LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, rất nhiều nước trên Thế giới đã và đang triển khai thành công
mô hình hợp tác công - tư (Public Private Partnership-PPP). Các chuyên gia
khẳng định rằng quan hệ đối tác giữa Nhà nước và tư nhân hiện đang là một xu
hướng và Việt Nam cũng nằm trong xu hướng đó.
Thực hiện công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam đã có
nhiều cố gắng trong việc thu hút đầu tư trong và ngoài nước để phát triển cơ
cấu hạ tầng trong đó có ngành điện, chú trọng huy động vốn dưới nhiều hình
thức. Tuy nhiên, do đây là lĩnh vực mới, Việt Nam chưa có nhiều kinh nghiệm
nhất là sự phối hợp giữa các biện pháp tài trợ nên việc thu hút đầu tư không đạt
được kết quả mong muốn.
Ngành điện là một ngành đặc thù đồng thời có ý nghĩa quan trọng trong
việc phát triển kinh tế cũng như đời sống. Việc nhu cầu điện tăng nhanh trong
khi Ngân sách nhà nước có hạn không đủ đáp ứng thì mô hình hợp tác công tư
PPP là một hướng đi mới rất có tiềm năng. Nhìn chung, đến nay chưa có công
trình nghiên cứu nào về hệ thống lý thuyết các nhân tố thu hút đầu tư tư nhân
theo hình thức PPP trong ngành điện ở bối cảnh tình hình kinh tế-xã hội của
Việt Nam. Do đó, nghiên cứu về vấn đề này có ý nghĩa cả về lý luận và thực
tiễn. Vì vậy, nhóm chúng em quyết định chọn đề tài: “Những nhân tố ảnh
hưởng đến việc thu hút đầu tư tư nhân theo hình thức PPP trong ngành
điện ở Việt Nam.”
1
CHƯƠNG I:
CƠ SỞ LÝ THUYẾT CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG
TỚI THU HÚT ĐẦU TƯ TƯ NHÂN THEO HÌNH THỨC
PPP TRONG NGÀNH ĐIỆN Ở VIỆT NAM
1. Đầu tư tư nhân
DN tư nhân còn phải chịu các chi phí bắt nguồn trực tiếp từ các chính sách và
các hành vi của chính phủ. Chi phí trực tiếp và rõ ràng rất lớn đó là các khoản
thuế. Cách thức thực hiện việc thu thuế và thuế suất cao hay thấp rõ ràng liên
quan trực tiếp đến chi phí cao hay thấp của các DN hay nhà ĐT nói chung.
Thứ hai, các nhân tố thuộc nhóm tác động đến rủi ro: Các nhân tố thuộc
nhóm tác động đến rủi ro đối với hoạt động ĐTTN rất đa dạng. Các nhân tố
này chịu tác động mạnh mẽ từ phía chính phủ như mức độ ổn định của chính
sách hay thể chế, thể chế về quyền tài sản và thu hồi tài sản của nhà ĐT hay
DN, hiệu lực thực thi các hợp đồng, v.v...
Những năm qua, đã có không ít chính sách khuyến khích, hỗ trợ các
doanh nghiệp tư nhân tham gia đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, cung cấp nước
sạch cho nhân dân, nhất là khu vực nông thôn, được ban hành nhưng khu vực
kinh tế tư nhân vẫn hững hờ mà nguyên nhân chủ yếu là do cơ chế, chính sách
còn nhiều hạn chế, chồng chéo, mâu thuẫn trong quản lý các lĩnh vực dẫn đến
khó triển khai trong thực tiễn. Năng lực quản lý, điều hành của đội ngũ cán bộ
ở địa phương chưa bắt kịp xu hướng đổi mới, làm giảm hiệu lực và hiệu quả
của các cơ chế, chính sách.
Ngoài ra, thủ tục hành chính còn phức tạp, nhiều cấp trung gian, thiếu
minh bạch thông tin nên chưa tạo môi trường tham gia hoạt động thuận lợi,
thông thoáng cho khu vực tư nhân yên tâm tham gia đầu tư, các doanh nghiệp
tư nhân hiện vẫn khó tiếp cận các chính sách khuyến khích, ưu đãi của Nhà
nước.
