i
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
--------------------------
LUẬN VĂN THẠC SĨ
VẤN ĐỀ HỦY HỢP ĐỒNG TỪ PHÍA NHÀ NHẬP KHẨU VÀ
NHỮNG RỦI RO ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHẬP KHẨU
GỖ NGUYÊN LIỆU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành : Quản trị kinh doanh
Chƣơng trình điều hành cao cấp (EMBA)
NGUYỄN VĂN ĐƢƠNG
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019
ii
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
---------------------
LUẬN VĂN THẠC SĨ
VẤN ĐỀ HỦY HỢP ĐỒNG TỪ PHÍA NHÀ NHẬP KHẨU VÀ
NHỮNG RỦI RO ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP NHẬP KHẨU
GỖ NGUYÊN LIỆU TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Ngành : Quản trị kinh doanh
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU .................................................................vii
PHẦN MỞ ĐẦU ........................................................................................................ 1
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ HỦY HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU
VÀ NHỮNG RỦI RO ĐỐI VỚI CÁC NHÀ NHẬP KHẨU HÀNG HÓA ....... 10
1.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung và các điều khoản chủ yếu của hợp đồng
nhập khẩu ............................................................................................................. 10
1.1.1. Khái niệm ................................................................................................ 10
1.1.2. Đặc điểm .................................................................................................. 11
1.1.3. Nội dung và các điều khoản chủ yếu .................................................... 11
1.2. Nguồn luật điều chỉnh hợp đồng nhập khẩu .............................................. 17
1.2.1. Luật quốc gia .......................................................................................... 17
1.2.2. Điều ƣớc quốc tế ..................................................................................... 19
1.2.3. Tập quán thƣơng mại quốc tế .............................................................. 19
1.2.4. Tiền lệ pháp (án lệ) về thƣơng mại ...................................................... 21
1.3. Các điều kiện hiệu lực của hợp đồng .......................................................... 21
1.4. Chế độ trách nhiệm phát sinh trong hợp đồng ......................................... 23
1.4.1. Các yếu tố cấu thành trách nhiệm ....................................................... 23
1.4.2. Chế độ trách nhiệm do vi phạm hợp đồng nhập khẩu ...................... 24
1.5. Vấn đề hủy hợp đồng nhập khẩu ............................................................... 27
1.5.1. Khái niệm và cơ sở pháp lý của vấn đề hủy bỏ hợp đồng nhập khẩu .
.................................................................................................................. 27
1.5.2. Hậu quả pháp lý phát sinh từ chế tài hủy bỏ hợp đồng .................... 30
1.6. Những rủi ro đối với các nhà nhập khẩu phát sinh từ việc hủy bỏ hợp
iii
đồng ................................................................................................................ 34
1.6.1. Rủi ro pháp lý ........................................................................................ 35
1.6.2. Rủi ro về uy tín kinh doanh .................................................................. 36
iv
3.2.1. Nhóm giải pháp hỗ trợ về pháp lý ....................................................... 70
3.2.2. Nhóm giải pháp để củng cố uy tín kinh doanh ................................... 72
3.2.3. Nhóm giải pháp phòng tránh những biện pháp trả đũa của ngƣời
bán ........................................................................................................... 74
3.3. Đề xuất và kiến nghị với cơ quan nhà nƣớc và các hiệp hội, liên hiệp
ngành hàng ................................................................................................... 75
3.3.1. Đối với cơ quan nhà nƣớc ..................................................................... 75
3.3.2. Đối với hiệp hội ngành hàng ................................................................. 76
