Hoàn thiện cơ cấu chi ngân sách để chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh Bình Thuận theo hướng CNH - HĐH - Pdf 66


LỜI MỞ ĐẦU
1. Ý nghĩa của đề tài
Ngày nay, ngân sách Nhà nước (NSNN) đã trở thành công cụ điều chỉnh
kinh tế vĩ mô cực kỳ quan trọng của Nhà nước, nó giữ vai trò quyết định chi phối
đến sự phát triển kinh tế, thực hiện công bằng xã hội. Trong điều kiện nền kinh tế
nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa; để quản lý ngân sách một cách hiệu quả, trước
hết cần phải nhận thức lại những vấn đề lý luận về ngân sách Nhà nước, đổi mới
nội dung hoạt động của nó gắn với điều kiện của cơ chế thị trường và định hướng
phát triển kinh tế - xã hội.
Chi ngân sách là một trong hai nội dung cấu thành NSNN, giữ vai trò bảo
đảm cho các cấp chính quyền địa phương thực hiện các nhiệm vụ chính trị, kinh tế
- xã hội trên địa bàn. Trong quản lý, điều hành ngân sách, điều chỉnh tỷ trọng các
nội dung chi trong cơ cấu chi NSNN sẽ có tác động rất lớn đến mối tương quan
giữa tích lũy với tiêu dùng, giữa mục tiêu tăng trưởng với đảm bảo công bằng xã
hội. Do vậy, hoàn thiện cơ cấu chi NSNN là một trong những giải pháp quan trọng
để chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH.
Thời gian qua, công tác điều hành cơ cấu chi NSNN của tỉnh Bình Thuận
đã có những thay đổi theo hướng tích cực, mặc dù cân đối ngân sách còn rất khó
khăn nhưng tỷ trọng cơ cấu chi đầu tư phát triển trong cơ cấu chi NSNN hàng năm
không ngừng tăng, góp phần đáng kể vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo đà
cho tăng trưởng kinh tế, ổn định đời sống xã hội. Tuy vậy, bên cạnh mặt tích cực
vẫn còn bộc lộ những tồn tại trong điều hành cơ cấu chi NSNN, đó là: việc hoạch
định kế hoạch chi ngân sách còn chưa đãm bảo tình khoa học, một số nội dung
trong cơ cấu chi NSNN còn chưa phù hợp, chưa đáp ứng đầy đủ nhiệm vụ phát
triển kinh tế - xã hội của địa phương. Do vậy, tiếp tục hoàn thiện cơ cấu chi NSNN
để đáp ứng những đòi hỏi phát triển kinh tế - xã hội trong giai đoạn mới vẫn đang
là vấn đề mang tính cấp bách.
Xuất phát từ yêu cầu về thực tiễn quản lý NSNN tại địa phương đang công
tác, sau ba năm được học tập và trang bị những kiến thức lý luận sau đại học, tôi

phương pháp phân tích tổng hợp, phương pháp hệ thống.
5. Kết cấu của luận văn
Kết cấu của luận văn ngoài lời mở đầu và phần kết luận gồm có 3 chương :
Chương I: Lý thuyết cơ bản về NSNN và cơ cấu chi NSNN với chuyển
dịch cơ cấu kinh tế
Chương II: Thực trạng về cơ cấu chi ngân sách của tỉnh Bình Thuận
Chương III: Các giải pháp hoàn thiện cơ cấu chi ngân sách để chuyển dịch
cơ cấu kinh tế của tỉnh Bình Thuận theo hướng CNH - HĐH.
Do khả năng và thời gian còn hạn chế nên luận văn không tránh khỏi còn
nhiều sai sót. Nhiều vấn đề trong Luận văn đặt ra nhưng chưa được nghiên cứu,
giải quyết thật thấu đáo. Kính mong các Thày, Cô, các đồng nghiệp quan tâm, cho
ý kiến để Luận văn được hoàn thành và mang ý nghĩa thiết thực hơn.
CHƯƠNG I

LÝ THUYẾT CƠ BẢN VỀ NSNN VÀ CƠ CẤU CHI NSNN

Trang
2

VỚI CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ
1.1. Ngân sách Nhà nước
1.1.1. Bản chất NSNN
1.1.1.1. Khái niệm về NSNN
NSNN là một bộ phận quan trọng nhất của tài chính Nhà nước (TCNN).
Tuy nhiên, TCNN đã hình thành trước và từ rất lâu so với NSNN, nó gắn liền với
sự ra đời của Nhà nước và cùng với sự xuất hiện của tiền tệ, làm tiền tệ hóa các
khoản thuế và chi tiêu của Nhà nước.
Nguyên nhân xuất hiện của TCNN: Quá trình sản xuất xã hội trải qua bốn
khâu là sản xuất, phân phối, trao đổi và tiêu dùng.
Trong lịch sử phát triển của loài người, ở giai đoạn đầu chưa có sự phân

