tạp chí kinh tế đối ngoại đề tài NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THU HÚT ĐẦU TỪ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI CÁC TỈNH THÀNH CỦA VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY - Pdf 28

NGHIÊN CỨU ĐỊNH LƯỢNG VỀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN VIỆC THU
HÚT ĐẦU TỪ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI CÁC TỈNH THÀNH CỦA VIỆT NAM
TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
Tác giả:TS Nguyễn Thị Tường Anh
Nguyễn Hữu Tâm
Tóm tắt
Đầu tư trực tiếp nước ngoài, đặc biệt là ở các nền kinh tế mới nổi, là một
mảng nghiên cứu thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu cũng
như hoạch định chính sách thời gian gần đây. Tuy nhiên, trên thực tế, những
nghiên cứu về đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam hầu hết chỉ tập trung
vào giai đoạn trước năm 2007, trong khi thực tiễn hiện nay hết sức phức tạp
và đòi hỏi những nghiên cứu mới, cập nhật gần hơn với tình hình hiện tại.
Bài báo trình bày 2 nội dung cơ bản liên quan đến dòng vốn đầu tư trực tiếp
nước ngoài vào Việt Nam giai đoạn hiện nay. Phần 1 nêu bật những nét
chung của dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam, về xu hướng,
việc phân bổ FDI theo vùng kinh tế, khu vực địa lý và theo nước đầu tư trong
mối tương quan với các quốc gia trong khu vực và các thời kì khác nhau.
Phần 2 là nghiên cứu định lượng về các nhân tố tác động đến dòng FDI đổ
vào các tỉnh, thành ở Việt Nam trên 2 giai đoạn nhỏ 2001-2007 và 2008-2010
nhằm chỉ ra những thay đổi trong quyết định về địa điểm đầu tư. Ngoài ra,
nhóm tác giả còn đi sâu phân tích giai đoạn thứ 2 để chỉ rõ hơn các nhân tố
về nguồn lao động và điều kiện chính trị đã tác động đến dòng vốn FDI đổ vào
các tỉnh như thế nào.
Nghiên cứu chỉ ra (1) dòng vốn FDI đang có sự chuyển dịch sang các khu vực
có trình độ phát triển còn nhiều hạn chế như Bắc Trung Bộ và Duyên hải miền
Trung, Đồng bằng sông Cửu Long, (2) lĩnh vực bất động sản thu hút khá
nhiều FDI và có xu hướng tăng, (3) FDI vào lĩnh vực tài chính lại tiếp tục bị
hạn chế và (4) chất lượng cũng như quy mô hoạt động kinh doanh của các
doanh nghiệp có tác động mạnh tới thu hút FDI trong khi trình độ lao động
cao lại chưa có ý nghĩa rõ ràng trong giai đoạn 2008-2010.
Nghiên cứu trong bài báo này sử dụng phương pháp ước lượng OLS với bộ số