KẾT LUẬN ............................................................................................................. 78
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................. 79
PHỤ LỤC 1 : BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN CÁC CHUYÊN GIA, NHÀ
QUẢN LÝ TRONG NGÀNH ................................................................................ 81
PHỤ LỤC 2 : DANH SÁCH PHỎNG VẤN (CÁC CHUYÊN GIA, NHÀ QUẢN
LÝ TRONG NGÀNH) ........................................................................................... 87
PHỤ LỤC 3: KẾT QUẢ PHỎNG VẤN (CÁC CHUYÊN GIA, NHÀ QUẢN LÝ
TRONG NGÀNH) .................................................................................................. 88
v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
1. VIFORES (Vietnam Timber and Forest Product Association) : Hiệp hội Gỗ
và Lâm sản Việt Nam
2. HAWA (Handicraft and Wood Industry Association of Ho Chi Minh City) :
Hiệp hội mỹ nghệ và chế biến gỗ thành phố Hồ Chí Minh
3. FPA BD (The Forest Products Association of Binh Dinh) : Hiệp hội gỗ và
lâm sản tỉnh Bình Định
nhập khẩu gỗ nguyên liệu tại thành phố Hồ Chí Minh, giai đoạn 2019-2023 ... 67
vii
TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Với nhiều năm làm việc tại một văn phòng đại diện ở thành phố Hồ Chí Minh,
là trung gian kết nối cho các đối tác bán gỗ nguyên liệu ở nước ngoài và những
doanh nghiệp nhập khẩu gỗ nguyên liệu trên địa bàn thành phố, cùng các tỉnh lân
cận như Bình Dương, Đồng Nai.., thì vấn đề hủy bỏ hợp đồng khi các bên có khó
khăn, đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến mối quan hệ hợp tác của các doanh nghiệp
Việt Nam và đối tác quốc tế. Từ đó tác giả quyết định xây dựng đề tài: “Vấn đề hủy
hợp đồng từ phía nhà nhập khẩu và những rủi ro đối với các doanh nghiệp nhập
khẩu gỗ nguyên liệu tại thành phố Hồ Chí Minh”, vận dụng những kinh nghiệm
công việc thực tế của bản thân, cùng với các tư liệu từ nhiều nguồn tin cậy, từ đó
xây dựng lên công trình nghiên cứu. Bên cạnh đó sự hướng dẫn khoa học của PGS.
TS. Nguyễn Tiến Hoàng cũng là những gợi mở rất có giá trị giúp tác giả hoàn thiện
đề cương và nội dung của luận văn.
Trong quá trình phân tích đề tài, tác giả sử dụng các phương pháp thu thập dữ
liệu thứ cấp từ các nguồn tin cậy, cùng với sự kết hợp ý kiến của các chuyên gia và
quản lý trong ngành để đưa ra những thông tin phù hợp, sử dụng các phương pháp
thống kê, so sánh và phương pháp phân tích, tổng hợp số liệu để phân tích các nội
dung nghiên cứu và làm rõ thực trạng của vấn đề.
Đứng trên lập trường của cả hai phía, là các doanh nghiệp nhập khẩu gỗ
nguyên liệu tại thành phố Hồ Chí Minh và các đối tác xuất khẩu gỗ từ nước ngoài,
tác giả đã phân tích nhiều khía cạnh từ vấn đề hủy bỏ hợp đồng nhập khẩu, xảy ra
những năm gần đây, như nguyên nhân chủ quan và khách quan, thiệt hại, phản ứng,
rủi ro của mỗi bên khi xảy ra sự việc; đồng thời từ kết quả nghiên cứu , tác giả cũng
đưa ra những dự báo, kiến nghị, giải pháp để phòng ngừa và khắc phục rủi ro phát
sinh, đối với các doanh nghiệp trên địa bàn thành phố, với cơ quan nhà nước và đối
cả gỗ nguyên liệu nhập khẩu lên xuống khá thất thường trong những năm gần đây.
Khi cung – cầu, giá cả thị trường lao dốc, thực tế các doanh nghiệp ngành gỗ,
mà nhất là các doanh nghiệp nhập khẩu gỗ nguyên liệu để kinh doanh thương mại
2
sẽ bị ảnh hưởng đầu tiên. Những khoản lỗ, những khó khăn có thể nhìn thấy ngay
tức thời, khiến họ rất dễ bị động, từ đó phát sinh khá nhiều xung đột, tranh chấp
trong thực hiện các hợp đồng nhập khẩu. Câu chuyện không bán được gỗ, không có
đủ tiền để thanh toán các hợp đồng gỗ nguyên liệu đang chuẩn bị về cảng đã xảy ra
khá nhiều trong vài năm trở lại đây. Thậm chí một số doanh nghiệp đã phải chọn
giải pháp khá tiêu cực là đơn phương hủy bỏ hợp đồng. Chính điều này đã tác động
không nhỏ đến mối quan hệ giữa bên mua (nhập khẩu) và bên bán (xuất khẩu). Khi
phải hứng chịu những rủi ro trong kinh doanh, bên bán (xuất khẩu) họ buộc phải có
những biện pháp phản ứng cũng như đề phòng, thậm chí trả đũa và những điều này
sẽ tác động gây bất lợi ngược lại với các nhà nhập khẩu gỗ nguyên liệu. Thậm chí
những sự việc như vậy còn có ảnh hưởng không nhỏ về uy tín trong kinh doanh của
các đối tác Việt Nam trong con mắt các đối tác nước ngoài.
