Mục lục
Trang
Mở đầu 1
Ch ơng 1: Cơ sở lý luận về cạnh tranh lãi suất hoạt động huy động
vốn và cho vay vốn của các ngân hàng thơng mại 3
1.1. Lý luận chung về cạnh tranh trong hoạt động ngân hàng 3
1.2. Lý luận chung về lãi suất trong hoạt động ngân hàng 4
1.3. Sự cần thiết khách quan của cạnh tranh lãi suất huy động vốn và cho vay
vốn trên thị trờng ngân hàng 7
cho vay vốn của các NHTM 8
1.4. Nội dung của cạnh tranh lãi suất trong hoạt động huy động vốn và cho vay vốn
của các NHTM 8
Ch ơng 2 - Thực trạng cạnh tranh lãi suất trong hoạt động huy
động vốn và cho vay vốn của các ngân hàng thơng mại
Việt Nam hiện nay 12
2.1. Chính sách lãi suất của Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam 12
2.2. Ưu thế cạnh tranh của mỗi loại hình ngân hàng thơng mại Việt Nam hiện
nay 14
2.3. Cạnh tranh thông qua lãi suất huy động của các ngân hàng thơng mại Việt
Nam hiện nay 15
2.4. Cạnh tranh thông qua lãi suất cho vay vốn của các ngân hàng thơng mại
Việt Nam hiện nay 18
2.5. ảnh hởng của cạnh tranh lãi suất trong hoạt động huy động vốn và cho vay
vốn của các ngân hàng thơng mại Việt Nam hiện nay 20
ch ơng 3- Giải pháp và kiến nghị nhằm đảmbảo việc cạnh tranh lãi
suất huy động vốn và cho vay vốn của các ngân hàng
thơng mại Việt Nam hiện nay đợc lành mạnh, an toàn
24
3.1. Các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại và hạn chế trong cạnh tranh
lãi suất huy động vốn và cho vay vôns của các ngân hàng thơng mại Việt Nam
hiện nay 24
góp phần vào công tác nghiên cứu khoa học ngân hàng nhằm tăng thêm cơ sở lí
luận về cạnh tranh lãi suất trong hoạt động huy động vốn và cho vay của các ngân
hàng thơng mại. Đồng thời chỉ ra đợc thực tiễn của hoạt động này ra sao? Chỉ ra đ-
ợc mặt tích cực, tồn tại và hạn chế để từ đó đa ra giải pháp nhằm khắc phục tồn tại
và hạn chế cũng nh tăng thêm tính tích cực của hoạt động này. Từ đó, đối với ngân
hàng thơng mại có thể có phơng hớng hoạt động thực tế để điều hành và tạo ra một
môi trờng cạnh tranh về lãi suất huy động vốn và cho vay giữa các Ngân hàng Th-
ơng mại một cách bình đẳng, an toàn và lành mạnh tiến tới tự do hoá lãi suất. Còn
đối với các Ngân hàng Thơng mại có đợc phơng châm hành động, bên cạnh việc
cạnh tranh bằng lãi suất huy động vốn và lãi suất cho vay mà còn chú trọng hơn
nữa đối với công cụ cạnh tranh bằng chất lợng dịch vụ nhằm hiện đại hoá công
nghệ ngân hàng mình nói riêng và hệ thống ngân hàng nói chung,nhằm đạt đợc lợi
nhuận cao nhất.
Tuy nhiên,vấn đề đã đợc sự chú ý nghiên cứu của những nhà quản lý ngân
hàng ở bậc vĩ mô. cũng nh những nhà nghiên cứu khoa học ngân hàng và những
ngời hoạt động, học tập, quan tâm đến lĩnh vực này. Nhng bởi lẽ. nó là một vấn đề
phức tạp và cha có đợc lời giải chu toàn. Do đặc thù kinh tế thị trờng nớc ta cũng
nh trong hệ thống ngân hàng việt nam trong mỗi thời kỳ, giai đoạn có sự biến động
khác nhau.