định bắt buộc mọi khoản chi phải theo dự toán, mọi khoản thu phải theo luật định,
chấm dứt sự tùy tiện trong quản lý thu- chi của Nhà nước.
Khi nói về ngân sách Nhà nước, trên thế giới có nhiều cách định nghĩa về
ngân sách, chẳng hạn như:
Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (cũ) viết: ngân sách là bảng liệt
kê các khoản thu, chi bằng tiền trong một giai đoạn nhất định của Nhà nước. Mọi
kế hoạch thu chi bằng tiền của bất kỳ một xí nghiệp, cơ quan hay một cá nhân nào
trong một giai đoạn nhất định.
Theo từ điển Novean Petit Lavosse của Pháp thì ngân sách được giải thích
là bảng liệt kê dự kiến các khoản thu nhập và chi trả của một cơ quan hay một công
xã.
Theo từ điển của nước Anh giải thích thuật ngữ ngân sách là bảng kế toán
về khả năng thu nhập (tiền thu vào) và chi tiêu (tiền xuất ra) trong một giai đoạn
nhất định của tương lai, thường là một năm.
Một nhà kinh tế học người Anh khác lại cho rằng NSNN là bảng kê các
khoản dự thu và dự chi trong thời kỳ nào đó, thường là một năm.
Ở nước ta, một số ý kiến trước đây cho rằng NSNN là kế hoạch tài chính cơ
bản của Nhà nước, là quỹ tiền tệ tập trung lớn nhất của Nhà nước, là bộ phận chủ
đạo trong hệ thống tài chính.
Tất cả những cách nhìn nhận như trên về NSNN là chưa thật sự đầy đủ cả
về mặt xác định khái niệm cũng như làm rõ bản chất NSNN.
Khái niệm về NSNN được hiểu đầy đủ theo Luật NSNN là toàn bộ các
khoản thu, chi của Nhà nước đã được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền quyết định
và được thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng nhiệm vụ
của Nhà nước.
1.1.1.2. Bản chất NSNN
Các biểu hiện của NSNN rất phong phú, đa dạng nhưng cũng rất rời rạc; đó
là bảng tổng hợp các khoản thu, khoản chi của Nhà nước, là mức động viên các
nguồn lực tài chính vào tay Nhà nước, những khoản đóng góp của các thành viên
trong xã hội cho Nhà nước và cấp phát kinh phí của Nhà nước cho mỗi thành viên,

tĩnh thể hiện số liệu các nguồn tài chính được tập trung vào ngân sách Nhà nước
mà chúng ta có thể xác định được vào bất kỳ thời điểm nào. Mặt động thể hiện các
quan hệ phân phối dưới hình thức giá trị gắn liền với quỹ tiền tệ tập trung của ngân
sách Nhà nước, đó là số lượng các nguồn tài chính được tập trung vào ngân sách và
từ ngân sách phân bổ các nguồn tài chính cho nền kinh tế quốc dân.
Thứ ba, xét về nội dung quản lý thì NSNN là kế hoạch tài chính cơ bản của
Chính phủ. NSNN là một kế hoạch tài chính bao gồm các khoản thu và chi của
Nhà nước được mô tả dưới hình thức cân đối bằng giá trị tiền tệ bao quát ba khu
vực chủ yếu của nền kinh tế là Nhà nước, doanh nghiệp và hộ gia đình. Phần thu
thể hiện các nguồn tài chính được huy động vào ngân sách Nhà nước. Phần chi thể
hiện chính sách phân phối các nguồn tài chính đã huy động để thực hiện các mục
tiêu kinh tế vĩ mô của quốc gia. Ngân sách Nhà nước được lập và thực hiện cho
một thời gian nhất định, thường là một năm, được Quốc hội phê chuẩn và thông qua.

Trang
5Thứ tư, xét về mặt pháp lý thì NSNN là một đạo luật tài chính có thời hạn
trong thời gian là một năm.
Thứ năm, cơ sở quyết định của ngân sách là kết quả hoạt động của nền kinh
tế quốc dân.
Từ đó, có thể đi đến kết luận một cách toàn diện và khoa học: Bản chất của
NSNN, đó là tổng thể các mối quan hệ kinh tế được phát sinh trong quá trình phân
phối bằng giá trị tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân để hình thành quỹ
tiền tệ tập trung nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ kinh tế - xã hội của
Nhà nước trong một thời kỳ nhất định, thường là một năm.
1.1.2. Cơ cấu NSNN
NSNN là một chỉnh thể kinh tế - xã hội được hợp thành bởi hai nội dung cơ
bản là thu và chi; các nội dung lớn đó lại được hình thành từ các nội dung nhỏ. Do