Thứ ba, các nhân tố thúc đẩy cạnh tranh: Cạnh tranh là yếu tố cho phép
các doanh nghiệp mới gia nhập thị trường và là động lực buộc các doanh
nghiệp đang tồn tại phải tiến hành đổi mới, nâng cao năng suất. Việc dỡ bỏ
những cản trở từ hoạt động điều tiết phi lý của chính phủ là một trong những
cách thức tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng. Bằng chứng thực nghiệm
cho thấy, ở Việt Nam, việc loại bỏ các giấy phép con và việc đưa tất cả các
doanh nghiệp hoạt động theo Luật doanh nghiệp đã làm gia tăng mạnh mẽ số
2. Đầu tư tư nhân theo hình thức PPP
Trong tình hình nhu cầu vốn đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật của Việt Nam
nói chung và mỗi địa phương nói riêng là rất lớn, trong khi đó ngân sách nhà
nước thì có hạn, vốn của các nhà tài trợ ngày càng thu hẹp, mô hình đầu tư theo
hình thức hợp tác công tư (PPP) có khả năng như một đòn bẩy để huy động
nguồn lực từ khu vực tư nhân cả trong và ngoài nước cho đầu tư cơ sở hạ tầng
trong tình hình hiện nay.
a.
Mô hình PPP là gì?
Theo World Bank, PPP là một quan hệ đối tác giữa khu vực công và khu
vực tư để thực hiện một dự án hoặc một dịch vụ mà nhà nước có trách nhiệm
cung cấp
PPP (Public - Private Partner) là việc Nhà nước và Nhà đầu tư cùng phối
hợp thực hiện Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ
sở Hợp đồng dự án.
Với mô hình PPP, Nhà nước sẽ thiết lập các tiêu chuẩn về cung cấp dịch
vụ và tư nhân được khuyến khích cung cấp bằng cơ chế thanh toán theo chất
lượng dịch vụ. Đây là hình thức hợp tác tối ưu hóa hiệu quả đầu tư và cung cấp
dịch vụ công cộng chất lượng cao, nó sẽ mang lại lợi ích cho cả nhà nước và
người dân.
b.
Đặc điểm của các mô hình PPP
Mô hình PPP gồm 4 đặc điểm chính đó là:
Đảm bảo nghĩa vụ và quyền lợi hài hòa giữa các bên;
• Có sự tham gia của Nhà nước;
của sản phẩm điện:
Luôn luôn phải duy trì cân bằng cung - cầu một cách tức thời tại mọi thời
điểm.
Khả năng dự trữ điện năng là rất nhỏ, hầu như không đáng kể.
Các kênh phân phối hàng hoá (đường dây truyền tải và phân phối điện
năng) phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy luật vật lý và điều kiện an toàn).
Giá thành sản xuất ra một đơn vị giá trị sử dụng của sản phẩm điện năng
ở các nhà cung cấp khác nhau là rất khác nhau.
Điện năng là một trong những loại hàng hoá ảnh hưởng mạnh đến tình
hình kinh tế - chính trị của một quốc gia. Hiện nay, điện năng vẫn là hàng hoá
được Chính phủ Việt Nam kiểm duyệt giá đầu ra.
b.
