch
Việt Nam
xuất ngang hàng”, “kinh tế ngang hàng”. Bởi vậy, theo như Christopher Koopman,
Matthew Mitchell, and Adam Thierer, trong bài viết “Nền kinh tế chia sẻ và quy
định bảo vệ người tiêu dùng: Trường hợp thay đổi chính sách” của họ, nền kinh tế
chia sẻ được định nghĩa là “bất kỳ thị trường nào tập hợp các mạng lưới phân tán
10
của các cá nhân để chia sẻ hoặc trao đổi các tài sản không được sử dụng. Nó bao
gồm tất cả các loại hàng hóa và dịch vụ được chia sẻ hoặc trao đổi cho lợi ích tiền tệ
và phi tiền tệ.”
Koen Frenken (2017), "Viễn cảnh nền kinh tế chia sẻ”, đã định nghĩa nền
kinh tế chia sẻ là “nơi người tiêu dùng trao quyền truy cập tạm thời tài sản vật chất
nhàn rỗi cho nhau, có thể là vì tiền.”
Benita Matofska (2016), “Kinh tế chia sẻ là gì?” nêu ra rằng “nền kinh tế
chia sẻ là một hệ sinh thái kinh tế xã hội được xây dựng xung quanh việc chia sẻ
tài nguyên vật chất và con người. Nền kinh tế này bao gồm việc tạo ra, sản xuất,
phân phối, thương mại và tiêu thụ hàng hóa và dịch vụ của những người và tổ
chức khác nhau.”
Việc tồn tại nhiều định nghĩa của nền kinh tế chia sẻ có thể gây ra mơ hồ và
tranh cãi. Một ví dụ tiêu biểu cho sự bất đồng quan điểm giữa những học giả đó là
các dịch vụ cá nhân, như giúp việc hay trông trẻ, có thể được tìm thấy thông qua
nền tảng như TaskRabbit hay dịch vụ vận chuyển được cung cấp bởi các hãng như
Grab hay Uber, có được coi là một phần của nền kinh tế chia sẻ không. Một số
chuyên gia cho rằng các dịch vụ này nên được phân loại là một phần của nền kinh tế
theo yêu cầu.
Ngoài ra, chỉ riêng trong các định nghĩa nêu trên, đối tượng được đề cập
trong nền kinh tế chia sẻ đã có sự khác biệt. Một số chỉ đề cập đến “các cá nhân”,
trong khi có những định nghĩa cho rằng ngay cả giao dịch giữa doanh nghiệp với
doanh nghiệp cũng nằm trong nền kinh tế chia sẻ.
Koen Frenken và Juliet Schor (2016), ba đặc điểm xác định của nền kinh tế
ta muốn tham gia làm tài xế Grab hay Uber để tận dụng sự “rảnh rỗi” của chiếc xe
thì đó là kinh tế chia sẻ. Tuy nhiên, nếu một người mua một chiếc xe chỉ để phục vụ
mục đích đưa đón khách với tư cách một tài xế Grab hay Uber thì lúc này không
còn nền tảng chia sẻ tồn tại, đồng nghĩa với việc xa rời nền kinh tế chia sẻ.
1.1.2. Khái niệm mô hình kinh tế chia sẻ
Trên thế giới, khái niệm “kinh tế chia sẻ” hoặc “mô hình chia sẻ” đã xuất
hiện từ rất lâu, tuy nhiên phải đến năm 2009, mô hình kinh doanh này mới thực sự
phát triển mạnh mẽ khi nền kinh tế Mỹ rơi vào khủng hoảng, người dân buộc phải
12
thay đổi cách tiêu dùng để thích ứng với bối cảnh khó khăn. Việc chia sẻ những tài
nguyên sẵn có bằng các ứng dụng công nghệ cùng những khoản lợi nhuận khổng lồ
đem lại cho nhà cung ứng dịch vụ lẫn người cho thuê và sử dụng tài nguyên.
Một số ví dụ về mô hình kinh tế chia sẻ nổi bật trên thế giới như:
- Mô hình RelayRides: Đây là mô hình chia sẻ xe ô tô trong cộng đồng, tận
dụng nguồn tài nguyên đang bị lãng phí là những chiếc xe ôtô được tư nhân sở hữu.
- Mô hình Airbnb: Mô hình Airbnb chia sẻ nhà ở cho người đi du lịch, tận
dụng nguồn tài nguyên đang lãng phí là những căn phòng không dùng đến.
- Nền tảng Uber: Nền tảng Uber tận dụng nguồn tài nguyên ô tô, xe gắn máy
ít được đưa vào lưu thông và người lao động không kiếm được việc làm trong cộng
đồng.
- Mô hình KickStarter: Còn gọi là mô hình gọi vốn từ cộng đồng để thực
hiện các dự án.
- Mô hình cho vay trong cộng đồng Peer lending: Là mô hình trong đó các
đối tượng trong cộng đồng cho vay lẫn nhau, không thông qua trung gian là ngân
hàng.