khắc phục chủ yếu bằng cách in thêm tiền giấy phát hành vào lưu thông. Tuy nhiên
biện pháp này không những không giải quyết được nguồn gốc của vấn đề mà còn
làm cho đồng tiền mất giá nhanh, lạm phát cao và bội chi ngân sách ngày càng
tăng. Ngày nay, các nước thường sử dụng biện pháp thắt chặt chi tiêu, vay trong
nước hoặc nước ngoài để bù đắp thiếu hụt ngân sách thông qua tín dụng Nhà nước;
đây được coi như biện pháp tốt nhất để khắc phục bội chi ngân sách.
Đối với những nước có nền kinh tế đã phát triển, nguồn thu ngân sách dồi
dào, đã vượt quá nhu cầu chi thì lại thực hiện theo phương châm: chi quyết định
thu, thu bao nhiêu là do nhu cầu chi quyết định.
Mối quan hệ giữa tổng thu và tổng chi với tổng sản phẩm xã hội được thể
hiện thông qua tỷ lệ động viên vào NSNN trên tổng sản phẩm quốc nội (GDP) hay
tổng sản phẩm quốc gia (GNP). Tổng thu NSNN càng lớn nếu GDP hay GNP và tỷ
lệ động viên càng cao. Tỷ lệ động viên vào NSNN ở mỗi nước trong từng thời kỳ
là không giống nhau. Tại các nước có nền kinh tế phát triển cao, tỷ lệ động viên
vào NSNN có thể lên tới trên 50%, tuy nhiên tại các nước kém phát triển thì tỉ lệ
này chỉ vào khoảng từ 10% – 25%.
Thứ hai, cơ cấu NSNN được xem xét trong các mối quan hệ bên trong với
các nội dung cơ bản của nó là thu và chi.
Thu NSNN là một số tiền Nhà nước huy động vào ngân sách mà không bị
ràng buộc bởi trách nhiệm hoàn trả trực tiếp cho đối tượng nộp. Phần lớn các
khoản thu NSNN đều mang tính chất cưỡng bức (bắt buộc), phần còn lại là các
nguồn thu khác của Nhà nước.
Thu NSNN được cấu thành bởi nhiều nội dung cụ thể khác nhau như thu từ
thuế, phí, lệ phí; các khoản đóng góp của các tổ chức và cá nhân; các khoản viện
trợ; các khoản thu khác theo quy định của pháp luật. Trong đó, thuế là khoản thu
cơ bản và chủ yếu của NSNN.
Ở nước ta trong thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch hóa tập trung trước đây,
nguồn thu từ thuế chưa được coi trọng nên kết quả thuế thường chỉ đóng góp dưới
50% trong tổng thu NSNN. Từ khi chuyển sang cơ chế thị trường, chúng ta đã xác
định đúng vai trò của thuế và coi đây là nguồn thu chủ yếu của NSNN; các khoản

đầu tư phát triển sản xuất …. Tất cả các nhu cầu chi tiêu tài chính này của Nhà
nước đều được đáp ứng bằng các nguồn thu từ thuế và các nguồn thu khác.
Như vậy, có thể thấy chức năng của NSNN gồm:
Thứ nhất, NSNN có chức năng huy động các nguồn tài chính và bảo đảm
các nhu cầu chi tiêu theo dự toán của NSNN.
Thứ hai, NSNN có chức năng thực hiện cân đối giữa các khoản thu và các
khoản chi bằng tiền của Nhà nước.
1.1.4. Vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường
Vai trò của NSNN được xác định trên cơ sở bản chất, chức năng và các
nhiệm vụ cụ thể của nó trong từng giai đoạn. Nói một cách khác, vai trò của NSNN
chính là sự vận dụng các chức năng của nó vào hoạt động thực tiễn. Xuất phát từ

Trang
8quan điểm trên, có thể thấy vai trò của NSNN trong nền kinh tế thị trường hiện nay
như sau:
1.1.4.1. NSNN có vai trò khai thác các nguồn lực tài chính để đảm bảo
nguồn tài chính cho hoạt động của bộ máy Nhà nước và thực hiện chức năng quản
lý Nhà nước.
Các nguồn lực tài chính mà NSNN cần khai thác hiệu quả bao gồm cả
những nguồn lực tài chính hữu hình lẫn các nguồn lực tài chính vô hình trong nền
kinh tế quốc dân.
Các nguồn lực tài chính hữu hình là những nguồn vốn bằng tiền hoặc đang
luân chuyển hoặc đang tích lũy cần khai thác có hiệu quả để đầu tư phát triển.
Trong đó, vốn đang luân chuyển gồm thuế, vốn lưu động, vốn cố định, vốn đang
luân chuyển trên thị trường tài chính của ngân hàng, các công ty tài chính, thị
trường chứng khoán. Vốn đang tích lũy gồm dự trữ quốc gia, dự trữ bắt buộc, tiền
tiết kiệm, các quỹ dự phòng, quỹ tích lũy của các doanh nghiệp, bảo hiểm phí của