Đặc điểm của thị trường điện lực cạnh tranh
Thị trường điện lực có sức ảnh hưởng mạnh mẽ và nhanh chóng đến mọi
công–tư. Dự án hoặc các vấn đề về thu và/hoặc chi cụ thể của từng lĩnh vực,
việc điều chỉnh biểu phí, và cơ cấu an ninh hiện có cũng ảnh hưởng nhiều đến
tính khả thi của dự án, thường đòi hỏi phải có luật, quy định, hoặc chính sách
để giải quyết. Nếu những điều chỉnh về môi trường thuận lợi được quy định bởi
hợp đồng trong dự án cụ thể, có một rủi ro lớn là kết quả chỉ đạt được cho
ngành hoặc dự án cụ thể hoặc chỉ đem lại kết quả cho một dự án duy nhất (nếu
có) trong đó các mục tiêu học hỏi và phát triển thể chế phải chịu thiệt thòi hoặc
không tạo điều kiện để nhân rộng hoặc thực hiện một cách bền vững. (ADB,
2012)
Ông Ben Darche - Tư vấn quốc tế về PPP - cho biết: Kinh nghiệm thực
hiện PPP của nhiều nước trên thế giới cho thấy, việc các luật thiếu thống nhất,
thiếu các văn bản hướng dẫn thực hiện thỏa đáng là những yếu tố góp phần làm
các dự án PPP thất bại. Phải đặc biệt quan tâm đến các quy định về trách nhiệm
tài chính đối với hỗ trợ tài chính của Chính phủ, cơ chế lãi suất, cũng như quy
định rõ cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm thực hiện các dự án PPP. (Anon.,
2015)
Năm 2000, Nam Phi thành lập một đơn vị PPP hoạt động như là đầu mối
phối hợp và quản lý các chương trình PPP, các báo cáo đơn vị PPP đều được
trình Vụ Ngân sách và Kho bạc nhà nước. Đơn vị PPP thực hiện các nhiệm vụ
tư vấn liên quan đến PPP, trong đó có 11 nhân viên chuyên nghiệp. Các chức
năng chính của đơn vị PPP gồm: phê duyệt chính thức ở ba giai đoạn chuẩn bị
khác nhau của dự án để bảo đảm tuân thủ các quy định của Kho bạc, hỗ trợ kỹ
thuật chuyên sâu cho các phòng ban trong việc chỉ định các cố vấn giao dịch,
phát triển chính sách, hướng dẫn cụ thể quy trình đấu thầu dự án PPP và các
quy định điều khoản hợp đồng PPP, tập huấn, hội thảo, nâng cao nhận thức của
công chúng về PPP thông qua các ấn phẩm, trang thông tin điện tử các hội nghị
và quản lý Quỹ phát triển dự án cung cấp tài trợ cho các chi phí giao dịch của
chính phủ.
Thị trường phát điện cạnh tranh là môi trường để các nhà đầu tư tham gia
vào và xem xét các “mặt hàng” dự án đầu tư. Do đặc thù của ngành điện Việt
Nam hiện nay là độc quyền do Tập đoàn điện lực Việt Nam EVN toàn quyền
phân phối. Việc tiến hành mở rộng thị trường phát điện cạnh tranh sẽ là bước
đầu cho các nhà đầu tư tư nhân thấy có thể tham gia vào các dự án PPP trong
ngành điện. Từ đó nâng cao sức hút của các dự án PPP đối với nhà đầu tư tư
nhân.
c.
Tính minh bạch và bình đẳng của dự án
Theo đại diện Ngân hàng Thế giới, trong thu hút vốn đầu tư PPP thì sự
minh bạch và bình đẳng giữa các bên tham gia là hết sức quan trọng. Việc đấu
thầu dự án nên được công khai để đảm bảo tính minh bạch và cơ hội đầu tư vào
dự án là như nhau với các nhà đầu tư tư nhân.
Trong bối cảnh có nhiều rào cản về thuế, việc xác định rõ các cơ chế tham
gia vốn của Nhà nước, cũng như việc sử dụng bảo lãnh từ khu vực công là điều
vô cùng quan trọng trong thực hiện các dự án PPP. Việc thực hiện các hướng
dẫn về tài chính đối với việc tham gia vốn của Nhà nước và các quy định khác
sẽ là một bước quan trọng trong việc thu hút sự quan tâm của khu vực tư nhân
đối với các dự án PPP.
