TRƯỜNG..................................
KHOA…………………… ĐỀ ÁN
“
Vai trò và mối quan hệ giữa hai nguồn
vốn trong nước và nước ngoài trong
việc thúc đẩy tăng trưởng và phát
triển kinh tế, lấy thực tiễn Việt Nam
để chứng minh”
tình hình chính trị và xã hội cơ
bản ổn định, nhân dân có phẩm chất tốt đẹp,
môi trường hoà bình, sự hợp tác liên kết quốc tế và xu thế tích cực trên thế
giới tạo điều kiện phát triển. Nhưng hơn bao giời hết còn cần có một cơ chế
quản lí phù hợp, những quan hệ kinh tế có hiệu quả. Đặc biệt đặt trong giai
đoạn phát triển nền kinh tế thị trường dưới chế
độ chủ nghĩa, để tạo động
lực cũng như giải pháp cho sự phát triển ổn định đòi hỏi sự đoàn kết của
toàn Đảng, toàn dân ta trong mọi hoạt động phát huy sức mạnh toàn dân
tộc, tận dụng mọi nguồn lực trong nước, đồng thời sử dụng có hiệu quả các
nguồn lực từ bên ngoài để công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước. M
ột
trong những phương hướng mà Đảng và Nhà nước ta nhận định và thấy
được tầm quan trọng quyết định nhằm đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá
hiện đại hoá đất nước đó chính là nhu cầu về vốn đầu tư phảt triển. Trong
đó chúng ta có thể thấy được vai trò và mối quan hệ giữa hai nguồn vốn
trong nước và nước ngoài - nghiên cứu về thực trạng vai trò cũng như mối
quan hệ giữa hai nguồn vốn này để từ đó tìm ra những giải pháp nhằm phát
huy có hiệu quả nhất các nguồn vốn đầu tư với tăng trưởng và phát triển
kinh tế Việt Nam. Từ đó chúng ta có được cái nhìn bao quát về tình hình
kinh tế đất nước, nhằm đẩy mạnh tình hình phát triển kinh tế xã hội, nâng
cao đời sống nhân dân, thự
c hiện mục tiêu dân giàu nước mạnh xã hội công
bằng văn minh. Qua nghiên cứu đề tài: “Vai trò và mối quan hệ giữa hai
nguồn vốn trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trưởng
và phát triển kinh tế, lấy thực tiễn Việt Nam để chứng minh”. Chúng
em xin trình bày những nội dung chính sau:
Chương I: Những vấn đề lí luận chung;
Chương II: Thực trạng vai trò và mối quan hệ giữa hai nguồn vốn
ở Việt Nam;
doanh dịch vụ, tiết kiệm của dân, huy động từ nước ngoài được biểu
hiện dưới các dạng tiền tệ các loại hoặc hàng hoá hữu hình, hàng hoá
vô hình và hàng hoá đặc biệt khác.
1.2 Nguồn vốn đầu tư
Là các kênh tập trung và phân phối cho vốn đầu tư phát triển
đáp ứng nhu cầu chung c
ủa nhà nước và xã hội.
2. Phân loại NVĐT
2.1 Nguồn vốn trong nước
Nguồn vốn nhà nước.
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn của ngân
sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và
nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước.
Đối với nguồn vốn ngân sách nhà nước: Đây chính là nguồn
chi của ngân sách Nhà nước cho đầu tư. Đó là một ngu
ồn vốn đầu tư
quan trọng trong chiến lựơc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc
gia. Nguồn vốn này thường được sử dụng cho các dự án kết cấu kinh
tế - xã hội, quốc phòng, an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh
nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước, chi cho
các công tác lập và thực hiện các quy hoạch tổng thể phát triển kinh
tế - xã hội vùng, lãnh thổ
, quy hoạch xây dựng đô thị và nông thôn.
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước: Cùng với quá
trình đổi mới và mở cửa, tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước
ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội. Nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước có tác
vốn huy động của toàn bộ hệ thống ngân hàng. Vốn của dân cư phụ
thuộc vào thu nhập và chi tiêu của các hộ gia đình. Quy mô của các
nguồn tiết kiệm này phụ thuộc vào:
Trình độ phát triển của đất nước (ở
những nước có trình độ
phát triển thấp thường có quy mô và tỷ lệ tiết kiệm thấp).
Tập quán tiêu dùng của dân cư.
Chính sách động viên của Nhà nước thông qua chính sách
thuế thu nhập và các khoản đóng góp với xã hội.
Thị trường vốn.