Giá cả các hàng hóa do Nhà nước quy định cũng có vai trò quan trọng trong
điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Dựa theo nguyên lý trên từng mặt hàng cá biệt, giá cả
có thể tách rời giá trị; Nhà nước quy định giá một số mặt hàng quan trọng thiết yếu
thoát ly khỏi quan hệ cung cầu, hướng vào lợi ích quốc kế dân sinh nhằm ổn định
sản xuất và đời sống. Nhà nước quy định giá cả hàng hóa cao hơn giá trị khi cần
điều tiết lại thu nhập và thực hiện chuyển dịch tích lũy từ khu vực này sang khu
vực khác. Trường hợp cần ổn định sức mua của người dân, ổn định sản xuất, ổn
định tiền tệ thì Nhà nước quy định giá cả hàng hóa thấp hơn giá trị.
Trợ giá là biện pháp Nhà nước mua hàng hóa của người sản xuất với giá có
lợi cho họ, mục đích là nhằm ổn định, phát triển sản xuất. Nhà nước bao tiêu sản
phẩm hàng hóa đối với những doanh nghiệp thuộc những ngành nghề mới cần
khuyến khích để giúp tăng cường khả năng đứng vững, phát triển ổn định và nâng
cao sức cạnh tranh.
Tỷ giá hối đoái cũng là công cụ hữu hiệu để điều tiết kinh tế vĩ mô. Trên
thế giới có hai cơ chế hình thành tỷ giá là tỷ giá biến động trong một khung với
biên độ nhất định hay còn gọi là tỷ giá có sự quản lý của Nhà nước và tỷ giá thả
nổi do ngân hàng xác định linh hoạt. Ở VN, chúng ta thực hiện cơ chế tỷ giá thả
nổi có sự quản lý của Nhà nước, ngân hàng Nhà nước xác định và công bố tỷ giá
hối đoái của đồng VN. Thông qua chính sách tỷ giá hối đoái, Nhà nước có thể
khuyến khích nhập khẩu hay xuất khẩu trong từng giai đoạn.
Nhà nước sử dụng dự trữ quốc gia như một công cụ để bảo đảm an ninh
kinh tế. Dự trữ quốc gia có thể là ngoài tệ mạnh, vàng, đá quý và cả những hàng
hóa thiết yếu cho xã hội như lương thực, nguyên liệu, nhiên liệu …
Lãi suất tín dụng là công cụ để điều tiết lưu thông tiền tệ, ổn định giá cả.
Trong nền kinh tế thị trường, công cụ lãi suất tín dụng được các Chính phủ sử dụng
khá phổ biến và hiệu quả. Với chính sách lãi suất tín dụng phù hợp, Chính phủ có
thể khuyến khích tích lũy hay tiêu dùng, thu hút nguồn vốn đầu tư từ trong nước và
ngoài nước.
1.1.4.3. NSNN cung cấp nguồn kinh phí để Nhà nước đầu tư cho cơ sở kết
cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, để trên cơ sở

vấn đề xã hội như y tế, giáo dục, văn hóa, xóa đói giảm nghèo, trợ cấp cho các đối
tượng chính sách và chi cho các nhiệm vụ xã hội khác. 1.2. Cơ cấu chi NSNN
1.2.1. Khái niệm về cơ cấu chi NSNN
Chi NSNN là một chỉnh thể kinh tế - xã hội phản ánh một trong hai mặt
hoạt động chủ yếu của NSNN với nhiều nội dung chi cụ thể hợp thành một cơ cấu
nhất định.
Cơ cấu chi NSNN là chỉ trình tự và các quan hệ (tỷ lệ, tỷ trọng …) giữa các
nội dung chi NSNN trong từng khoảng thời gian, điều kiện và hoàn cảnh nhất định

Trang
11nhằm đáp ứng yêu cầu thực hiện các chức năng, nhiệm vụ cụ thể của Nhà nước
trong từng thời kỳ.
1.2.2. Nội dung cơ cấu chi NSNN
Nội dung cơ cấu chi NSNN bao gồm: các yếu tố cấu thành chi NSNN và
trình tự, tỷ trọng của các nội dung chi trong cơ cấu chi NSNN.
1.2.2.1. Các yếu tố cấu thành chi NSNN
Các nội dung chi NSNN chính là các yếu tố cấu thành chi NSNN. Trong
đó, có những nội dung chi luôn luôn được duy trì ổn định trong suốt lịch sử ra đời
và phát triển của NSNN như chi duy trì bộ máy Nhà nước, chi an ninh quốc phòng;
tuy nhiên cũng có nội dung chi NSNN chỉ phát sinh và tồn tại trong một thời gian
nhất định, đó là những nội dung chi có tính chất xã hội như chi trợ cấp, hỗ trợ ….
Căn cứ vào những nguyên tắc khác nhau, có thể phân loại về chi NSNN
theo những cách khác nhau. Sau đây là một số cách phân loại chi NSNN chủ yếu:
a) Phân loại chi ngân sách theo tính chất phát sinh

