BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MINH HÒA
NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CẠNH TRANH VÀ
ỔN ĐỊNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI 10
QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á GIAI ĐOẠN 2011-2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP. Hồ Chí Minh – Năm 2020
z
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN THỊ MINH HÒA
NGHIÊN CỨU MỐI TƯƠNG QUAN GIỮA CẠNH TRANH VÀ
ỔN ĐỊNH CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TẠI 10
QUỐC GIA ĐÔNG NAM Á GIAI ĐOẠN 2011-2018
Chuyên ngành: Tài chính- Ngân hàng (Hướng nghiên cứu)
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1.3 Đối tượng nghiên cứu .............................................................................................. 2
1.4 Dữ liệu nghiên cứu ................................................................................................... 2
1.5 Phạm vi nghiên cứu.................................................................................................. 2
1.6 Phương pháp nghiên cứu ........................................................................................ 2
1.7 Cấu trúc bài nghiên cứu .......................................................................................... 2
CHƯƠNG 2: KHÁI NIỆM CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ
LIÊN QUAN ĐỀ TÀI .................................................................................................... 3
2.1 Khái niệm .................................................................................................................. 3
2.1.1 Khái niệm cạnh tranh ............................................................................................ 3
2.1.2 Đo lường cạnh tranh ............................................................................................. 4
2.1.3 Khái niệm sự ổn định ........................................................................................... 10
2.1.4 Đo lường sự ổn định ............................................................................................ 12
2.2 Khung lý thuyết ...................................................................................................... 14
2.2.1 Lý thuyết cạnh tranh của Michael Porter ........................................................... 14
2.2.2 Lý thuyết về cấu trúc thị trường, mô hình SCP hay mô hình Bain Mason ...... 15
2.2.3 Lý thuyết theo hướng phi cấu trúc mô hình của tổ chức NEIO (New Empirical
Industrial Organization) ............................................................................................... 16
2.3 Các nghiên cứu liên quan ...................................................................................... 16
2.3.1 Các quan điểm nghiên cứu .................................................................................. 16
2.3.2 Các nghiên cứu thực nghiệm .............................................................................. 19
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ....................................................... 28
3.1 Mô tả biến ............................................................................................................... 28
3.2 Kỳ vọng dấu của các biến ...................................................................................... 31
3.3 Dữ liệu ..................................................................................................................... 34
3.4 Mô hình thực nghiệm và dữ liệu ........................................................................... 37
3.5 Phương pháp phân tích mô hình hồi quy ............................................................ 38
3.5.1 Mô hình hồi quy tuyến tính bình phương nhỏ nhất tổng quát (Pooled OLS) .. 39
3.5.2 Mô hình Fixed Effects (FEM)............................................................................. 39
ASEAN
Tên đầy đủ tiếng Anh
Tên đầy đủ tiếng Việt
of Hiệp hội các Quốc gia Đông
Association
Southeast Asian Nations
Nam Á
FEM
Fixed Effects Model
Mô hình tác động cố định
GDP
Gross Domestic Product
Tổng sản phẩm nội địa
GMM
Generalized
method
Hồi quy bình phương tối thiểu
hai giai đoạn
3SLS
Three stage least squares
Hồi quy bình phương tối thiểu
ba giai đoạn
REM
Random Effects Model
Mô hình tác động ngẫu nhiên
WB
World Bank
Ngân hàng thế giới
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1:Tóm tắt ưu nhược điểm các biện pháp đo lường cạnh tranh ……………9
Bảng 2.2: Tổng hợp nghiên cứu thực nghiệm …………………………………….24
Bảng 3.1: Các biến và kỳ vọng tương quan giữa các biến trong mô hình ….…….32
Bảng 3.2: Tăng trưởng GDP thực ở khu vực Đông Nam Á từ 2014-2019……..….34
Bảng 4.1: Bảng thống kê mô tả các biến …………………………………...…….43
Bảng 4.2: Chỉ số Lerner theo quốc gia và theo năm giai đoạn từ 2011 đến 2018 ...45
power of the regulator is associated with greater bank fragility, other factors such as
loan to assets index, GDP growth contrary to expectation and have no statistical
significance.