Thị trường vốn có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát
triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường. Nó là kênh bổ
sung các nguồn vốn trung và dài h
ạn cho các chủ đầu tư - bao gồm
cả Nhà nước và các loại hình doanh nghiệp. Thị trường vốn mà cốt
lõi là thị trường chứng khoán như một trung tâm thu gom mọi nguồn
vốn tiết kiệm của từng hộ dân cư, thu hút mọi nguồn vốn nhàn dỗi
của các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, chính phủ trung ương và
chính quyền địa phương tạo thành một nguồn vốn khổng lồ cho nền
kinh tế
. Đây được coi là một lợi thế mà không một phương thức huy
động nào có thể làm được.
2.2 Nguồn vốn nước ngoài.
Có thể xem xét nguồn vốn đầu tư nuớc ngoài trên phạm vi
rộng hơn đó là dòng lưu chuyển vốn quốc tế (international capital
flows). Về thực chất, các dòng lưu chuyển vốn quốc tế là biểu thị quá
trình chuyển giao nguồn lực tài chính giữa các quốc gia trên thế giới.
Trong các dòng lưu chuyển vốn quốc tế, dòng từ các nước phát triển
đổ vào các nước đang phát tri
thể nhận vốn, vừa bảo tồn được những mục tiêu có tính nguyên tắc.
Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại.
Điều kiện ưu đẫi dành cho loại vốn này không dễ dàng như đối
với nguồn vốn ODA. Tuy nhiên, bù lại nó có ưu điểm rõ ràng là
không có gắn với các ràng bu
ộc về chính trị, xã hội. Mặc dù vậy, thủ
tục vay đối với nguồn vốn này thường là tương đối khắt khe, thời
gian trả nợ nghiêm ngặt, mức lãi suất cao là những trở ngại không
nhỏ đối với các nước nghèo.
Do được đánh giá là mức lãi suất tương đối cao cũng như sự
thận trọng trong kinh doanh ngân hàng (tính rủi ro ở nước đi vay, của
thị trường th
ế giới và xu hướng lãi suất quốc tế), nguồn vốn tín dụng
của các ngân hàng thương mại thường được sử dụng chủ yếu để đáp
ứng nhu cầu xuất khẩu và thường là ngắn hạn. Một bộ phận của
nguồn vốn này có thể được dùng để đầu tư phát triển. Tỷ trọng của
nó có thể gia tăng nếu triển vọng tăng trưởng của nền kinh tế là lâu
dài, đặc biệt là tăng trưởng xuất khẩ
u của nước đi vay là sáng sủa.
Nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
Nguồn đầu tư trực tiếp nước ngoài có đặc điểm cơ bản khác
nguồn vốn nước ngoài khác là việc tiếp nhận nguồn vốn này không
phát sinh nợ cho nước tiếp nhận. Thay vì nhận lãi suất trên vốn đầu
tư, nhà đầu tư sẽ nhận được phần lợi nhuận thích đ
áng khi dự án đầu
tư hoạt động có hiệu quả. Đầu tư trực tiếp nước ngoài mang theo
toàn bộ tài nguyên kinh doanh vào nước nhận vốn nên có thể thúc
đẩy phát triển ngành nghề mới, đặc biệt là những ngành đòi hỏi cao
về trình độ kỹ thuật, công nghệ hay cần nhiều vốn. Vì thế nguồn vốn
này có tác dụng cực kỳ to lớn đối với quá trình công nghiệp hoá,
Sang thế kỷ XIX, khi nghiên cứu về cân đối kinh tế, về các
mối quan hệ giữa các khu vực của n
ền sản xuất xã hội, về các vấn đề
trực tiếp liên quan đến tích luỹ, C. Mác đã chứng minh rằng: Trong
một nền kinh tế hai khu vực, khu vực I sản xuất tư liệu sản xuất và
khu vực II sản xuất tư liệu tiêu dùng. Cơ cấu tổng giá trị của từng
khu vực đều bao gồm (c + v + m) trong đó c là phần tiêu hao vật
chất, (v + m) là phần giá trị mới tạo ra. Khi đó, điều kiện để đảm bảo
tái sả
n xuất mở rộng không ngừng thì nền sản xuất xã hội phải đảm
bảo (v + m) của khu vực I lớn hơn tiêu hao vật chất (c) của khu vực
II. Tức là:
(v + m)I > cII
Hay nói cách khác:
(c + v + m)I > cII + cI
Điều này có nghĩa rằng, tư liệu sản xuất được tạo ra ở khu vực
I không chỉ bồi hoàn tiêu hao vật chất của toàn bộ nền kinh tế (của cả
hai khu vực) mà còn phải dư thừa để
đầu tư làm tăng quy mô tư liệu
sản xuất trong quá trình sản xuất tiếp theo.
