Kinh tế học vi mô: Định nghĩa kinh tế - Pdf 66

Kinh tế học vi mô: Định nghĩa kinh tế học
Điều đầu tiên chúng ta sẽ thảo luận là vấn đề định nghĩa "kinh tế học". Các nhà
kinh tế nói chung thường định nghĩa kinh tế học là việc nghiên cứu xem các cá
nhân và xã hội sử dụng những nguồn tài nguyên hạn chế để thoả mãn những nhu
cầu vô hạn như thế nào. Để xem khái niệm này có nghĩa như thế nào, hãy nghĩ về
tình huống của bản thân bạn. Liệu bạn có đủ thời gian làm mọi việc mà bạn muốn
làm không? Bạn có thể mua mọi thứ mà bạn muốn được sở hữu không? Các nhà
kinh tế cho rằng thực sự mọi người muốn nhiều thứ hơn. Thậm chí ngay cả những
người giàu nhất trong xã hội cũng không thoát được hiện tượng này.

Quan hệ giữa các nguồn lực hạn chế và những mong muốn vô hạn cũng được áp
dụng với toàn xã hội nói chung. Liệu bạn có nghĩ là bất kỳ xã hội nào cũng có thể
thoả mãn mọi mong muốn? Hầu hết các xã hội đều mong muốn có
dịch vụ chăm
sóc sức khoẻ tốt hơn, chất lượng giáo dục cao hơn, đói nghèo ít hơn, một môi
trường trong sạch hơn, .v.v.... Thật không may, không có đủ sẵn các nguồn lực để
thoả mãn mọi mục tiêu này.

Hàng hoá kinh tế (economic goods) , Hàng hoá miễn phí (free goods) và Hàng sa
thải kinh tế (economic bads)

Một hàng hoá được coi là một hàng hoá kinh tế (còn được gọi là một hàng hoá
khan hiếm) nếu số lượng "cầu" hàng hoá vượt số lượng "cung" tại mức giá bằng
zero. Nói cách khác, một hàng hoá là một hàng hoá kinh tế nếu mọi người muốn
có nhiều hàng hoá đó hơn số lượng hàng hoá có sẵn nếu nó được cấp miễn phí.

Một hàng hoá được gọi là hàng hoá miễn phí nếu số lượng cung hàng hoá vượt
quá số lượng cầu hàng hoá tại mức giá bằng 0. Nói cách khác, một hàng hoá là
hàng hoá tự do nếu có nhiều hàng hoá hơn số lượng hàng hoá cần đủ cho mọi
người thậm chí tới mức hàng hoá được cung cấp miễn phí. Các nhà kinh tế cho là
có tương đối ít nếu không muốn nói là không có hàng hoá miễn phí.


Hình thức thanh toán cho mỗi nguồn lực được liệt kê trong bảng dưới đây:

Tư lợi hợp lý

Như đã lưu ý ở trên, sự khan hiếm dẫn tới sự cần thiết phải lựa chọn những hình
thức cạnh tranh thay thế. Các nhà kinh tế cho là các cá nhân theo đuổi sự tư lợi
hợp lý của họ khi đưa ra sự lựa chọn. Điều này có nghĩa người ta cho là các cá
nhân, với những thông tin có được tại thời điểm lựa chọn, lựa chọn sự thay thế mà
họ tin là khiến họ thoả mãn nhất.

Lưu ý là cụm từ "tư lợi" có nghĩa hoàn toàn khác "ích kỷ". Những người tư lợi có
thể cống hiến thời gian của mình cho các tổ chức từ thiện, tặng quà cho người yêu,
góp phần làm từ thiện và tham dự những hoạt động nhân đạo tương tự khác. Mặc
dù vậy, các nhà kinh tế cho là những con người vị tha lựa chọn những hành động
này vì họ nhận thấy những hành động này mang lại hạnh phúc nhiều hơn là những
hành động thay thế khác.

Phương pháp luận kinh tế

Bàn luận về kinh tế có thể liên quan tới cả những phân tích thực chứng và chuẩn
tắc. Phân tích thực chứng (positive analysis) liên quan tới sự nỗ lực mô tả nền kinh
tế hoạt động như thế nào. Kinh tế học chuẩn tắc (normative analysis) dựa trên
những định hướng giá trị để đánh giá và kiến nghị những chính sách thay thế.

Với tư cách là một môn khoa học xã hội, kinh tế học cố gắng dựa trên phương
pháp khoa học. Phương pháp khoa học này bao gồm những bước sau:
1. Quan sát một hiện tượng
2. Đơn giản hoá giả định và phát triển một mô hình (một tập hợp của một
hoặc nhiều giả định).

định sai rằng một sự kiện là kết quả một sự kiện khác chỉ đơn giản vì nó xảy ra
trước sự kiện kia. Ví dụ Super Bowl được thảo luận trong sách của bạn là một ví
dụ hay về sự nguỵ biện có lôgíc này.

(Hai ngụy biện mà các sinh viên kinh tế hay kinh tế gia thường phạm là "ngụy
biện tổng thể", và "ngụy biện sai nguyên nhân". Ngụy biện tổng thể lấy 1 sự việc
đúng, và quy cho thành một chân lý. Ví dụ, khi đi xem phim, nếu mọi người ngồi
và ta đứng, thì ta sẽ thấy rõ hơn. Nhưng không thể vì sự việc này đúng, mà đưa ra
chân lý rằng đi xem phim đứng thì thấy rõ hơn, vì nếu mọi người cùng đứng thì có
khác gì mọi người cùng ngồi? Ngụy biện sai nguyên nhân là đưa ra những lý giải
nhân quả không đúng. Đọc phần Lý Luận Giỏi để hiểu nhiều hơn về các loại ngụy
biện thông dụng.)

Kinh tế vĩ mô và kinh tế vi mô

Kinh tế vi mô liên quan tới việc nghiên cứu về các công ty riêng lẻ và các loại thị


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status