Cần phải hạn chế tối đa những rủi ro liên quan đến các xung đột về lợi
ích. Xung đột lợi ích cũng có thể tăng lên khi một cơ quan, tổ chức vừa có vai
trò hỗ trợ, thúc đẩy phát triển dự án, vừa được giao nhiệm vụ giám sát và thực
hiện các đánh giá sau khi dự án được thực hiện. (VOV, 2013)
Để đảm bảo tính công bằng cần phải làm cho các nhà đầu tư tư nhân hiểu
được cơ chế chia sẻ rủi ro. Nghiên cứu của Edwards (1991); Flanagan và
Norman (1993); Merna và Smith (1996); Grant (1996); Zhang (2005); Nisar
quyền lợi, trách nhiệm của họ là gì và có thể định giá điều đó một cách tương
xứng. Trách nhiệm giải trình là quan trọng, do vậy, Chính phủ thông qua
nhượng quyền có thể thực thi chuẩn mực đồng nhất (Allan, 2010)
Tại Philippines, để thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân vào xây dựng
cơ sở hạ tầng, Chính phủ đã xây dựng một chương trình chiến lược truyền
thông toàn diện nhằm công khai, minh bạch trong giao dịch với khu vực tư
nhân, chiến dịch được phát động trước một tháng nhằm giải thích và đưa ra các
biện pháp thực hiện. Để đảm bảo phương tiện truyền thông đã được thông báo
về giá thầu, Chính phủ chuẩn bị một bài thuyết trình video về các quy tắc đấu
thầu và thủ tục mở thầu, được mở cửa cho công chúng. Chính phủ Philippines
cho rằng thành công của dự án chủ yếu là thiết kế của một quá trình đấu thầu
minh bạch và nhận thức giữa các bên liên quan.
d.
Khung chính sách thực hiện dự án
Theo TS. Edward White, chuyên gia quốc tế về PPP, Luật Tài chính công
khuyến nghị rằng, nên quy định PPP là một phương án cần cân nhắc và nghiên
cứu cho bất kỳ dự án đầu tư công mới nào. Cần thực hiện đánh giá dự án theo
PPP trước, nếu không thực hiện theo PPP được thì mới đầu tư hoàn toàn bằng
ngân sách nhà nước. Khung chính sách cần tạo tính hấp dẫn cho các dự án PPP
với quy trình phê duyệt nhanh gọn.
Trước đó, một báo cáo của Ngân hàng Tái thiết và Phát triển châu Âu
(EBRD) đã chỉ ra rằng, mỗi chương trình PPP tại từng quốc gia có đặc thù
riêng, vì thế cần xây dựng khung chính sách phù hợp với điều kiện triển khai
PPP tại quốc gia mình trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm thành công, thất bại từ
các nước khác.
Về cơ cấu tổ chức, phải tách bạch các chức năng pháp lý về PPP của
hút sự quan tâm của khu vực đầu tư tư nhân. Năm 2001, chính phủ đã ban hành
một kế hoạch 10 năm triển khai PPP, cho thấy quyết tâm của Chính phủ Hàn
Quốc tập trung vào các dự án theo hình thức PPP. Bên cạnh đó, Hàn Quốc còn
thực hiện việc khuyến khích các dự án PPP bằng hình thức miễn, giảm thuế.
Trong nhiều hợp đồng, Chính phủ có thể bảo lãnh doanh thu lên tới 90%, qua
đó kích thích tư nhân đầu tư do họ hầu như không phải gánh chịu rủi ro doanh
thu mà phần rủi ro này chuyển phần lớn sang Chính phủ. (LuậtDN, 2009)
CHƯƠNG II:
THỰC TRẠNG CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN
THU HÚT ĐẦU TƯ TƯ NHÂN THEO HÌNH THỨC
PPP TRONG NGÀNH ĐIỆN Ở VIỆT NAM
Trong hoàn cảnh nhu cầu cơ sở hạ tầng tại Việt Nam ngày càng tăng
nhanh mà ngân sách của Chính phủ và các nhà tài trợ có giới hạn, hợp tác công
tư (PPP) có khả năng như một đòn bẩy đối với các nguồn lực tài chính và
chuyên môn từ khu vực tư nhân nhằm cải thiện chất lượng và mở rộng độ bao
phủ của các dịch vụ cơ sở hạ tầng tại Việt Nam hiện nay.
Ở Việt Nam, theo thống kê của Ngân hàng Thế giới, từ năm 1994 -2009
đã có 32 dự án được thực hiện theo mô hình PPP với tổng mức vốn cam kết
khoảng 6,7 tỉ USD, trong đó mô hình BOT và BOO chiếm tỷ trọng chủ yếu.