1.1.3. Khái niệm mô hình kinh tế chia sẻ trong ngành du lịch
Như đã đề cập cụ thể trong phần trên, kinh tế chia sẻ dựa trên cơ sở chia sẻ
các tài sản dư thừa trong xã hội. Trong phần này, tác giả sẽ đi sâu và chi tiết hơn về
14
1.2.1. Dịch vụ cho vay ngang hàng (Peer – to – peer lending)
Đây là mô hình trong đó các đối tượng trong cộng đồng cho vay lẫn nhau,
không thông qua trung gian là ngân hàng. Ví dụ, các làng xã, khu dân phố thành lập
quỹ chung dùng để hỗ trợ cho người trong khu gặp việc khẩn cấp. Hiện nay, cùng
với sự phát triển của Công nghệ tài chính (Fintech), loại hình này được mở rộng và
hoạt động dựa trên nền tảng tực tuyến. Qua loại hình này, mọi người được cung cấp
các dịch vụ cho vay trực tuyến với chi phí dịch vụ thấp hơn so với chi phí dịch vụ
cho vay theo kiểu truyền thống, vì chi phí hoạt động công ty cho vay P2P thấp. Nhờ
đó, nhà đầu tư (người cho vay) sẽ thu được lợi nhuận cao hơn so với gửi tiết kiệm
hay đầu tư vào bất cứ một sản phẩm nào khác của ngân hàng. Trong khi đó, người
vay lại được hưởng lãi suất thấp hơn (cho dù công ty cho vay ngang hàng đã khấu
trừ chi phí xây dựng hệ thống kết nối và đánh giá tín nhiệm online). Một trong
những lợi ích của mô hình này là mở ra cơ hội tiếp cận vốn cho nhiều khách hàng,
đặc biệt những người không đủ tiêu chuẩn vay vốn ngân hàng. Khách hàng có thể
vay nhanh từ 1 đến 30 triệu đồng, thủ tục đơn giản, chỉ cần điền vào một mẫu đơn
xin vay trực tuyến có sẵn, chụp ảnh một số giấy tờ liên quan, chờ xác nhận và
khoản vay có thể được phê duyệt chỉ sau 15-30 phút. Nhờ tính nhanh chóng và tiện
lợi này mà hiện nay, loại hình kinh tế chia sẻ này đang phát triển rất rộng rãi trên
thế giới với những cái tên như Lending club, Prosper (Mỹ), Zopa, Funding Circle
(Anh), Dianrong, Lufax, Ppdai (Trung Quốc). Ở Việt Nam, mặc dù chưa có tài liệu
cấp phép nào cho nền tảng P2P, một số doanh nghiệp như Tima, Vaymuon.vn,
Mofin hay Lenbiz thực ra đang hoạt động dựa trên nền tảng này.
1.2.2. Hoạt động gọi vốn cộng đồng (Crowdfunding)
Gọi vốn cộng đồng/ Gây quỹ cộng đồng (Crowdfunding) là một hình thức
gây quỹ tập thể mà theo đó các cá nhân đóng góp tiền của họ, thường là thông qua
Internet, để hỗ trợ cho các dự án hoặc sáng kiến do người khác/ tổ chức khác khởi
xướng. Hình thức gây quỹ quần chúng này được dùng để hỗ trợ cho rất nhiều các
hoạt động với mục đích khác nhau, như cứu trợ thiên tai, gây quỹ cho các nghệ sĩ,
thực hiện các chiến dịch chính trị, xúc tiến các dự án phim ảnh, phát triển phần
kết hợp đồng thuê nhà. Sau giao dịch người thuê và người cho thuê cũng có thể
đánh giá lẫn nhau trên nền tảng này. Hiện nay, Airbnb được định giá gần 20 tỷ USD
và đã hiện diện ở rất nhiều nơi trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
16
So với cho thuê truyền thống, thì mô hình Airbnb tận dụng nguồn tài nguyên
rảnh rỗi, giá thuê nhà định ra trên nền tảng Airbnb thường thấp hơn giá thuê phòng
khách sạn. Ngoải ra, người thuê nhà còn có thể tiết kiệm chi phí khác bằng cách
được cho phép sử dụng các tiện ích y hệt như người sở hữu căn nhà như bếp, máy
giăt, … mà không bị tính thêm phí, hoặc phí rẻ hơn so với nhà hàng, khách sạn. Lợi
thế này đã khiến cho Airbnb phát triển rộng khắp trên toàn thế giới, và ở thế cạnh
tranh khốc liệt so với dịch vụ nhà hàng, khách sạn truyền thống, đặc biệt ở phân
khúc tầm thấp và trung. Ở Việt Nam cũng có đại diện là Luxstay, được đầu tư vòng
hạt giống bởi quỹ Nhật Genesia Ventures.
1.2.4. Dịch vụ thuê chung xe
Nếu đại diện tiêu biểu của dịch vụ cho thuê nhà/ căn hộ là Airbnb thì khi
nhắc đến dịch vụ thuê chung xe, không ai không biết đến Uber hoặc Grab. Hai
doanh nghiệp khổng lồ này cũng đã có mặt tại Việt Nam và gây ra một cuộc cách
mạng đối với thói quen sử dụng xe thuê của người Việt. Các công ty thuộc loại hình
này tận dụng nguồn tài nguyên ô tô, xe gắn máy ít được đưa vào lưu thông và người
lao động không kiếm được việc làm trong cộng đồng. Ví dụ như Uber, thời gian
đầu, Uber chỉ kinh doanh trong lĩnh vực xe hạng sang, sau đó mở rộng ra các lĩnh
vực khác như xe bình dân, xe SUV, vận chuyển … Mức giá của Uber thường rẻ hơn
các dịch vụ cung cấp bởi công ty truyền thống. Hiện nay, Uber được định giá 18,2
tỷ USD.
Tham gia mô hình này, chủ sở hữu xe ô tô, xe gắn máy thực hiện việc đăng
ký trên nền tảng, làm bài kiểm tra khả năng lái xe. Khách hàng muốn đặt xe thông
qua nền tảng này sẽ chọn ứng dụng Uber, địa chỉ nơi đi, nơi đến và nhấn nút đặt xe,
ứng dụng này sẽ lựa chọn ngẫu nhiên một phương tiện gần với khách hàng nhất.