Key words: Competition, Stability, Lerner Index, Z-score Index, Systems GMM.
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Cạnh tranh là yếu tố không thể thiếu trong tất cả lĩnh vực kinh tế, đời sống
xã hội trong đó ngành ngân hàng không phải là ngoại lệ. Cạnh tranh là yếu tố động
lực thúc đẩy sự phát triển. Tuy nhiên, ngân hàng là lĩnh vực đặc thù, đổ vỡ ngân hàng
mang tính chất hệ thống gây khủng hoảng lan truyền trên diện rộng, đe dọa tính ổn
định của nền kinh tế. Bên cạnh những tác động tích cực, cạnh tranh quá mức, không
lành mạnh đem lại nhiều hệ quả gây bất ổn cho hệ thống ngân hàng. Ảnh hưởng của
cạnh tranh đến ổn định hệ thống ngân hàng là chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiều
học giả và các nhà hoạch định chính sách trong gần ba thập kỷ gần đây. Nhiều học
giả đã kiểm định mối liên hệ này tại nhiều quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới,
tuy nhiên, kết quả thu được lại rất khác nhau.
Đông Nam Á (sau đây gọi tắt là ASEAN) là một trong những khu vực phát
triển mạnh mẽ trên thế giới, dự báo tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình khoảng
5,1%. Tuy nhiên, mức độ thâm nhập của các ngân hàng tại các quốc gia này hiện tại
vẫn là một con số khiêm tốn. Liệu rằng cạnh tranh ở các nền kinh tế khu vực ASEAN
sẽ tác động tới sự ổn định theo chiều hướng nào? Trong điều kiện hệ thống luật pháp
còn manh mún, chưa hoàn thiện, cạnh tranh sẽ góp phần thúc đẩy hay gây suy giảm
sự ổn định hệ thống ngân hàng.
Vì vậy, việc chọn đề tài “Nghiên cứu mối tương quan giữa cạnh tranh và ổn
định của các ngân hàng thương mại tại 10 quốc gia Đông Nam Á giai đoạn 20112018” làm đề tài nghiên cứu luận văn thạc sĩ có tính cấp thiết và mang tính thực tiễn
Blundell and Bond, 1998) để khắc phục vấn đề phương sai thay đổi và nội sinh.
1.7 Cấu trúc bài nghiên cứu
Chương 1: Giới thiệu
Chương 2: Khái niệm cơ sở lý thuyết và các nghiên cứu có liên quan đề tài
Chương 3: Phương pháp nghiên cứu
Chương 4: Phân tích và kết quả nghiên cứu
Chương 5: Kết luận, gợi ý chính sách, hạn chế còn tồn tại và hướng phát triển
đề tài.
3
CHƯƠNG 2: KHÁI NIỆM CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ CÁC NGHIÊN CỨU CÓ
LIÊN QUAN ĐỀ TÀI
2.1 Khái niệm
2.1.1 Khái niệm cạnh tranh
Cạnh tranh theo Karl Marx (1978) định nghĩa là sự ganh đua, sự đấu tranh
gay gắt giữa các nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và
tiêu thụ hàng hoá để thu hút được lợi nhuận siêu ngạch. Theo Từ điển tiếng Việt
“Cạnh tranh được hiểu là cố giành phần hơn, phần thắng về phía mình giữa những
người, những tổ chức hoạt động nhằm vào những lợi ích như nhau”.