thế giới nói chung. Ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng thị trường nhà đất Mỹ
và liền đó là nợ công châu Âu là những nhân tố định hình dòng vốn FDI trên
thế giới cũng như Việt Nam. Tuy nhiên, tốc độ gia tăng của Việt Nam khá lớn
trong giai đoạn này, cao hơn hẳn các nền kinh tế phát triển hơn trong khu
vực như Thái Lan, Singapore, Indonexia.
1.2. Phân bổ FDI theo nước đầu tư
Các nhà đầu tư lớn ở Việt Nam chủ yếu đến từ khu vực châu Á. Tính đến hết
năm 2011, theo số liệu của Tổng cục Thống kê, Việt Nam có 13.667 dự án FDI
còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký 198 tỷ USD, trong đó công nghiệp và xây
dựng chiếm 54%. Singapore là nhà đầu tư lớn nhất vào Việt Nam với tổng số
vốn đăng ký 24.49 tỷ USD và gần khoảng 1000 dự án, tiếp theo lần lượt là
Hàn Quốc, Nhật Bản và Đài Loan. Hoa Kì đứng vị trí thứ 7 với 568 dự án và
13.5 tỉ USD. Xét riêng 8 tháng đầu năm 2012, Nhật Bản là nhà đầu tư lớn
nhất với 4.33 tỉ USD.
1.3. Phân bổ FDI theo khu vực địa lý
Nhìn chung, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đổ vào Việt Nam chủ yếu đến các
tỉnh thuộc Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Hồng, nơi có nguồn nhân lực
chất lượng cao, điều kiện tự nhiên thuận lợi và có 2 trung tâm kinh tế chính
trị đầu não cả nước, Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Tính đến hết 2011,
Đông Nam Bộ chiếm 57% tổng số dự án, 49% số vốn đăng kí và 51% số vồn
điều lệ của tất cả các dự án FDI vào Việt Nam. Các con số tương ứng với Đồng
Bằng Sông Hồng là 29%, 23% và 24%. Kế đến là khu vực Bắc Trung Bộ và
Duyên Hải Miền Trung. Đồng Bằng Sông Cửu Long, Trung Du và Miền Núi
Phía Bắc, khu vực Tây Nguyên chiếm tỉ lệ không đáng kể.
Mặc dù FDI chủ yếu ở các khu vực Đông Nam Bộ và Đồng Bằng Sông Hồng
nhưng nhìn vào giá trị FDI trong những năm gần đây có thể thấy khu vực
Đồng Bằng Sông Cửu Long, Tây Nguyên và đặc biệt là Duyên Hải miền Trung
và Nam Trung Bộ là những điểm đến mới của các nhà đầu tư. Trong giai
đoạn 1988-2000, Bắc Trung Bộ và Duyên Hải miền Trung chỉ chiếm gần 10%
tổng lượng FDI, đến giai đoạn 2008-2010 con số này lên tới trên 36%, xếp thứ

tiếp nước ngoài xoay quanh lí thuyết chiết trung về sản xuất quốc tế, mô hình
OLI của John Dunning (1977). Học thuyết này kế thừa rất nhiều những ưu
điểm của các học thuyết khác về FDI.
Dunning đã tổng hợp các yếu tố chính của nhiều công trình khác nhau lý giải
về FDI và đề xuất rằng có 3 điều kiện cần thiết để một doanh nghiệp có động
cơ tiến hành đầu tư trực tiếp: lợi thế về sở hữu, địa điểm và nội bộ hóa. Cách
tiếp cận này được biết đến dưới tên mô hình OLI. Lợi thế về sở hữu của một
doanh nghiệp có thể là một sản phẩm hoặc một qui trình sản xuất mà có ưu
thế hơn hẳn các doanh nghiệp khác hoặc các doanh nghiệp khác không thể
tiếp cận. Các lợi thế về địa điểm bao gồm không chỉ các yếu tố nguồn lực, mà
còn có cả các yếu tố kinh tế và xã hội, như dung lượng và cơ cấu thị trường,
khả năng tăng trưởng của thị trường và trình độ phát triển, môi trường văn
hóa, pháp luật chính trị và thể chế. Tiếp đến là lợi thế về nội bộ hóa sản xuất,
được hiểu là việc một công ty thực hiện và kiểm soát toàn bộ quá trình sản
xuất một sản phẩm từ khâu nguyên liệu đầu vào cho đến việc bán sản phẩm.
Từ nền tảng của lý thuyết Dunning, hàng loạt các nghiên cứu đã tiến hành
phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến dòng vốn FDI đổ vào Việt Nam cả cấp
quốc gia lẫn cấp tỉnh, vùng. Các nghiên cứu hầu như tập trung vào tiềm năng
thị trường, lao động, cơ sở hạ tầng, chính sách chính phủ và tác động tích lũy.
Về tiềm năng thị trường, các biến được sử dụng phổ biến là dân số, tốc đô
tăng dân số, GDP, GDP đầu người hay tốc độ tăng GDP. Nguyen và Hans-
Rimbert (2002) dựa trên 2 mô hình hồi quy cho 61 quan sát và nhận thấy
GDP và GDP đầu người tác động mạnh tới cả FDI đăng kí và FDI thực hiện
cộng dồn tới 31/12/2000 của các tỉnh. Tuy nhiên, tác động của GDP đầu
người lại trái chiều nhau giữa mô hình của FDI thực hiện và FDI đăng kí,
trong khi GDP của tỉnh ảnh hưởng thuận chiều với dòng vốn FDI. Gần đây
nhất là nghiên cứu của Bulent và Mehmet nghiên cứu FDI vào 62 tỉnh của
Việt Nam giai đoạn 2006-2009 cho thấy tác động dương của GDP thực tế đầu
người theo giá cơ sở 2005 tới dòng vốn FDI. Nguyen và Nguyen (2007) thấy
tác động dương tới FDI của tốc độ tăng GDP (đồng thuận với Mayer và