Hai lĩnh vực chiếm tỷ phần lớn nhất là điện và viễn thông.
Nhu cầu tiêu thụ điện năng hằng năm tăng khoảng 16-17%, và muốn đáp
ứng được mức tăng này, như cầu vốn mỗi năm là một tỷ USD. Việc cần một số
vốn quá lớn để đáp ứng được lượng điện tạo ra là một khó khăn đối với vốn
nhà nước. Vì vậy, nhà nước cần phải thúc đẩy hợp tác công tư (PPP). Để thu
hút được nhiều nhà đầu tư tư nhân chúng ta cần phân tích những nhân tố ảnh
hưởng đến thu hút đầu tư tư nhân từ đó đưa ra giải pháp khắc phục.
1. Nhân tố môi trường thuận lợi cho PPP
1.1. Điều
nhưng khi triển khai, cơ quan nhà nước hành xử như là cấp trên, có nhiều mệnh
lệnh hành chính, văn bản nhà nước can thiệp vào hợp đồng dự án, khiến nhà
đầu tư rất mệt mỏi. (Đấuthầu, 2018) (BĐT2, 2018)
Dự án đầu tư theo mô hình PPP có thể kéo dài 20 - 30 năm, nhưng khung
pháp lý hiện hành mới dừng ở cấp nghị định, trong khi pháp luật liên quan thì
thay đổi liên tục. Làm cho các nhà đầu tư lo ngại những thay đổi về chính sách
và các rủi ro khó lường trước.
Với các quy định và bộ luật hiện hành chưa đủ hấp dẫn với các nhà đầu tư
nước ngoài. Do các nhà đầu tư nước ngoài muốn quay vòng vốn đầu tư nhanh,
trong khi các dự án PPP tại Việt Nam thường kéo dài nhiều năm với không ít
yếu tố bất lợi.
Trong khi cần tạo dựng được môi trường thu hút thì những dự án PPP đi
trước lại không mấy khả quan. Các nguyên nhân thất bại được xác định là do
đối tác tham gia đáng lẽ phải là khu vực tư nhân, thì lại là doanh nghiệp nhà
nước, hay đa phần nguồn vốn vay vẫn do Chính phủ bảo lãnh, hoặc năng lực
quản lý yếu kém, thiếu thể chế pháp luật, cũng như phụ thuộc vào đơn vị tiêu
thụ độc quyền. Khuôn khổ pháp lý riêng cho PPP của Việt Nam hiện nay chưa
thực sự tạo được môi trường đầu tư hấp dẫn với nhà đầu tư, cũng như khi triển
khai thí điểm trong thực tiễn vẫn còn nhiều hạn chế.
Nghị định số 15/2015/NĐ-CP được ban hành để giải quyết những hạn chế
về vấn đề chia sẻ rủi ro mà các nhà đầu tư tư nhân phải đối mặt cũng như giải
quyết những hạn chế của Quyết định 71/2010/QĐ-TTg( Theo quy chế này,
phần tham gia của Nhà nước giới hạn không quá 30%). Bên cạnh đó Nghị định
số 30/2015/NĐ-CP được ban hành làm tăng tính ưu đãi với nhà đầu tư để thu
hút đầu tư lớn hơn. Nhưng trên thực tế, các nhà đầu tư tư nhân đồng thời lại
chịu tác động của nhiều luật liên quan như Luật ngân sách nhà nước, Luật đầu
tư, Luật đầu tư công, Luật doanh nghiệp, Luật đất đai… Khiến cho tình hình về
thu hút vốn PPP không mấy cải thiện.
thay vào đó, Bộ Công Thương đang xây dựng danh mục các dự án PPP về
nguồn điện, tạo thêm cơ hội cho các nhà đầu tư tư nhân.