Thị trường cạnh tranh là thị trường có nhiều người bán, người mua, mỗi
người không có khả năng làm thay đổi giá của thị trường. Cạnh tranh gắn liền với
kinh tế thị trường. Cạnh tranh tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển, điều tiết
hệ thống thị trường. Các nhà kinh doanh hoạt động trong môi trường cạnh tranh phải
luôn đổi mới không ngừng, sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên, áp dụng tiến bộ
khoa học - kĩ thuật trong sản xuất để tăng năng suất lao động, tìm cách thoả mãn tốt
nhất các nhu cầu của người tiêu dùng, thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Cạnh tranh có
thể biểu hiện bằng các hình thức với những tính chất khác nhau như cạnh tranh có sự
điều tiết của Nhà nước, cạnh tranh tự do, cạnh tranh hoàn hảo, cạnh tranh không hoàn
cung cấp những hàng hoá hay dịch vụ có chất lượng cao hơn hoặc sản xuất có hiệu
suất cao hơn”.
Cạnh tranh là một vấn đề đáng lưu ý khi nghiên cứu phân tích tình hình tài
chính của doanh nghiệp. Mức độ cạnh tranh phụ thuộc khả năng định giá sản phẩm
của doanh nghiệp. Nếu doanh nghiệp có sức mạnh định giá cao, doanh nghiệp có thể
chuyển giá tăng đầu vào qua khách hàng, bảo vệ lợi nhuận. Ngược lại, doanh nghiệp
sẽ chịu áp lực trong thời gian giá đầu vào tăng dẫn đến lợi nhuận sụt giảm. Do đó,
nghiên cứu về cạnh tranh hỗ trợ doanh nghiệp đưa ra các quyết định đầu tư.
2.1.2 Đo lường cạnh tranh
Cạnh tranh là một khái niệm phức tạp nên không thể quan sát trực tiếp. Có 2
cách tiếp cận để lượng hóa cạnh tranh: tiếp cận theo hướng cấu trúc và phi cấu trúc.
5
Tiếp cận theo hướng cấu trúc nghiên cứu mức độ cạnh tranh dựa vào cấu trúc của thị
trường.Tiếp cận theo hướng phi cấu trúc là đánh giá mức độ cạnh tranh trực tiếp bằng
cách quan sát hành vi của các doanh nghiệp trên thị trường.
Dựa vào cấu trúc thị trường, ba biện pháp đo lường độ tập trung hiệu quả
được sử dụng phổ biến là số lượng các doanh nghiệp, chỉ số tập trung và chỉ số
Herfindahl-Hirschman (chỉ số HHI). Bikker and Haaf (2002) đưa ra các biện pháp đo
lường độ tập trung khác như Hall-Tideman Index, Rosenbluth Index, CCI, HannahKay Index, U-Index, Hause Index, Entropy Index...
Đo lường bằng số lượng các doanh nghiệp
Số lượng các doanh nghiệp là chỉ số đơn giản nhất để tính toán độ cạnh tranh
trong chừng mực dữ liệu yêu cầu rất hạn chế. Điểm yếu của chỉ số này đó là không
tính đến độ phân tán các doanh nghiệp. Độ tập trung giữa hai ngành có thể khác nhau
rất nhiều nếu một ngành chỉ bị chi phối bởi một doanh nghiệp còn ngành còn lại bao
gồm nhiều doanh nghiệp với tổng về quy mô như nhau.
Đo lường bằng chỉ số tập trung
Đây là phương pháp đo lường đơn giản, yêu cầu về dữ liệu rất ít. Đo lường
nằm trong khoảng từ 1/n đối với các doanh nghiệp có cùng quy mô đến 1 biểu thị độc
quyền. Theo Cetorelli (1999) ở Mỹ, ngành ngân hàng được xem là cạnh tranh nếu chỉ
số HHI nhỏ hơn 0.1, là thị trường hơi tập trung nếu chỉ số ở trong khoảng từ 0.1 đến
0.18 và thị trường độc quyền nếu chỉ số lớn hơn 0.18.
Chỉ số HHI có ưu điểm dễ tính toán, tuy nhiên, chỉ số không tính được độ phức
tạp của các thị trường khác nhau.