Chính những vấn đề cấp thiết xuất phát từ thực tiễn nêu trên là lý do để người
viết chọn đề tài “Vấn đề hủy hợp đồng từ phía nhà nhập khẩu và những rủi ro đối
với các doanh nghiệp nhập khẩu gỗ nguyên liệu tại thành phố Hồ Chí Minh” cho
Luận văn Thạc sỹ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài
Các nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu “The coporate culture and its effect on managerial effectiveness in
Vietnam companies” của nhóm tác giả Nguyễn Thanh Phương, Nguyễn Quang Vinh,
Nguyễn Việt Anh từ Đại học Đại Nam, được đăng trên website :
globalbizresearch.org năm 2015, đã chỉ ra nhiều đặc điểm, khía cạnh trong văn hóa
tổ chức, doanh nghiệp và văn hóa kinh doanh, cũng như những ảnh hưởng của nó
Việt Nam”, của tác giả Dương Văn Đức, từ Đại học kinh tế luật – Đại học quốc gia
thành phố Hồ Chí Minh, đã nêu tương đối rõ ràng những quy định, điều khoản thực
hiện, cũng như hậu quả pháp lý từ việc hủy bỏ hợp đồng theo pháp luật trong nước,
đồng thời đã đưa ra những kiến nghị nhằm hoàn thiện định chế trách nhiệm dân sự
trong hợp đồng. Điểm hạn chế của luận văn là nghiêng nhiều về mặt lí thuyết,
không có nhiều case để nghiên cứu cụ thể và làm rõ vấn đề.
Đề tài luận án tiến sỹ luật học “Vi phạm cơ bản hợp đồng theo công ước viên
1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế và định hướng hoàn thiện các quy
4
định có liên quan của pháp luật Việt Nam” của tác giả Võ Sỹ Mạnh thực hiện năm
2015 đã nêu bật nên những cơ sở lý luận, yếu tố cấu thành cũng như các chế tài xử
lý vi phạm hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế theo công ước viên 1980, từ đó đưa
ra những định hướng hòan thiện các quy định có liên quan trong hệ thống pháp luật
Việt Nam. Đề tài cũng nghiêng chủ yếu về mặt lí thuyết, không có nhiều case để
nghiên cứu và minh họa một cách cụ thể.
Năm 2006, TS. Nguyễn Hoàng Ánh, Đại học Ngoại thương Hà Nội thực hiện
đề tài “ Đạo đức kinh doanh tại Việt Nam – thực trạng và giải pháp”. Đề tài tập
trung đi sâu vào nghiên cứu thực trạng về đạo đức kinh doanh tại thời điểm đó,
nhưng các đánh giá còn tương đối chung chung do phần phân tích lý luận chỉ tập
trung vào các khái niệm chứ chưa nghiên cứu nhiều trường hợp thực tế điển hình.
Luận án tiến sỹ kinh tế với đề tài “Phát triển ngành chế biến gỗ vùng Đông
Nam Bộ” được tác giả Trần Văn Hùng (Đại học kinh tế - luật thuộc Đại học quốc
gia thành phố Hồ Chí Minh) thực hiện năm 2016, đã chỉ ra những đặc điểm, tiềm
năng và các thách thức mà các doanh nghiệp chế biến gỗ ở Đông Nam Bộ đang gặp
phải. Từ đó tác giả đề xuất những biện pháp đẩy mạnh phát triển hơn nữa ngành gỗ
trong vùng. Mặt hạn chế của đề tài là nghiên cứu phát triển theo ngắn hạn, dựa trên
những nguồn lực sẵn có, chứ chưa thực sự hướng về một sự phát triển trong lâu dài.
kiến thức, nhưng không trùng lặp với các nguyên cứu đã được công bố.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc phân tích vấn đề hủy hợp đồng từ phía nhà nhập khẩu và nhận
diện những rủi do mà các doanh nghiệp nhập khẩu gỗ nguyên liệu ở thành phố Hồ
Chí Minh có thể đổi mặt, tác giả đề tài này muốn đề xuất các giải pháp nhằm phòng
ngừa, giảm thiểu rủi ro và giải quyết các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng nhập
khẩu gỗ nguyên liệu.