- Tài trợ cho các tổ chức chính trị xã hội - nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ
chức xã hội - nghề nghiệp theo quy định của pháp luật;
- Chi trả lãi tiền vay của Chính phủ;
- Chi viện trợ;
- Các khoản chi khác theo quy định của pháp luật.
Chi không thường xuyên: Là những khoản chi phát sinh không có tính chất
thường xuyên và phần lớn chúng phát sinh và được sử dụng trong thời gian dài.
Quy mô của chi không thường xuyên phụ thuộc vào quy mô của NSNN và
quy mô của chi thường xuyên.
Theo Luật Ngân sách năm 2002, chi không thường xuyên bao gồm các nội
dung:
- Chi đầu tư phát triển: Các khoản đầu tư xây dựng các công trình kết cấu
hạ tầng kinh tế - xã hội không có khả năng thu hồi vốn; đầu tư hỗ trợ cho các
doanh nghiệp, các tổ chức kinh tế, các tổ chức tài chính của Nhà nước; góp vốn cổ
phần, liên doanh vào các doanh nghiệp thuộc lĩnh vực cần thiết có sự tham gia của
Nhà nước; chi bổ sung dự trữ Nhà nước.
- Chi cho vay, hỗ trợ quỹ và tham gia góp vốn của Chính phủ;
- Chi trả nợ gốc các khoản tiền vay trong nước và vay nước ngoài của
Chính phủ.
- Các khoản chi không thường xuyên khác.
Cách phân loại chi ngân sách theo tính chất phát sinh có ưu điểm là giúp
công tác điều hành ngân sách có thể tổng hợp, khái quát các khoản chi phát sinh, từ
đó sắp xếp trật tự ưu tiên cho phù hợp. Nhược điểm là cách phân loại này chưa
giúp thấy rõ nội dung của từng khoản chi.
b) Phân loại chi ngân sách theo mục đích sử dụng cuối cùng

Trang
13
Phân loại chi NSNN theo mục đích sử dụng cuối cùng có ưu điểm là có thể
thấy khá rõ nội dung kinh tế của các khoản chi. Tuy nhiên, hạn chế của cách phân
loại này là độ chính xác không cao do có những nội dung khó phân định được là
chi tích lũy hay chi tiêu dùng.
c) Phân loại chi NSNN theo tính chất cung cấp hàng hóa dịch vụ cho xã hội.

Trang
14Theo tiêu chí này, chi NSNN được phân loại theo tính chất cung cấp hàng
hóa dịch vụ cá nhân và hàng hóa dịch vụ công cộng.
Hàng hóa dịch vụ cá nhân là những hàng hóa chủ yếu được cung cấp riêng
rẽ cho từng cá nhân và mang tính loại trừ cao.
Hàng hóa dịch vụ công cộng là những hàng hóa phục vụ cho nhiều người
cùng sử dụng và khó hoặc không thể loại trừ việc sử dụng chúng của một người
nào đó. Hàng hóa dịch vụ công cộng lại được phân loại thành hàng hóa dịch vụ
công cộng thuần túy và hàng hóa dịch vụ công cộng không thuần túy.
Hàng hóa dịch vụ công cộng thuần túy có đặc tính: không thể thực hiện
được định xuất sử dụng chúng, tức là không thể phân bổ theo khẩu phần để sử
dụng; không cần thiết việc định xuất sử dụng, tức là không cần thiết loại trừ bất cứ
người tiêu dùng nào vì tiêu dùng của một cá nhân không ảnh hưởng và làm giảm
tiêu dùng của người khác.
Hàng hóa dịch vụ công cộng không thuần túy là những loại hàng hóa dịch
vụ công cộng không có những đặc tính trên.
1.2.2.2. Trình tự và tỷ trọng của các nội dung chi trong cơ cấu chi NSNN
a) Trình tự sắp xếp của các nội dung chi trong cơ cấu chi NSNN
Trong cơ cấu chi NSNN, các nội dung chi được sắp xếp theo trình tự:
Trước hết là những nội dung chi mang tính chất bắt buộc để duy trì sự tồn tại và
hoạt động bình thường của bộ máy Nhà nước. Tiếp theo là những nội dung chi cho