Về chính sách chính phủ, đây là nhân tố được đo lường bởi rất nhiều biến
khác nhau. Chỉ số được sử dụng rộng rãi trong những năm gần đây là chỉ số
PCI, năng lực cạnh tranh cấp tỉnh, được Phòng công nghiệp và thương mại
Việt Nam VCCI và Cơ quan phát triển quốc tế Hoa Kì nghiên cứu giới thiệu.
Tuy nhiên, các nghiên cứu sử dụng chỉ số này còn có nhiều khác biết. Nguyen
và Nguyen (2007) không thấy PCI 2006 tác động đáng kể đến giá trị FDI mới,
FDI tích lũy. Trong khi đó, nghiên cứu thời gian gần đây hơn, 2006-2009,
Bulent và Mehmet lại cho thấy ảnh hưởng dương đáng kể của PCI thành phân
về mức độ tham nhũng tới FDI vào các tỉnh. Thống nhất với nghiên cứu này,
Malesky(2007) phân tích 10 chỉ số thành phần của PCI và thấy ảnh hưởng
mạnh của 1 số chỉ số thành phần như chính sách phát triển với khu vực tư
nhân, minh bạch và tiếp cận đất đai tới đề án FDI cấp mới, tỉ lệ thực hiện và
vốn bổ sung năm 2006,chỉ số PCI tổng hợp có trọng số cũng cho kết quả
tương tự với cả tỉ lệ thực hiện cũng như vốn bổ sung. Trước đó, Mayer và
Nguyen (2005) đã phân tích ảnh hưởng của thể chế chính trị thông qua ảnh
hưởng của việc cho phép tiếp cận các nguồn lực khan hiếm của chính quyền
tỉnh đơi với nhà đầu tư, đo bằng tổng diện tích khu công nghiệp trong tỉnh
theo báo cáo 1999 và tác động của doanh nghiệp nhà nước, đại diện bằng tỉ
lệ giá trị sản xuất của doanh nghiệp nhà nước trên tổng giá trị sản xuất nội
địa. Kết quả cho thấy ảnh hưởng thuận chiều của sự cho phép tiếp cận nguồn
lực tới nhà đầu tư đối với lựa chọn địa điểm và hình thức gia nhập của
hãng.Trong khi áp lực doanh nghiệp nhà nước không có tác động đến địa
điểm đầu tư. Số khu công nghiệp, khu chế xuất cũng được sử dụng cho điều
kiện chính trị. Le Viet Anh(2004) sử dụng số khu công nghiệp khu chế xuất và
cho thấy tác động dương ở hầu hết các mô hình.
Về tác động tích lũy, FDI cộng dồn tới trước năm nghiên cứu là biến được sử
dụng rộng rãi. Mayer và Nguyen(2005) sử dụng số đề án được cấp phép
trước đó có tác động đáng kể đến FDI mới. Malesky (2007) thấy điều tương
tự xảy ra với tổng lượng vốn 2005 và vốn bổ sung năm 2006 của 64 tỉnh
thành