Nhiệm vụ nghiên cứu
Để thực hiện mục đích nghiên cứu, luận văn có những nhiệm vụ như sau :
Một là, hệ thống hóa những lý luận cơ bản về hợp đồng nhập khẩu và vấn đề
hủy hợp đồng nhập khẩu
6
Hai là phân tích những rủi ro đối với các doanh nghiệp nhập khẩu gỗ nguyên
liệu ở thành phố Hồ Chí Minh thông qua những trường hợp điển hình, cũng như chỉ
ra những trách nhiệm liên quan của các đối tác xuất khẩu từ nước ngoài khi bên
mua hủy hợp đồng nhập khẩu .
Ba là dự báo về tình hình kí kết, tổ chức thực hiện và giải quyết các việc phát
sinh trong kí kết hợp đồng nhập khẩu tại các công ty nhập khẩu gỗ nguyên liệu ở
thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
Bốn là, đề xuất các giải pháp nhằm phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro phát sinh
giữa các bên liên quan.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn, là vấn đề hủy hợp đồng từ phía các nhà
nhập khẩu gỗ nguyên liệu tại thành phố Hồ Chí Minh và những rủi ro có thể phát
sinh.
Phạm vi nghiên cứu bao gồm :
Phương pháp phân tích nghiên cứu tình huống : Qua nghiên cứu và phân tích
một cách cụ thể từng trường hợp hủy bỏ hợp đồng nhập khẩu ở các doanh nghiệp
nhập khẩu gỗ nguyên liệu tại thành phố Hồ Chí Minh, đã xảy ra trong thực tế vài
năm gần đây, có thể khái quát được vấn đề mà đề tài muốn đề cập đến, đồng thời
cũng gợi mở những giải pháp cho từng tình huống và cho bối cảnh chung của vấn
đề sự việc.
Đặc biệt, trong quá trình làm đề tài, tác giả đã sử dụng phương pháp phỏng
vấn các chuyên gia (theo phụ lục 3, kết quả phỏng vấn ở phần cuối Luận văn). Đây
là những chuyên gia, nhà quản lý trong ngành, như lãnh đạo các công ty nhập khẩu
gỗ nguyên liệu ở thành phố Hồ Chí Minh, các đối tác xuất khẩu ở nước ngoài, quản
lý kho gỗ nhập khẩu…, nên những ý kiến đóng góp của họ rất có giá trị đối với
những vấn đề mà tác giả đề cập đến.
8
6. Những đóng góp mới của đề tài
Về mặt lý luận, đề tài đã đề cập tới một vấn đề tuy xảy ra không thường xuyên
trong hợp tác kinh doanh quốc tế, đó là hủy hợp đồng từ phía nhà nhập khẩu, nhưng
lại có ảnh hưởng rất nhiều đến cái nhìn của các đối tác nước ngoài về môi trường
kinh doanh trong nước. Đồng thời từ đó phát sinh những rủi ro mà các doanh
nghiệp nhập khẩu gỗ nguyên liệu ở thành phố Hồ Chí Minh nói riêng, các doanh
nghiệp trong nước nói chung sẽ phải đối mặt, khi hủy hợp đồng nhập khẩu.
Về mặt thực tiễn, thông qua nghiên cứu, phân tích các trường hợp, tình huống
riêng và bối cảnh chung của vấn đề, đề tài phần nào làm rõ những nguyên nhân, hệ
quả của việc hủy hợp đồng nhập khẩu, đồng thời đưa ra những giải pháp nhằm
phòng ngừa, giảm thiểu rủi ro và giải quyết các tranh chấp phát sinh giữa các bên
trong quá trình hợp tác mua bán gỗ nguyên liệu. Từ đó góp phần nâng cao sự
chuyên nghiệp, uy tín và trách nhiệm trong môi trường kinh doanh của từng ngành
nói riêng và của môi trường kinh doanh chung.