Đối với khu vực II, yêu cầu phải đảm bảo:
(c+v+m)II < (v+m)I + (v+m)2
Có nghĩa là toàn bộ giá trị mới của cả hai khu vực phải lớn
hơn giá trị sản phẩm sản xuất ra của khu vực II. Chỉ khi điều kiện
này được thoả mãn, nền kinh tế mới có thể dành một phần để tái sản
xuất mở rộng. Từ đó quy mô vốn đầu tư cũng sẽ gia tăng.
Như vậy để đảm bảo gia tăng nguồn lực cho sản xuất, gia tăng
quy mô đầu tư, một mặt phải tăng cường sản xuất tư liệu sản xuất ở
khu vực I, đồng thời phải sử dụng tiết kiệm tư liệu sản xuất ở
cả hai
ng thêm năng lực sản xuất mới trong kỳ. Vì vậy,
xét về tổng thể phần dôi ra của thu nhập so với tiêu dùng mà người ta
gọi là tiết kiệm không thể khác vơí phần gia tăng năng lực sản xuất
mà người ta gọi là đầu tư.
Tuy nhiên, điều kiện cân bằng trên chỉ đạt được trong nền kinh
tế đóng. Trong đó, phần tiết kiệm của nền kinh tế bao gồ
m tiết kiệm
của khu vực tư nhân và tiết kiệm của chính phủ. Điểm cần lưu ý là
tiết kiệm và đầu tư xem xét trên góc độ toàn bộ nền kinh tế không
nhất thiết được tiến hành bởi cùng một cá nhân hay doanh nghiệp
nào. Có thể có cá nhân, doanh nghiệp tại một thời điểm nào đó có
tích luỹ nhưng không trực tiếp tham gia đầu tư. Trong khi đó, có một
số cá nhân, doanh nghiệp lại th
ực hiện đầu tư khi chưa hoặc tích luỹ
chưa đầy đủ. Khi đó thị trường vốn sẽ tham gia giải quyết vấn đề
bằng việc điều tiết nguồn vốn từ nguồn dư thừa hoặc tạm thời dư
thừa sang cho người có nhu cầu sử dụng. Ví dụ, nhà đầu tư có thể
phát hành cổ phiếu, trái phiếu (trên cơ sở mộ
t số điều kiện nhất định,
theo quy trình nhất định) để huy động vốn thực hiện một dự án nào
đó từ các doanh nghiệp và các hộ gia đình - người có vốn dư thừa.
Trong nền kinh tế mở, đẳng thức đầu tư bằng tiết kiệm của nền
kinh tế không phải bao giờ cũng được thiết lập. Phần tích luỹ của nền
kinh tế có th
ể lớn hơn nhu cầu đầu tư tại nước sở tại, khi đó vốn có
thể được chuyển sang cho nước khác để thực hiện đầu tư. Ngược lại,
vốn tích luỹ của nền kinh tế có thể nhỏ hơn nhu cầu đầu tư, khi đó
nền kinh tế phải huy động tiết kiệm từ nước ngoài. Trong trường hợp
này, mức chênh lệch giữa tiế
t kiệm và đầu tư được thể hiện trên tài
Vốn là điều kiện hàng đầu của tăng trưởng và phát triển ở mọi quốc
gia. Riêng đối với các nước kém phát triển, để đạt được tốc độ tăng trưởng
cao và ổn định, cần phải có một khối lượng vốn rất lớn. Điều này càng
được khẳng định chắc chắn khi nghiên cứu vai trò của vốn đầu tư với tăng
trưởng và phát triể
n của mọi đất nước.
3.1 Vai trò của vốn trong nước
Theo kinh nghiệm phát triển thì đây là nguồn vốn cơ bản, có vai trò
quyết định chi phối mọi hoạt động đầu tư phát triển trong nước . Trong lịch
sử phát triển các nước và trênphương diện lý luận chung, bất kỳ nước nào
cũng phải sử dụng lực lượng nội bộ là chính . Sự chi viện bổ sung từ bên
ngoài ch
ỉ là tạm thời, chỉ bằng cách sử dụng nguồn vốn đầu tư trong nước
có hiệu quả mới nâng cao được vai trò của nó và thực hiện được các mục
tiêu quan trọng đề ra của quốc gia.
3.1.1. Vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước (NSNN)
Đầu tư từ NSNN là một bộ phận quan trọng trong toàn bộ khối
lượng đầu tư
Nó có vị trí rất quan trọng trong việc tạ
o ra môi trường đầu tư thuận
lợi nhằm đẩy mạnh đầu tư của mội thành phần kinh tế theo định hướng
chung của kế hoạch, chính sách và pháp luật đồng thời trực tiếp tạo ra năng
lực sản xuất của một số lĩnh vực quan trọng nhất của nền kinh tế, đảm bảo
theo đúng định hướng của chiến lược và quy hoạch phát triển kinh tế xã hội
.