Dựa vào hướng phi cấu trúc thị trường:
Đo lường cạnh tranh bằng chỉ số Lerner
Nhà kinh tế học Abba Lerner (1934) trong tác phẩm “ Khái niệm về độc quyền
và đo lường sức mạnh độc quyền”- bài báo lớn đầu tiên của tác giả về kinh tế học
phúc lợi, đưa ra ý tưởng độc quyền là vấn đề về mức độ, sức mạnh độc quyền phụ
thuộc vào phần chênh lệch của giá so với chi phí cận biên. Chỉ số Lerner luôn nằm
trong khoảng từ 0 đến 1: càng gần giá trị 0 tức là càng gần với cạnh tranh hoàn hảo;
càng gần giá trị 1, sức mạnh thị trường của người bán càng cao nên càng gần với độc
7
quyền. Một nhà độc quyền tìm cách tối đa hóa lợi nhuận sẽ không thuộc phần không
co giãn của đường cầu E
theo cùng một tỷ lệ phần trăm và thống kê H bằng 1.
Chỉ số thống kê H được tính toán như sau: H= ∑𝐿𝑙=1 𝛽1
Thống kê H là tổng độ co giãn của tổng doanh thu lãi của các ngân hàng trên
cơ sở các yếu tố giá đầu vào.
Lượng hóa cạnh tranh bằng chỉ số Boone
Theo giả thuyết hiệu quả của Demsetz (1973), doanh nghiệp hiệu quả hơn đạt
tỷ suất lợi nhuận vượt trội hơn, thu hút thị phần cao hơn. Boone (2008) cho thấy mức
chênh lệch lợi nhuận tương đối có thể lượng hóa mức độ cạnh tranh trong thực tế.
Trong thực tế, các nhà kinh tế thường đánh giá sức mạnh của mối tương quan giữa
hiệu quả và hiệu suất. Theo Boone et al., (2007), cạnh tranh được ước tính từ phương
trình lợi nhuận sau đây:
Ln πi=α+βlnci+εi
Trong đó πi là lợi nhuận, ci đo lường chi phí (đại diện cho hiệu quả), hệ số β là
độ co dãn của lợi nhuận (PE) (% lợi nhuận giảm tương ứng % chi phí tăng). Van
9
Leuvensteijn (2011), Delis (2012); Tabak et al., (2012) ước tính trực tiếp chi phí biên.
Trường hợp dữ liệu không đủ để ước tính trực tiếp, sử dụng biến chi phí trung bình
(Schaeck and Cihak, 2014):
πit= αi+∑𝑻𝒌=𝟏 𝛃𝐤𝟏 dktln(cit)+ ∑𝑻−𝟏
𝒌=𝟏 𝛃𝐤𝟐dkt+uit
Trong đó πit là lợi nhuận của ngân hàng i tại thời điểm t trên tổng tài sản, T là
tổng số năm đang xem xét, dkt là biến giả về thời gian, cit là biến chi phí trung bình.
Chi phí trung bình là tỷ số của chi phí lãi và chi phí phi lãi trên tổng thu nhập lãi và
thu nhập phi lãi.
Bảng 2.1: Tóm tắt ưu nhược điểm các biện pháp đo lường cạnh tranh
Phương pháp
nghệ và thông tin) tác động đến
ngân hàng (khung Không yêu cầu dữ liệu cấp công hoạt động gia nhập và rời bỏ
pháp lý và giám ty
ngành, thường xem xét ở các nền
sát)
kinh tế đang phát triển
Tiếp cận theo hướng phi cấu trúc
Chỉ số Lerner
Không yêu cầu mẫu lớn.
Yêu cầu các biến cấp công ty và
thông tin về giá cả.
10
Chỉ số giải thích đơn giản, dễ
hiểu.
Là chỉ báo linh hoạt.