10
CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ HỦY HỢP ĐỒNG NHẬP KHẨU
VÀ NHỮNG RỦI RO ĐỐI VỚI CÁC NHÀ NHẬP KHẨU HÀNG HÓA
1.1. Khái niệm, đặc điểm, nội dung và các điều khoản chủ yếu của hợp đồng
nhập khẩu
1.1.1. Khái niệm
Cùng với sự hình thành và phát triển của thương mại quốc tế, hợp đồng ngoại
thương ra đời. Bản chất của nó là hợp đồng mua bán nói chung, nhưng được diễn ra
trên một phạm vi địa lý rộng lớn (giữa các quốc gia, lãnh thổ quốc tế) và là sự thống
nhất về ý trí giữa các bên trong quan hệ mua bán hàng hoá.
Theo Công ước Viên 1980 thì hợp đồng mua bán quốc tế là sự thoả thuận giữa
các đương sự có trụ sở kinh doanh ở các nước khác nhau, theo đó một bên gọi là
bên xuất khẩu ( bên bán) có nghĩa vụ chuyển vào quyền sở hữu của một bên khác
gọi là bên nhập khẩu ( bên mua ) một tài sản nhất định, gọi là hàng hoá; bên nhập
khẩu có nghĩa vụ nhận hàng và trả tiền hàng.
Luật thương mại Việt Nam 2005, điều 27, có quy định :
“1. Mua bán hàng hoá quốc tế được thực hiện dưới các hình thức xuất khẩu,
nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập và chuyển khẩu.
2. Mua bán hàng hoá quốc tế phải được thực hiện trên cơ sở hợp đồng bằng
văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương”.
Như vậy, hợp đồng xuất hay nhập khẩu, chỉ được xác định khi nhìn nhận ở
một quốc gia cố định. Hợp đồng nhập khẩu ở Việt Nam, nhưng với đối tác ở nước
ngoài trong hợp đồng, thì lại là hợp đồng xuất khẩu.
Điều cốt lõi của hợp đồng xuất nhập khẩu là sự thoả thuận giữa các bên ký kết.
Nếu không có sự đồng thuận thì không có mua bán, không có hợp đồng. Hình thức
của sự thoả thuận cũng là hình thức của hợp đồng. Thoả thuận viết làm nên hợp
đồng văn bản. Thỏa thuận bằng lời nói có thể hình thành các giao ước hợp đồng
miệng .Ở nước ta hình thức duy nhất hợp pháp đối với hợp đồng xuất nhập khẩu là
những hợp đồng đưa ra rất nhiều những điều khoản, điều kiện hết sức chặt chẽ và
chi tiết, nhưng có những hợp đồng lại chỉ đưa ra những điều khoản cơ bản nhất và
khá đơn giản . Nhưng thông thường một hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế
12
thường gồm hai phần là: những điều trình bày (presentations) và các điều khoản,
điều kiện (terms and conditions).
Nội dung phần trình bày:
Mã số hợp đồng (contract number)
Địa điểm và ngày tháng ký hợp đồng
Tên và địa chỉ cũng như các thông tin khác của các đương sự
Những định nghĩa dùng trong hợp đồng
Cơ sở pháp lý để ký kết hợp đồng: Đây có thể là hiệp định chính phủ, nghị
định thư, chí ít người ta cũng đưa ra sự tự nguyện của hai bên khi tham gia kí
kết hợp đồng .
Các điều khoản chủ yếu trong hợp đồng nhập khẩu
Điều khoản về tên hàng :
Tên hàng là điều khoản quan trọng của mọi đơn chào hàng, thư hỏi hàng, hợp
đồng và nghị định thư. Nó xác định chính xác đối tượng mua bán, trao đổi. Vì vậy
các bên luôn tìm cách diễn đạt chính xác tên hàng. Có một số cách thông dụng để
biểu đạt tên hàng: ghi tên thương mại, tên khoa học, và tên thông dụng của hàng
hoá sản xuất, kèm theo địa phương sản xuất, tên hãng sản xuất hoặc kèm theo công
dụng của chúng ...
Điều khoản về chất lượng
Chất lượng là điều khoản nói lên mặt chất của đối tượng, hàng hoá mua bán.
Điều kiên chất lượng thể hiện những yêu cầu về mặt chất của hàng hoá như tính
năng ( lý tính, hoá tính, tính chất cơ lý...) quy cách, kích thước, tác dụng...của hàng
hoá đó. Các bên ký kết hợp đồng có thể thoả thuận lựa chọn việc xác định quy cách
số lượng hàng hoá kèm dung sai. Do tính chất phức tạp của hệ thống đo lường được
áp dụng trong thương mại quốc tế, các bên ký kết cần phải thoả thuận chọn và áp
dụng tên những đơn vị phổ biến và dễ hiểu để tránh những hiểu lầm đáng tiếc xảy ra
trong giao dịch của mình .