2
Thiết nghĩ nh vậy, nên em chọn vấn đề này làm đề tài nghiên cứu của mình
cho môn Lý Thuyết Tài Chính Tiền Tệ (môn chuyên ngành của khoa tài chính ngân
hàng). Trên cơ sở những bài báo su tầm đợc, sách chuyên ngành, sách tham khảo,
bài giảng môn lý thuyết tài chính tiền tệ, cộng với vốn kiến thức tích luỹ: học tập,
thực tế của bản thân thông qua các phơng pháp nghiên cứu: phơng pháp duy vật
biện chứng, phơng pháp duy vật lịch sử, phơng pháp tiếp cận hệ thống, phơng pháp
lịch sử-lôgíc, phơng pháp kinh tế học, phơng pháp thực chứng, phơng pháp chuẩn
tắc, phơng pháp phân tích cung cầu, phơng pháp phân tích cạnh tranh giá và phơng
pháp tổng hợp. Nhằm góp một phần sức nho nhỏ của mình vào vấn đề lớn hiện nay
của ngành ngân hàng việt nam.
1.1.1 Khái niệm về cạnh tranh.
Cạnh tranh có thể định nghĩa nh là khả năng của một công ty nhằm đáp ứng
và chống lại các đối thủ cạnh tranh trong cung cấp sản phẩm một cách lâu dài và
có lợi nhuận. Do vây có thể nói, cạnh tranh là một khái niệm năng động, trong đó
bao gồm các yếu tố ngắn hạn và dài hạn. Qua nghiên cứu của nhiều khoa học gia
trên thế giới thì một công ty có thể cạnh tranh thành công khi có đợc những lợi thế
cụ thể nào đó hơn các nhà cung cấp khác. Tuy nhiên, lợi thế của công ty có thể bị
lu mờ dần theo thời gian và khi không có sự quản trị các nguồn lực để duy trì lợi
thế trong điều kiện thị trờng thay đổi thì sớm hay muộn, công ty sẽ bị mất lợi thế
cạnh tranh của mình.
1.1.2 Nội dung cạnh tranh trong lĩnh vực ngân hàng.
Trong kinh doanh lĩnh vực tài chính, các ngân hàng và các định chế tài chính
phi ngân hàng cạnh tranh lẫn nhau trong việc cung cấp dịch vụ tài chính dựa vào
các u thế của mình trong các phơng diện sau.
Một là: giá cả của các sản phẩm, dịch vụ tài chính.
Mật độ phục vụ về mặt địa lí (số chi nhánh,phòng giao dịch vv ).
Sự đa dạng về sản phẩm, dịch vụ tài chính cung cấp.
Chất lợng sản phẩm và dịch vụ ngân hàng (tốc độ xử lí và tính chính xác của
việc xử lí).
4
Hai là: sự tin cậy
Lòng tin của công chúng vào ngành ngân hàng nói chung và một ngân hàng
nói riêng, phụ thuộc vào các yếu tố nh: vốn tự có, sự ổn định của thu nhập, chất l-
ợng thông tin do ngân hàng cung cấp và công khai .
1.1.3 Các yếu tố của cạnh tranh
cạnh tranh đợc xác định bởi 3 yếu tố liên hệ với nhau : (1*) Thực hiện cạnh
tranh;(2*)Tiềm lực cạnh tranh ;(3*)Quản trị quá trình cạnh tranh. Ba yếu tố này mô
tả những bớc khác nhau trong quá trình cạnh tranh.
(1)Sự thực hiện có thể chứng minh đợc.
(2)Năng lực hoàn thiện việc thực hiện.