Mô hình Panzar- Có thể tính toán bằng phương Yêu cầu thông tin về giá cả và sức
pháp đơn giản, phương trình mạnh độc quyền có thể che dấu
Rosse
động phù hợp nhằm giảm thiểu tình trạng mất cân đối tài chính phát sinh trên thị
trường tài chính. Trong lĩnh vực ngân hàng, sự ổn định hướng đến mục tiêu xây dựng
bộ máy ngân hàng an toàn lành mạnh, đảm bảo phân bổ vốn tối ưu nhằm mục đích
ngăn chặn khủng hoảng hệ thống.
Giả thuyết bất ổn về tài chính (Financial instability hypothesis) được nhà kinh
tế học người Nga Hyman Minsky (1919-1996) đưa ra vào đầu những năm 1990 nhưng
không được đón nhận rộng rãi tại thời điểm đó. Ông là một nhà kinh tế học được biết
đến như một người tương đối bi quan trong suốt cuộc đời của mình vì cho rằng thị
11
trường vốn không ổn định, chỉ kéo dài thời gian phát triển một thời gian rồi kết thúc
bằng suy thoái. Trọng tâm của giả thuyết này lý giải tác động của nợ, giải thích
nguyên nhân gây ra suy thoái không phải do tác động của các yếu tố ngoại sinh gây
nên các cú sốc từ bên ngoài. Khi nền kinh tế đạt mức hưng thịnh, nội tại đã hàm chứa
các yếu tố nội sinh bất ổn gây nên tình trạng suy thoái.
Có năm thời kỳ trong chu kỳ của Minsky đó là dịch chuyển, bùng nổ, hưng
phấn, chốt lời và hoảng loạn. Sự dịch chuyển xảy ra khi các nhà đầu tư hào hứng về
sự kiện xảy ra như một phát minh, cuộc chiến tranh hoặc sự thay đổi về chính sách
kinh tế... Chu kỳ bao gồm chuỗi các khoảnh khắc Minsky (Minsky moment) lặp đi
lặp lại: giai đoạn ổn định khuyến khích chấp nhận rủi ro, giai đoạn bất ổn khi rủi ro
trở thành thua lỗ, giai đoạn nhà đầu tư e ngại rủi ro (giảm đòn bẩy tài chính), giai
đoạn khôi phục sự ổn định và lặp lại các chu kỳ tiếp theo. Hiện nay, thuật ngữ
“Minsky moment“ xuất hiện rất nhiều trong các tin tức tài chính về tình trạng hỗn
loạn thị trường tài chính toàn cầu. Thuật ngữ này được đưa ra bởi Paul Mcculley 1998
để mô tả cuộc khủng hoảng tài chính Nga 1998. Trong lúc nền kinh tế tăng trưởng
mạnh, lượng tín dụng bơm ra nhiều, các nhà đầu tư ưa thích rủi ro thường tăng sử
dụng đòn bẩy tài chính, đầu cơ quá mức nhằm đạt được tỷ suất sinh lợi cao. Đòn bẩy
nợ được sử dụng quá mức gây ra nhiều rủi ro. Do thị trường quá hồ hởi nên không
Zavgren (1985) tập trung vào các các doanh nghiệp sản xuất lớn còn Mcgurr (1996)
and Rance (1999) chỉ sử dụng dữ liệu các doanh nghiệp bán lẻ…
Trong bài robust test, sử dụng tỷ lệ nợ xấu (Non-performing loan) là một cách
đo lường sự ổn định phổ biến khác (Jimenez and Saurina, 2006). Tỷ lệ nợ xấu có ý
nghĩa trong việc đánh giá tác động của cạnh tranh đến rủi ro hệ thống. Chỉ số có giá
trị càng cao biểu thị danh mục đầu tư của ngân hàng càng rủi ro.
Tỷ số Z-score dự báo khả năng phá sản của doanh nghiệp hữu ích cho nhiều
đối tượng sử dụng thông tin, đặc biệt là các chủ nợ và nhà đầu tư. Altman Edward
(1968) đưa ra năm tỷ số tài chính có thể được sử dụng để dự đoán nguy cơ phá sản
của doanh nghiệp, được gọi là Z-score. Mô hình của Altman cho phép dự đoán phá
sản của doanh nghiệp 2 năm trước khi xảy ra.