Phương pháp quy định trọng lượng gồm: trọng lượng cả bì, trọng lượng tịnh,
trọng lượng thương mại và trọng lượng lý thuyết .
Điều khoản về bao bì, kí mã hiệu:
Trong điều khoản này, các bên thường thoả thuận với nhau về yêu cầu chất
lượng và giá cả của bao bì như: Chất lượng bao bì, phương pháp cung cấp bao bì và
giá cả bao bì nhằm bảo đảm cho lộ trình vận chuyển và bảo quản hàng, đồng thời
nâng cao tính hấp dẫn cho sản phẩm.
Chất lượng bao bì có qui định chung như phải phù hợp với phương thức vận
tải, với từng phương thức vận tải khác nhau thì có yêu cầu khác nhau về chất lượng
14
bao bì. Trong thực tế đã hình thành tập quán quốc tế về chất lượng bao bì trong từng
phương thức vận chuyển
Phương thức cung cấp bao bì có thể là: Bên bán cung cấp bao bì cùng với việc
giao hàng cho bên mua, hoặc bên bán ứng trước bao bì để đóng gói hàng hoá, sau
khi nhận hàng bên mua phải trả lại bao bì (áp dụng với bao bì hàng hoá có giá trị )
hay bên bán cung cấp bao bì đồng thời với việc giao hàng cho bên mua, hay bên bán
yêu cầu bên mua phải gửi bao bì đến trước để đóng gói sau đó mới nhận hàng.
Giá cả của bao bì có thể được xác định bằng cách tính luôn vào giá cả hàng
hoá hoặc bên mua trả riêng hoặc tính như giá cả của hàng hoá.
Quy định về ký mã hiệu hàng hoá đây là điều khoản nhằm tạo điều kiện cho
việc giao nhận hàng hoá, bốc dỡ hàng hoá được thuận tiện.
Điều khoản giá cả
Các bên có thể xác định cụ thể trong hợp đồng giá cả của hàng hoá hoặc quy
cùng của thời hạn giao hàng hoặc là một khoảng thời gian xác định.) hay là giao
hàng ngay hoặc là giao hàng không định kỳ (sau khi nhận LC một số ngày hay khi
nào xin được giấy phép xuất khẩu…).
Địa điểm giao hàng: Địa điểm này luôn gắn chặt với phương thức chuyên chở
hàng hoá và điều kiện cơ sở giao hàng ( được qui định trong Intercoms 90). Thông
thường thì điều kiện này đã được xác định rõ trong điều kiện cơ sở giao hàng, ví dụ:
Trong hợp đồng qui định CIF Hải Phòng, điều này cũng đồng nghĩa với việc giao
nhận hàng sẽ diễn ra tại cửa khẩu cảng biển Hải Phòng.
Phương thức giao hàng: gồm các bước sau:
Giao hàng sơ bộ: Là bước đầu xem xét, xác định ngay tại địa điểm sản
xuất hoặc nơi gửi hàng, sự phù hợp về chất lượng, số lượng hàng hoá
so với hợp đồng.
Giao nhận về số lượng, chất lượng: kiểm tra chính xác tính phù hợp của
hợp đồng trên phương diện số lượng và chất lượng hàng được giao.
Giao nhận cuối cùng: Là sự xác nhận rằng người bán đã hoàn thành
nghĩa vụ giao hàng.
Một số quy định khác về việc giao hàng như có thể giao hàng từng đợt hoặc
phải giao một lần, cho phép chuyển tải hay chấp nhận vận đơn đến chậm...
16
Điều khoản về thanh toán
Đây là điều khoản cơ bản mà bất kỳ hợp đồng mua bán nào cũng đều phải có,
nó thường tiêu tốn mất nhiều thời gian công sức của các nhà thương lượng đàm
phán và thường gây ra những vấn đề về tranh chấp giữa các bên.
Trong điều khoản này cần phải nêu được 3 nội dung sau:
Đồng tiền thanh toán: có thể là của bên xuất khẩu, bên nhập khẩu, hoặc
nước thứ ba . Đồng tiền thanh toán có thể không trùng với đồng tiền
tính giá và lúc đó phải quy định mức tỷ giá thay đổi . ví dụ trong hợp