được thay đổi liên tục tùy theo thời kỳ, tùy thuộc quy mô ngân sách và nhu cầu chi
NSNN. Trong điều kiện của nước ta hiện nay nguồn thu còn chưa đáp ứng đủ nhu
cầu chi, việc xác định tỷ trọng hợp lý của các nội dung chi là một nhiệm vụ rất khó
khăn nhưng cũng rất cần thiết, mang ý nghĩa to lớn trong công tác điều hành và
quản lý ngân sách.
1.2.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu chi NSNN
Để có những chính sách đúng đắn trong xác định cơ cấu chi ngân sách
nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cần phải nghiên cứu các nhân tố tác động và ảnh
hưởng tới cơ cấu chi ngân sách. Có rất nhiều yếu tố tác động đến cơ cấu chi
NSNN, trong đó có thể kể đến một số nhân tố có tầm ảnh hưởng chủ yếu đến cơ
cấu chi NSNN là:
1.2.3.1. Nhân tố chính trị
Nguồn gốc ra đời và quá trình phát triển của NSNN gắn liền với sự tồn tại
và vai trò của Nhà nước trong từng thời kỳ lịch sử, NSNN là do Nhà nước toàn
quyền quyết định. Nhà nước ngoài việc duy trì ngân sách để đảm bảo cho sự tồn tại
của mình, còn động viên động viên tất cả các thành viên của xã hội tham gia vào
phát triển kinh tế - xã hội, phục vụ cho lợi ích chung của xã hội.
Tất cả các hình thức Nhà nước đều bao gồm chính thể, cấu trúc Nhà nước
và chế độ chính trị; trong đó, chế độ chính trị mang tính đặc trung cho mỗi loại
hình Nhà nước và giữ vai trò quan trọng nhất. Mỗi chế độ chính trị khác nhau thì
có những chức năng, nhiệm vụ và mục tiêu khác nhau; theo đó, cơ cấu chi NSNN
phụ thuộc rất nhiều vào hình thức tổ chức Nhà nước và các chức năng, nhiệm vụ
mà nó phải thực hiện. Do vậy NSNN nói chung và cơ cấu chi NSNN nói riêng chịu
ảnh hưởng trực tiếp bởi nhân tố chính trị trong từng giai đoạn.

Trang
161.2.3.2. Nhóm nhân tố kinh tế - xã hội

Vai trò của Nhà nước trong khu vực kinh tế công cộng ngày càng trở lên
quan trọng theo quá trình phát triển của nền kinh tế. Đối với các quốc gia phát
triển, Chi NSNN chủ yếu là để đầu tư cung cấp các hàng hóa, dịch vụ công cộng
cho đời sống kinh tế - xã hội.

Trang
17Đối với VN, trước đây trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chúng ta
mới chỉ chủ yếu xác định tiêu thức phân bổ theo đối tượng hưởng thụ NSNN mà
chưa chú trọng đúng mức đến hiệu quả cuối cùng của chi NSNN, đó là thỏa mãn
nhu cầu đời sống kinh tế - xã hội về hàng hóa, dịch vụ công cộng. Ngày nay cùng
với tiến trình đổi mới, trong điều kiện các nguồn lực quốc gia còn giới hạn, cơ cấu
chi NSNN cũng phải được sắp xếp lại theo định hướng đáp ứng yêu cầu ngày càng
tăng của đời sống kinh tế - xã hội về nhu cầu hàng hóa, dịch vụ công cộng.
Như vậy, có thể nói nhu cầu của đời sống kinh tế - xã hội đòi hỏi về hàng
hóa, dịch vụ công cộng có ảnh hưởng lớn đến cơ cấu chi NSNN.
1.2.4. Tác động của cơ cấu chi NSNN với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu
kinh tế
Một trong những vai trò quan trọng của NSNN là góp phần chuyển dịch cơ
cấu kinh tế theo hướng CNH – HĐH.
Cơ cấu kinh tế có thể được hiểu là tổng thể các yếu tố, các bộ phận hợp
thành với các vị trí, tỷ trọng tương ứng giữa các bộ phận và mối quan hệ qua lại
giữa các bộ phận trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội. Cơ cấu kinh tế có thể là
cơ cấu ngành, cơ cấu các vùng kinh tế và cơ cấu giữa các thành phần kinh tế.
Vai trò quan trọng của ngân sách trong tác động đến cơ cấu chi NSNN thể
hiện qua việc Nhà nước định hướng, xác định tỷ trọng các nội dung chi ngân sách
một cách hợp lý. Tác động của cơ cấu chi NSNN với mục tiêu chuyển dịch cơ cấu
kinh tế theo hướng CNH – HĐH được thể hiện trong từng lĩnh vực như sau:

qua điều chỉnh cơ cấu chi NSNN, ưu tiên đầu tư, hỗ trợ cho các cùng có điều kiện
kinh tế - xã hội khó khăn, vùng sâu, vùng xa. Các khoản chi ngân sách của Nhà
nước nếu bố trí hợp lý sẽ có tác dụng thúc đẩy thu hút vốn đầu tư ngoài ngân sách
từ những khu vực khác, tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất kinh doanh, khai thác các
lợi thế, tiềm năng của mỗi vùng để phát triển kinh tế - xã hội.
Bản thân nền kinh tế thị trường với tính tự phát của nó luôn dẫn đến xu thế
phân hóa giàu - nghèo trong xã hội ngày càng sâu sắc, khoảng cách về trình độ
phát triển kinh tế - xã hội giữa thành thị với nông thôn, giữa đồng bằng với miền
núi ngày càng tăng. Chính vì vậy, vai trò định hướng của Nhà nước thông qua điều
hành cơ cấu chi NSNN có vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ và tạo điều kiện cho
các vùng phát triển cân đối.
1.2.4.4. Cơ cấu chi NSNN có vai trò bảo đảm cho kinh tế Nhà nước giữ vai
trò chủ đạo, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác phát triển theo đúng
định hướng

Trang
19Trong công cuộc đổi mới, quan điểm của Đảng ta là khuyến khích và tạo
điều kiện cho mọi thành phần kinh tế phát triển bình đẳng, tuy nhiên kinh tế Nhà
nước phải giữ vai trò chủ đạo.
Vai trò chủ đạo của thành phần kinh tế Nhà nước thể hiện ở chỗ các doanh
nghiệp Nhà nước phải nắm giữ những lĩnh vực quan trọng thiết yếu có tính quyết
định đến phát triển kinh tế - xã hội, giữ vững an ninh quốc phòng. Để thực hiện
nhiệm vụ trên, cơ cấu chi NSNN được điều hành thông qua những khoản chi hỗ trợ
về vốn, trợ giá để giúp doanh nghiệp đứng vững và nâng cao năng lực cạnh tranh.
Bên cạnh việc hỗ trợ cho các doanh nghiệp Nhà nước, chi NSNN cũng
nhằm vào mục tiêu hỗ trợ, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế khác đầu tư
vào những ngành, những lĩnh vực, những vùng cần khuyến khích theo chiến lược

việc phân tích hiện trạng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện cơ cấu chi NSNN tỉnh
Bình Thuận nhằm chuyển dịch cơ cấu kinh tế của Tỉnh theo hướng CNH – HĐH.

CHƯƠNG II
THỰC TRẠNG VỀ CƠ CẤU CHI NSNN TẠI TỈNH BÌNH THUẬN
2.1. Vài nét về đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của tỉnh
2.1.1. Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1. Vị trí địa lý: Bình Thuận là một tỉnh nằm ven biển của cực Nam
Trung bộ, có mối liên hệ chặt chẽ với vùng Đông Nam bộ; phía Đông Bắc và Bắc
giáp tỉnh Ninh Thuận, phía Bắc và Tây Bắc giáp tỉnh Lâm Đồng, phía Tây giáp
tỉnh Đồng Nai, phía Tây Nam giáp tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, phía Đông và Đông
Nam giáp Biển Đông với đường bờ biển dài 192 Km. Ngoài khơi tỉnh Bình Thuận
có đảo Phú Qúy cách thành phố Phan Thiết 120 Km.

Tỉnh Bình Thuận nằm giữa 2 thành phố lớn là thành phố Hồ Chí Minh và
thành phố Nha Trang, có quốc lộ 1A, đường sắt thống nhất Bắc Nam chạy qua nối
liền với các tỉnh phía Bắc và phía Nam của cả nước, có quốc lộ 28 nối liền thành

Trang
21


xây dựng với trữ lượng 75 triệu m
3
.
2.1.2. Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1.2.1. Tình hình xã hội
Cấp hành chính: Tỉnh Bình Thuận (cùng với tỉnh Ninh Thuận) trước đây là
tỉnh Thuận Hải, được tách ra từ năm 1992 hiện gồm có thành phố Phan Thiết và 8
huyện, trong đó có 1 huyện đảo là Phú Quý. Do địa hình tự nhiên vừa có núi, vừa
có biển nên Bình Thuận được thiên nhiên ưu đãi nhiều đặc sản riêng có, tuy nhiên
toàn tỉnh có đến 5 huyện được công nhận là huyện miền núi với những khó khăn
trong công tác quản lý xã hội và đầu tư phát triển kinh tế.
Dân số và nguồn nhân lực: Theo số liệu thống kê 2004, dân số của tỉnh
Bình Thuận là 1.140.429 người, trong đó dân số sống tại thành thị là 395.381
người (chiếm 34,67%), dân số sống tại nông thôn là 745.048 người (chiếm
65,33%). Toàn tỉnh có hơn 30 dân tộc, trong đó dân tộc Kinh chiếm 93%, còn lại
các dân tộc khác như Chăm, Hoa, Tày, Nùng .... Mật độ dân cư là 146 người/km
2
.
Tổng số người trong độ tuổi lao động của tỉnh là 652.990 người, chiếm
57,25% dân số; trong đó, số lao động có khả năng làm việc là 640.844 người, số
lao động trong độ tuổi lao động chưa có việc làm là 26.996 người.