Với vai trò là công cụ thúc đẩy tăng trưởng, ổn định điều điều tiết vĩ
mô, vốn tư NSNN đã được nhận thức và vận dụng khác nhau tuỳ thuộc
nước ngoài để bổ sung có ý nghĩa rất quan trọng.
3.2 Vai trò của vốn nước ngoài
Nếu như vốn trong nước là nguồn có tính chất quyết định, có vai trò
chủ yếu thì vốn nước ngoài là nguồn bổ sung quan trọng trong những bước
đi ban đầu tạo ra “cú hích” cho sự phát triển. Điều này được thể nghiệm
trên các vai trò cơ bản sau:
Một là: Bổ sung nguồn vốn cho đàu tư khi mà tích luỹ nộ
i bộ nền
kinh tế còn thấp. Đối với các nước nghèo và kém phát triển, nguồn vốn
trong nước huy động được chỉ đáp ứng hơn 50% tổng số vốn yêu cầu. Vì
thế gần 50% số vốn còn lại phải được huy động từ bên ngoài. Đó là lý do
chúng ta phải tích cực thu hút vốn đầu tư từ nước ngoài ( bao gồm vốn hỗ
trợ phát triển chính thức - ODA, đầu tư trực tiế
p nước ngoài - FDI…)
Hai là: Đảm bảo trình độ công nghệ cao phù hợp với xu thế phát
triển chung trên toàn thế giới. Điều này giúp đẩy nhanh sự phát triển của
các dịch vụ cung cấp có chất lượng và cho phép sản xuất các sản phẩm đáp
ứng tiêu chuẩn quốc tế - là cơ sở tạo nên sự bứt phá trong khả năng cạnh
tranh của doanh nghiệp trong nước trên thị trương quốc tế.
Ba là: Con đường ngắn nh
ất đưa nền kinh tế nước ta hội nhập vào
nền kinh tế thế giới và khu vực, cũng như bảo đảm các nghĩa vụ vay và trả
nợ nhờ vào việc tăng cường được năng lực xuất khẩu.
Bốn là: Có vai trò tích cực trong việc nâng caô chất lượng nguồn
nhân lực và chuyển giao công nghệ .
Đi sâu tìm hiểu ta có thể nhận rõ vai trò cụ thể của từng loại vốn
n
ước ngoài.
3.2.1 Vốn hỗ trợ phát triển chính thức(ODA)
lý tiến bộ .
Từ đó mà hiệu quả làm việc và năng suất lao động cũ
ng tăng nên thể
hiện qua thị trường quốc tế đẫ chấp nhận sản phẩm của các nước kém phát
triển này. Chính vì vậy mà FDI còn có vai trò mở rộng thị trường trong
nước và nước ngoài.
Cuối cùng, vai trò của FDI thể hiện qua việc lành mạnh hoá các thể
chế kinh tế - tài chính và cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô. Để có thể thu hút
FDI, chúng ta phải đứng trước yêu cầu cấp thiết cải tạo và hoàn thiện hệ
thống chính sách, pháp luật nhằm xây dựng môi trường đầu tư hấp dẫn. Có
như thế chúng ta mới lọt vào t
ầm ngắm của các nhà đầu tư nước ngoài.
III. MỐI QUAN HỆ GIỮA HAI NGUỒN VỐN
Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế của một nước đang phát triển
do mức thu nhập thấp nên khả năng tiêu dùng và tích luỹ là rất khiêm tốn.
Nhưng giai đoạn này lại cần một khoản vốn lớn để đầu tư nhằm hoàn chỉnh
hệ thống cơ sở hạ tầng, xây dựng các công trình làm nền tảng cho sự phát
triển kinh tế lâu dài. Trong giai đoạn này thường tồ
n tại khoảng cách lớn
giữa đầu tư với tiết kiệm, cần nguồn bù đắp. Hơn nữa trong giai đoạn này
do nền công nghiệp của đất nước chưa phát triển nên hàng xuất khẩu nếu
có chỉ đa phần là hàng sơ chế nông sản, nguyên liệu thô… có giá trị gia
tăng thấp. Ngược lại về phía nhập khẩu do nhu cầu phát triển đòi hỏi phải
nhập khẩ
u hàng cao cấp máy móc thiết bị kĩ thuật công nghệ… có giá trị
gia tăng cao. Điều đó dẫn đến cán cân thương mại, cán cân thanh toán luôn
nằm trong tình trạng thâm hụt. Để giải quyết khó khăn này, nhiều nước đã
tìm đến nguồn vốn đầu tư nước ngoài nhằm tài trợ cho những thiếu hụt đó.