còn là một chỉ số đo lường hiệu quả cơ sở hạ tầng nữa.
- Nhân tố chính sách của chính phủ: Sử dụng biến dummy vùng kinh tế
trọng điểm (vungkttd) số khu cụm công nghiệp (khucumcn) vì cho rằng cả 2
chính sách vĩ mô này đều nhằm mục tiêu hướng tới tạo thuận lợi cho nhà đầu
tư. Chỉ số PCI thành phần cũng được sử dụng. Vì những khác biệt trong
phương pháp đo lường PCI 2007 và 2009 nên nhóm nghiên cứu không sử
dụng chỉ số tổng hợp, thay vào đó chúng tôi dùng chỉ số PCI về đào tạo lao
động, một chỉ số đã được Malesky (2008) chứng minh có tác động mạnh tới tỉ
lệ vốn thực hiện trên vốn đăng kí và vốn cấp mới năm 2006. Ngoài ra, chúng
tôi còn sử dụng PAPI, chỉ số về Hiệu quả quản trị công và hành chính công cấp
tỉnh, được đo lường bởi Trung tâm nghiên cứu phát triển và hỗ trợ cộng
đồng (CECODES), ban Dân nguyện (Ủy ban thường vụ quốc hội), tạp chí Mặt
trận (Ủy ban Trung ương mặt trận Tổ quốc Việt Nam) và UNDP. Vì đối tượng
cho báo cáo này là người dân nên chúng tôi không sử dụng chỉ số PAPI tổng
hợp, thay vào đó, chúng tôi chỉ sử dụng Chỉ số về cung cấp dịch vụ công vì cho
rằng nó sẽ đảm bảo tốt hơn để đo lường tác động của khu vực công. Chỉ số
này gồm an ninh trật tư, y tế công, giáo dục công và cơ sở hạ tầng cơ bản. Giả
thiết của chúng tôi đặt ra là các chỉ số này càng cao chứng tỏ môi trường đầu
tư càng thuận lợi, qua đó tăng cường thu hút FDI. Về chỉ số năng lực cạnh
tranh cấp tỉnh, chúng tôi lấy chỉ số Đào tạo lao động để đại diện cho những hỗ
trợ của chính quyền địa phương, chỉ số này gồm 1 số thành phần như số
trung tâm dạy nghề do địa phương quản lý, các trung tâm giới thiệu việc làm,
chất lượng giáo dục do tỉnh cung cấp. Cũng coi đất đai là một nhân tố quan
trọng thể hiện những thiện chí chính trị với doanh nghiệp ngoài nhà nước
như Mayer và Nguyen (2005), chúng tôi sử dụng biến số đánh giá của doanh
nghiệp đối với rủi ro thu hồi đất (cao nhất là 1, thấp nhất là 5), biến số này
càng cao chứng tỏ sự tin tưởng của doanh nghiệp vào hệ thống chính trị và kì
vọng thời gian hoạt động lâu dài, ổn đinh. Biến số lấy từ chỉ số PCI thành
phần, phần tiếp cận đất đai.
- Nhân tố tích lũy: Sử dụng FDI tính đến thời kì t-1 để phân tích tâm lí

Giá trị FDI mới
thời kì 2001-2007
1 2 3 4 5 6
G 0.05** 0.05** 0.05** -0.045** 0.036*** 0.04***
Gds 129.7 100.0 338.79 -1401 274.4 -67.56
Tnthang 0.215* 0.22* 0.22* 0.11* 0.18* 0.20*
Hsptds -1.36 - -1.42 -0.55
Dnbds 2.38* 2.60* 3.03* 0.92*** 2.4* 2.51**
Hhvcbds 3.70 0.19 3.77 -1.4 -0.15
Disair -0.12 -0.10 -0.26 -0.12 -0.25 -0.107
Vungkttd -5.11 2.46 -16.8 -7.51
TichluyFDIt-1 0.28*
Dnads 88.79
Dnba -0.308
Dnca 7.83*
Dnda 10.8*
Dnea 6.48*
R2 56.38 56.06 51.18 69.37 51.89 56.74