Trang
22Thu nhập bình quân trên đầu người của tỉnh Bình Thuận hiện nay khoảng
400 USD/người .
2.1.2.2. Tình hình phát triển kinh tế của tỉnh 10 năm qua
Giai đoạn từ năm 1996 đến năm 2000:

Thương mại, dịch vụ 383 441 507 579 621 683

Trang
23GDP – Giá thực tế 1.659 1.879 2.139 2.490 2.723 3.101
Nông lâm, ngư nghiệp 827 888 974 1.113 1190 1301
Công nghiệp, xây dựng 340 405 465 534 597 701
Thương mại, dịch vụ 492 586 700 843 936 1099
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Thuận).
Nhìn chung trong giai đoạn này, nền kinh tế tăng trưởng đạt yêu cầu so với
kế hoạch đề ra, cơ cấu kinh tế đã có chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng
ngành công nghiệp, dịch vụ nhưng còn chậm. Nền kinh tế chưa ổn định vững chắc,
chưa thoát khỏi tình trạng của nền sản xuất nhỏ, tỷ trọng ngành nông lâm nghiệp
trong cơ cấu kinh tế còn chiếm cao so với cả nước và khu vực. Kết cấu hạ tầng còn
yếu kém và thấp xa so với yêu cầu phát triển. Đời sống của nhân dân, nhất là đồng
bào ở các vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa, vùng căn cứ kháng chiến vẫn còn
gặp nhiều khó khăn. Nguồn nhân lực tại chỗ mất cân đối về số lượng, chất lượng.
Trình độ chuyên môn, trình độ quản lý còn thiếu và yếu ở nhiều lĩnh vực. Tỷ lệ
thất nghiệp còn ở mức cao (năm 2000 là 6,17%).
Tài chính, tiền tệ còn mất cân đối và thiếu hụt, tích lũy từ nội bộ nền kinh
tế mới chỉ giải quyết mức tối thiểu nhu cầu chi thường xuyên. Thị trường tiêu thụ
sản phẩm không ổn định.
Giai đoạn từ năm 2001 đến nay:
Trong 5 năm 2001 – 2005, nền kinh tế của tỉnh Bình Thuận đã tăng trưởng
khá, chất lượng tăng trưởng một số ngành và lĩnh vực kinh tế - xã hội đã được cải
thiện so với thời gian trước đây.
Tổng sản phẩm nội tỉnh (GDP) bình quân tăng 12,05%, cao hơn so với
Nghị quyết của HĐND tỉnh đề ra là 12%.

– HĐH.
Mặt tồn tại là nền kinh tế phát triển vẫn chưa vững chắc, chưa tạo được sự
bứt phá và chưa tương xứng với tiềm năng sẵn có của địa phương. Nền kinh tế có
tốc độ tăng trưởng khá cao nhưng chất lượng tăng trưởng thấp. Hiệu quả và sức
cạnh tranh của nền kinh tế còn yếu. Địa phương chưa khai thác, phát huy thế mạnh
về kinh tế biển và dịch vụ du lịch.
2.1.2.3. Quá trình chuyển dịch cơ cấu các ngành kinh tế những năm qua
Cơ cấu các ngành kinh tế của tỉnh Bình Thuận còn lạc hậu, tỷ trọng ngành
nông, lâm, ngư nghiệp còn rất lớn trong cơ cấu GDP. Tuy nhiên, trong những năm
qua chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh đã có bước tích cực, đúng theo định hướng
CNH - HĐH (Xem bảng 2.3).
Bảng 2.3: Cơ cấu GDP theo các nhóm ngành kinh tế năm 2001–2005
ĐV tính: %
Ngành kinh tế 2000 2001 2002 2003 2004
Nông lâm, ngư nghiệp 41,96 39,50 39,50 36,49 34,19
Công nghiệp, xây dựng 22,61 23,38 24,25 25,84 27,78
Thương mại, dịch vụ 35,43 36,25 36,25 37,66 38,03
Tổng cộng 100,00 100,00 100,00 100,00 100,00
(Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Bình Thuận 2000 – 2004).

Trang
25

Trích đoạn Tình hình thực hiện ngân sách của tỉnh từn ăm 1996 đến nay Thực trạng cơ cấu chi NSNN của tỉnh từn ăm 1996 đến nay Nhận xét, đánh giá việc bố trí cơ cấu chi NSNN của tỉnh Nguyên nhân tồn tại: Mục tiêu phát triển kinh tế-xã hộ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status