Hiện Bộ Công thương đang triển khai đàm phán và chuẩn bị Hồ sơ mời
thầu để phát triển 11 dự án nguồn điện theo hình thức BOT với tổng công suất
trên 13 nghìn MW gồm 8 dự án đã có chủ đầu tư và 3 dự án đang triển khai đấu
thầu chọn chủ đầu tư…
Ngoài ra, để đa dạng hóa hình thức đầu tư, đảm bảo phát triển các dự án
nguồn điện đáp ứng nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế, Bộ Công
thương đang xây dựng danh mục các dự án PPP nguồn điện để huy động đầu tư
theo hình thức PPP như các dự án nhiệt điện than sông Hậu 1 tại tỉnh Hậu
Giang, dự án Quảng Trị tại tỉnh Quảng Trị và dự án Quỳnh Lập tại tỉnh Nghệ
An. (BĐT3, 2015)
Bộ Công thương khuyến khích và kêu gọi các nhà đầu tư tham gia đấu
thầu các dự án BOT và PPP theo danh mục kêu gọi đầu tư và luôn ủng hộ các
đề xuất của các nhà đầu tư tư nhân để góp phần phát triển nguồn điện đáp ứng
nhu cầu tăng trưởng điện của Việt Nam giai đoạn 2015 – 2020.
Cũng tại phiên họp này, Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Đặng Huy
Đông nhấn mạnh rằng, Chính phủ Việt Nam luôn coi trọng và khuyến khích
các nguồn vốn đầu tư từ khu vực tư nhân, cả trong nước và nước ngoài tham
gia đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng tại Việt Nam. Thứ trưởng cũng cho biết
thời gian tới, các dự án PPP của Việt Nam sẽ tập trung vào lĩnh vực kết cấu hạ
tầng kỹ thuật trọng yếu trong đó đầu tư vào nhà máy điện, đường dây tải điện
cũng sẽ là lĩnh vực ưu tiên.
Đặc biệt, Thứ trưởng Đặng Huy Đông nhấn mạnh: “Việc lựa chọn nhà
đầu tư cho dự án sẽ được thực hiện thông qua đấu thầu cạnh tranh nhằm tối đa
hóa lợi ích và tạo cơ hội công bằng cho cả nhà đầu tư trong nước và ngoài
nước”. (BaoViet, 2011)
Theo chủ trương của Chính phủ, việc đầu tư phát triển các dự án đã và
2.2. Thị trường phát điện cạnh tranh
Phát triển thị trường điện cạnh tranh là xu hướng phát triển chung của các
nước trên thế giới, là động lực cho hoạt động hiệu quả trong sản xuất kinh
doanh điện và phát triển kinh tế xã hội. Hình thành và phát triển thị trường điện
cạnh tranh là chiến lược phát triển dài hạn của ngành Điện Việt Nam đã được
quy định trong Luật Điện lực (năm 2004) và Luật Điện lực sửa đổi (năm 2013),
được cụ thể hóa trong Quyết định 26/2006/QĐ-TTg ngày 26 tháng 01 năm
2006 của Thủ tướng Chính phủ. Thực hiện thị trường phát điện cạnh tranh là
bước đầu tiên trong lộ trình phát triển thị trường điện tại Việt Nam, hướng đến
mục tiêu đưa cạnh tranh vào khâu phát điện, tạo động lực cho các nhà máy điện
nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Thực tế, thực hiện giai đoạn1, thị trường phát điện cạnh tranh còn quá
chậm về mặt thời gian và chưa đầy đủ về nội dung. Số lượng các nhà máy sản
xuất điện tham gia chào giá trực tiếp trên thị trường tuy có tăng, nhưng vẫn còn
hạn chế và nhiều trở ngại. Do đó, cần thiết thực hiện thị trường phát điện cạnh
tranh đích thực mới thu hút được các nhà đầu tư trong và ngoài nước bỏ vốn
đầu tư dự án nguồn điện.
Thị trường phát điện cạnh tranh sau ba năm vận hành đã có những tác
động rõ rệt đến nguồn cung điện ở Việt Nam: mở cửa thị trường rộng hơn cho
các nhà đầu tư góp vốn vào Tập đoàn Điện lực (EVN).