13
Công thức tính Z-score:
Z-score = 0.012X1+ 0.014X2+ 0.033X3+ 0.006X4+ 0.999X5
X1 = Vốn lưu động / tổng tài sản; X2= Lợi nhuận giữ lại/Tổng tài sản; X3= Lợi nhuận
trước lãi vay và thuế/Tổng tài sản; X4= Giá trị thị trường của vốn chủ sở hữu/ Giá trị
sổ sách của tổng nợ phải trả; X5=Doanh thu/Tổng tài sản.
Mô hình của Altman tồn tại một số hạn chế (1) tính chủ quan trong các trọng
số, (2) yếu tố mang tính mơ hồ trong mô hình, (3) cách tiếp cận đơn biến, (4) tỷ lệ sai
lệch (Schaeffer, 2000), (5) tỷ lệ X5 chưa thể hiện sự thay đổi giữa các ngành. Ngoài
ra, mô hình không thể dự đoán chính xác khó khăn về tình hình tài chính của doanh
nghiệp phi sản xuất và doanh nghiệp có hình thức hoạt động không công khai vì giá
trị thị trường của vốn chủ sở hữu dựa trên giá cổ phiếu nên tỷ lệ X4 khó tính toán đối
với doanh nghiệp không công khai.
Grice và Ingram (2001) kiểm chứng lại mô hình Altman Z-score trong dự báo
nguy cơ phá sản của doanh nghiệp. Nghiên cứu này phát hiện độ chính xác mô hình
Altman giảm. Altman sử dụng mẫu giai đoạn 1958-1961, độ chính xác tổng thể là
để chống lại áp lực cạnh tranh, mở rộng thị phần và hỗ trợ củng cố vị thế trên thị
trường của doanh nghiệp.
Michael E. Porter được xem là cha đẻ về lý thuyết chiến lược cạnh tranh, sự
phát triển kinh tế, khả năng cạnh tranh của các khu vực, tiểu bang và quốc gia. Tác
giả phân loại chiến lược cạnh tranh chung bao gồm (1) khác biệt hóa, (2) chi phí thấp,
(3) phân biệt tập trung (4) chi phí tập trung.
(1) Chiến lược khác biệt hóa có liên quan đến khác biệt hóa sản phẩm so với
sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh khác.
(2) Chiến lược chi phí thấp làm công ty trở thành nhà cung cấp có chi phí
thấp trong ngành. Các nguồn lợi thế chi phí rất đa dạng và phụ thuộc vào
cấu trúc ngành. Chiến lược này có thể bao gồm việc theo đuổi nền kinh
15
tế theo quy mô, công nghệ độc quyền, tiếp cận ưu đãi với nguồn nguyên
liệu thô và các yếu tố khác. Doanh nghiệp sản xuất chi phí thấp phải tìm
và khai thác tất cả các nguồn lợi thế từ chi phí. Nếu một công ty có thể
đạt được và duy trì sự dẫn đầu về chi phí tổng thể thì công ty có mức trung
bình cao hơn trong ngành của mình miễn là có thể giữ giá ở mức hoặc
gần mức trung bình của ngành.
Chiến lược tập trung dựa vào việc lựa chọn phạm vi hẹp cạnh tranh trong
ngành, trọng tâm lựa chọn một phân khúc hoặc một nhóm phân khúc và
điều chỉnh chiến lược để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh khác.
(3) Phân biệt tập trung là công ty tìm kiếm sự khác biệt trong phân khúc mục
tiêu.
(4) Chi phí tập trung là công ty tìm kiếm lợi thế chi phí trong phân khúc mục
tiêu của mình.
Cả hai biến thể của chiến lược tập trung đều dựa trên sự khác biệt giữa
phân khúc mục tiêu của người tập trung và các phân khúc khác trong