*, **, *** tương ứng với mức ý nghĩa 1%, 5% và 10%
Bảng 2: Kết quả nghiên cứu định lượng giai đoạn 2008-2010
Giá trị FDI
mới thời kì
2008-2010
1 2 3 4 5 6
G 0.38 0.4*** 0.32 0.39 0.37 0.2
Gds 6188.18** 5661.7** 6389.9** 8594.28** 6588.4** 5747.4**
Tnthang -0.63** -0.6* -0.44*** -0.49** -0.42*** -0.55**
Hsptds 40.1** 34.6*** 42.1** 52.2** 41.8** 36.7***
Dnbds 2.7 3.07 5.8** 3.25 6.27* 3.6

không ảnh hưởng tới thu hút FDI vào tỉnh trong cả 2 giai đoạn, ngược lại,
những doanh nghiệp lớn về vốn luôn là nhân tố thực sự thu hút FDI trong
suốt thời gian nghiên cứu.
· Các doanh nghiệp đi trước có tài sản cố định trung bình cao gây lòng tin
cho các doanh nghiệp FDI và chứng tỏ tiềm năng hoạt động lâu dài là nhân tố
ảnh hưởng mạnh đến quyết định của nhà đầu tư.
· Tỉnh có các doanh nghiệp với doanh thu trung bình cao tạo sức hút cho
các nhà đầu tư.
Có thể nói, sự tương đối thống nhất về kết quả định luợng của 2 thời kì này về
nhân tố tích lũy cho thấy, các nhà đầu tư không hề có sự thay đổi tâm lý khi
cân nhắc quyết định đầu tư trên khía cạnh xem xét sự hoạt động của các
doanh nghiệp trước đó.
Về khác biệt, điểm chú ý đầu tiên là tốc độ gia tăng dân số. Trong khi giai
đoạn 2001-2007, tốc độ gia tăng dân số không có ảnh hưởng đến quyết định
đầu tư thì giai đoạn sau, nó lại ảnh hưởng rất mạnh mẽ. Điều này cho thấy
tiềm năng thị trường của 1 tỉnh đã thu hút sự chú ý của các nhà đầu tư với kì
vọng đầu tư lâu dài.
Thứ 2 nữa là trong khi quy mô dân số là quan trong với gian đoạn 1 nhưng
lại không có ý nghĩa trong giai đoạn hiện nay.
Điểm đối nghịch rất đáng chú ý là trong khi thu nhập tháng của nhân viên
nhà nước, đại diện cho sức mua chung của thị trường, đầu tiên có ảnh hưởng
cùng chiều đến dòng vốn FDI, thì giai đoạn sau lại ảnh hưởng ngược chiều,
chứng tỏ 1 sự thay đổi lớn trong tâm lý đầu tư. Như phần trên đã trình bày cơ
cấu giá trị FDI có xu hướng dịch chuyển về vùng Duyên hải miền Trung vốn có
nhiều khó khăn và giảm thiểu đầu tư tại khu vực Đông Nam Bộ cũng như
Đồng bằng sông Hồng, những ảnh hưởng đối nghịch của thu nhập tháng
trong kết quả nghiên cứu trên đã chứng tỏ cho thực tế này. Lúc này thu nhập
tháng không còn là nhân tố đo lường sức mua thị trường nữa, thay vào đó, nó
là đại diện của chi phí lao động cao.
Tiếp tục ủng hộ cho lập luận trên, số lượng học sinh phổ thông trên 1000 dân,