Thị trường phát điện cạnh tranh là một bước đi minh bạch của thị trường
điện nói chung. Nó đã nâng cao tính chủ động cho các nhà máy sản xuất điện
tham gia thị trường trong và ngoài EVN. Tính chủ động của các đơn vị tham
gia thị trường, nhất là khâu chào giá, có thay đổi rõ rệt. Giá điện trên thị trường
cơ bản phản ánh đúng quy luật cung cầu trên thị trường. Tổng doanh thu trực
tiếp từ thị trường điện của các nhà máy điện trong ba năm vận hành thị trường
là 140.715 tỉ đồng. Có đến 81,14% doanh thu trong số này được thanh toán
theo giá điện năng thị trường, phần còn lại là doanh thu mua thêm sản lượng,
tham gia là hết sức quan trọng. Việc đấu thầu dự án nên được công khai để đảm
bảo tính minh bạch và cơ hội đầu tư vào dự án là như nhau với các nhà đầu tư
tư nhân.
Ở nước ta thời gian qua, có rất nhiều những dự án có hình thức để lựa
chọn nhà đầu tư là chỉ định sau khi có sự thương thảo và cân nhắc giữa các nhà
đầu tư khác nhau. Hình thức này đã bộc lộ những mặt hạn chế nhất định, có thể
dẫn đến phát sinh tiêu cực, lợi ích nhóm, tác động đến môi trường đầu tư kinh
doanh, và lợi ích xã hội. Việc công bố dự án, danh mục dự án chưa được thực
hiện nghiêm túc, công khai. Đồng thời, tiềm ẩn rủi ro, lãng phí, thất thoát và
chọn nhà đầu tư không có đủ năng lực thực hiện dự án. Việc giám sát trong quá
trình thực hiện hợp đồng còn lỏng lẻo, dẫn đến chất lượng thường không đảm
bảo, xuống cấp nhưng không được khắc phục kịp thời.
Cụ thể trên thực tế, chủ dự án có thể đã tạo điều kiện cho nhà thầu nhằm
giúp nhà đầu tư được hưởng lợi "kép" gồm: Khi nhận thầu thi công công trình
và khi đầu tư kinh doanh các khu đất đối ứng ở các địa điểm đắc địa và đã được
tăng cường hệ thống hạ tầng. Bên cạnh đó, các nhà thầu, nhà đầu tư này đã
tránh được thủ tục "kép" khi lựa chọn nhà thầu xây lắp công trình và lựa chọn
chủ đầu tư dự án bất động sản: Khi được chỉ định làm nhà thầu xây lắp mà
không phải qua thủ tục đấu thầu rộng rãi trong nước, quốc tế, khi được chỉ định
nhà đầu tư dự án bất động sản các khu đất đối ứng mà không phải qua thủ tục
đấu thầu rộng rãi trong nước, quốc tế để lựa chọn nhà đầu tư.
Chính vấn đề này đã làm ảnh hưởng đến tính minh bạch, bình đẳng, cạnh
tranh lành mạnh của môi trường kinh doanh bị sụt giảm, tác động tiêu cực đến
niềm tin của nhà đầu tư trong nước, nước ngoài, và có thể gây thiệt hại ngân
sách nhà nước (vì nguồn đất đối ứng trả cho nhà thầu cũng là tài sản công, cũng
là tiền ngân sách), và gây quan ngại cho xã hội. (BĐS, 2017)
3.2.
đoái, tỷ lệ lạm phát biến động; Nhà nước không bố trí đủ nguồn vốn cam kết hỗ
trợ/thanh toán cho dự án… Giai đoạn chuẩn bị dự án, xây dựng và vận hành
đều có rủi ro.
Việc phân bổ rủi ro không hợp lý sẽ ngăn chặn sự tham gia của các nhà tài
trợ tận tâm và có năng lực, có thể gây ra sự chậm trễ trong quá trình đấu thầu
cạnh tranh hoặc gây thất bại và có thể dẫn đến việc trao thầu cho một nhà đầu
tư không có hoặc không thể ước tính rủi ro một cách hợp lý, tham gia dự án
như “đánh bạc”.