1 2 3 4 5 6 7 8
Disair 2.07 1.63 1.43
Gds
10802.67
**
7046.1**
*
8061.4*
*
9810.7*
*
10021.12
**
11152.0
3*
13659*
*
13245**
Tnthang -0.5** -0.63** -0.5** -0.49** -0.37 -0.39 -0.25 -0.37
Hsptds 28.92 36.6** 36.6*** 25.9 35.7*** 37.7** 46.7* 37.4**
Hhvcbds -70.06* -76.3** -78.9* -66.38* -81.71** -82.9* -84.5* -74.7*
Tichluyval
ue
0.13** 0.14* 0.15*
Dnads
Dnba
Dnca 45.4* 44.2* 45.9*
Dnda
Dnea 40.91* 40.5*
PCI8 221.9** 195.5**

-
47.74***
Tichluyval
ue

0.1721**
*
Dnads 66.8*
Dnba
Dnca
Dnda 71.78*
Dnea 37.03* 39.22*
PCI8
214.4*
*

PAPI6 603.9***
Khucumcn 59.9*** 61.3**
Ruirodat 434.52**
R2 26.36 25.76 27.32 27.5 19.03

Nghiên cứu tiến hành phân tích sự sẵn sàng của các tỉnh trong hỗ trợ đào tạo
nguồn lao động (PCI8) làm biến đo lường hỗ trợ về chính sách. Kết quả cho
thấy các tỉnh với hỗ trợ về lao động cũng sẽ tạo hiệu ứng tích cực cho dòng
vốn FDI đổ vào tỉnh mình. Cung ứng dịch vụ công PAPI5 cũng cho kết quả
tương tự và có ý nghĩa thống kê, cho thấy những sản phẩm công cộng có vai
trò lớn đối với thu hút FDI. Ngoài ra, tương tự như kết luận của Mayer và
Nguyen(2005), chính sách về đất đai cũng có tác động đáng kể.
Như vậy, có thể nói rằng, những tác động của điều kiện chính trị lên dòng vốn
FDI được thể hiện qua rất nhiều mặt khác nhau và đều rất mạnh mẽ.

mình, cải thiện điểm yếu và có những kế hoạch lâu dài, tổng thể.
Phần phân tích định lượng đã chỉ ra những thay đổi trong quyết định lựa
chọn đầu tư, tiến tới những thị trường mới, tốc độ tăng dân số cao, nguồn lao
động rẻ, và sẵn sàng chấp nhận những hạn chế về cơ sở hạ tầng. Ngoài ra,
việc hoạt động của các doanh nghiệp trên địa bàn luôn là nhân tố quan trọng.
Chính sách chính phủ, mà cụ thể là chính sách đất đai, cung ứng dịch vụ công
và hỗ trợ đào tạo lao dộng là những nhân tố cho thấy ảnh hưởng mạnh đến
FDI. Qua đây, nghiên cứu cổ vũ mạnh mẽ cho quá trình cải thiện và trong sạch
hóa bộ máy quản lý nhà nước cấp tỉnh.

TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dunning, J. H. (1977). Trade, location of economic activity and the MNE: a
search for an eclectic approach. In B. Ohlin, P. Hesselborn, P. M.Wijkman
(Eds.), The international allocation of economic activity:proceedings of a
Nobel Symposium held at Stockholm, pp.395-418, London: The Macmillan
Press Ltd.
2. Hans-Rimbert Hemmer, Nguyen thi Phuong Hoa(2002), Contribution of
Foreign Direct Investment to Poverty Reduction: The Case of Vietnam in the
1990s, Univ. Giessen, Fachbereich Wirtschaftswiss.
3. Nguyen, Ngoc Anh & Nguyen, Thang, (2007),Foreign direct investment
in Vietnam: An overview and analysis the determinants of spatial distribution
across provinces,MPRA Paper 1921, University Library of Munich, Germany
4. Malesky, E. (2007), ‘Provincial Governance and Foreign Direct
Investment in Vietnam’, 20 Years of Foreign Investment: Reviewing and
Looking Forward (1987–2007), Knowledge Publishing House
Chi tiết xin liên hệ Ban Tạp chí để có bản mềm.
Website: http://tapchiktdn.ftu.edu.vn


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status