Trong không ít dự án đầu tư theo hình thức PPP (hợp đồng BOT) đã thực
hiện, nhà đầu tư phải chịu nhiều rủi ro hơn vì luôn đứng ở thế dưới trong đàm
phán hợp đồng với cơ quan nhà nước. Thậm chí, có nhà đầu tư còn “dọa”
không tham gia dự án BOT nữa, nếu vẫn tiếp diễn tình trạng bị cơ quan nhà
nước “ép” trong đàm phán hợp đồng, dẫn đến phải chịu quá nhiều rủi ro, càng
làm càng lỗ. Để mô hình PPP ngày một hoàn thiện và hấp dẫn các nhà đầu tư,
nhiều ý kiến cho rằng, Nhà nước cần lấy chủ thể là nhà đầu tư để phát hiện,
nhận diện đầy đủ các rủi ro và có giải pháp chia sẻ rủi ro một cách khách quan,
minh bạch… (BĐT4, 2017)
4. Khung pháp lý cơ bản của PPP Việt Nam
4.1.
Khung pháp lý PPP ban hành năm 2015
Nghị định số 15/2015/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư
(Nghị định PPP) được Chính phủ ký ban hành ngày 14/2/2015, sẽ có hiệu lực
thi hành từ ngày 10/4/2015. Với nghị định này, Việt Nam chính thức có một
khung chính sách thống nhất, đồng bộ, có hiệu lực cao, phù hợp với thông lệ
quốc tế và điều kiện quốc gia để đẩy mạnh thu hút đầu tư của tư nhân vào các
dự án kết cấu hạ tầng, dịch vụ công theo hình thức PPP. Thời gian qua, chính
sách thu hút đầu tư tư nhân tham gia đầu tư vào các công trình kết cấu hạ tầng,
Thứ nhất, sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án:
Ngoài việc kế thừa quy định cũ tại Nghị định 108 và Quyết định 71, Nghị định
PPP quy định mục đích sử dụng vốn đầu tư của Nhà nước bao gồm góp vốn để
hỗ trợ xây dựng công trình đối với dự án kinh doanh, thu phí từ người sử dụng,
nhưng khoản thu không đủ để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận; thanh toán cho
nhà đầu tư thực hiện hợp đồng BTL, BLT.
Hai là, về cơ chế tài chính hỗ trợ thực hiện dự án PPP: Nghị định PPP đã
bỏ hạn mức về vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án nhằm linh
động, phù hợp với yêu cầu, tính chất của từng dự án cụ thể. Bên cạnh đó, liên
quan đến nguồn vốn hỗ trợ chuẩn bị đầu tư, Nghị định PPP cũng quy định về
việc sử dụng, quản lý nguồn hỗ trợ phát triển chính thức, vốn vay ưu đãi của
các nhà tài trợ nước ngoài và các nguồn vốn khác theo quyết định của Thủ
tướng Chính phủ. Về khía cạnh lập kế hoạch vốn, bộ, ngành, UBND cấp tỉnh
lập và tổng hợp kế hoạch vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án
PPP được công bố trong kế hoạch đầu tư công trung hạn 5 năm của bộ, ngành,
địa phương.
Ba là, quy trình thực hiện dự án PPP: Nghị định PPP tách bạch hai quy
trình thực hiện dự án PPP trong trường hợp dự án do Nhà nước lập đề xuất dự
án và trường hợp dự án do nhà đầu tư đề xuất mới ngoài các dự án đã được
công bố. Ngoài ra, đối với dự án PPP nhóm C, quy trình thực hiện dự án được
rút ngắn, không có quy định về lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu
khả thi; không có quy định về ký kết thỏa thuận đầu tư, cấp giấy chứng nhận
đăng ký đầu tư, thành lập doanh nghiệp dự án. Trường hợp dự án đang được
đầu tư bằng vốn đầu tư công muốn chuyển đổi sang hình thức đầu tư PPP thì
Nghị định PPP cũng đưa ra quy định về thủ tục chuyển đổi hình thức đầu tư.
Bốn là, về dự án do nhà đầu tư đề xuất: Trường hợp nhà đầu tư đề xuất dự
án PPP là doanh nghiệp nhà nước thì phải liên doanh với doanh nghiệp khác để
đề xuất dự án. Đối với dự án do nhà đầu tư đề xuất và được phê duyệt thì được
bộ, ngành, UBND cấp tỉnh giao nhà đầu tư lập báo cáo nghiên cứu khả thi.