Thực
hiện
Tiềm
lực
Quá trình
Lãi suất tín dụng áp dụng trong quan hệ giữa ngân hàng với công chúng và
doanh nghiệp trong việc thu hút tiền gửi và cho vay,trong hoạt động tái cấp vốn
của ngân hàng trung ơng cho các ngân hàng thơng mại và trong quan hệ giữa các
ngân hàng thơng mại với nhau trên thị trờng liên ngân hàng. Việc phân biệt khái
niệm lãi suất trong quan hệ này là cần thiết để hiểu rõ mối quan hệ giữa chúng.
Thứ nhất là : lãi suất tiền gửi là lãi suất trả cho các khoản tiền gửi. Nó đợc áp
dụng để tính tiền lãi phải trả cho ngời gửi tiền. Lãi suất tiền gửi có nhiều mức khác
nhau tuỳ thuộc vào thời hạn gửi, vào qui mô tiền gửi.
Thứ nhì là: lãi suất tiền vay là lãi suất mà ngời đi vay phải trả cho ngân hàng
do việc sử dụng vốn vay của ngân hàng. Nó đợc áp dụng để tính lãi tiền vay mà
khách hàng phải trả ngân hàng. Về mặt nguyên tắc mức lãi suất tiền vay bình quân
phải cao hơn mức lãi suất tiền gửi bình quân và có sự phân biệt giữa các khoản vay
với thời hạn khác nhau cũng nh mức rủi ro khác nhau.
Thứ ba là: lãi suất chiết khấu áp dụng khi ngân hàng cho khách hàng vay dới
hình thức chiết khấu thơng phiếu hoặc giấy tờ có giá khác cha đến hạn thanh toán
của khách hàng.
Thứ t là: Lãi suất tái chiết khấu áp dụng khi ngân hàng trung ơng tái cấp vốn
cho các ngân hàng thơng mại dới hình thức chiết khấu lại thơng phiếu hoặc giấy tờ
có giá ngắn hạn cha đến hạn trả của các ngân hàng.
Thứ năm là: lãi suát liên ngân hàng, là lãi suất đợc các ngân hàng áp dụng khi
cho nhau vay trên thị trờng liên ngân hàng.
Thứ sáu là: lãi suất cơ bản, là lãi suất đợc các ngân hàng sử dụng làm cơ sở để
ấn định mức lãi suất kinh doanh của mình.
Trên cơ sở phân loại nh vậy và trong giới hạn phạm vi bài nghiên cứu này em
chỉ đi nghiên cứu sâu về lãi suất huy động vốn và cho vay vốn của các ngân hàng
1.3 Sự cần thiết khách quan của cạnh tranh lãi suất huy động vốn và
cho vay vốn trên thị trờng ngân hàng.
Cạnh tranh là quy luật phổ biến của nền kinh tế thị ttrờng.Nhng cạnh tranh
không phải là huỷ diệt mà là sự thay thế, thay thế ngời thiếu khả năng bằng ngời có
đầu óc , thay thế doanh nghiệp sử dụng lãng ohí các nguồn lực xã hội bằng các
doanh nghiệp có hiệu quả hơn; thay sự đáp ứng nhu cầu xã hội không đầy đủ bằng
sự đáp ứng ngày một tốt hơn. Chính vì vậy, cạnh tranh thị trờng là một động lực
phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, cũng nh của từng doanh nghiệp.
1.3.1 Do yêu cầu của nền kinh tế thị trờng việt nam hiện nay đặt ra.
Trong điều kiện hiện nay, khi khu vực hoá toàn cầu đang trở thành xu hớng
phổ biến thì quá trình hợp tác phối hợp theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi giữa
các quốc gia luôn kèm theo quá trình cạnh tranh gay gắt khốc kiệt. Trong môi trờng
kinh tế thế giới nh vậy, yêu cầu khách quan và cấp bách đối với Việt nam là nâng
cao tính cạnh tranh của nên kinh tế để hội nhập ngày càng sâu, rộng và có hiệu quả
hơn. Trong đó ngành ngân hàng đóng một vai trò quan trọng trong sự nghiệp phát
thiển của đất nớc, trong sự tơng quan với các nớc trong khu vực và trên thế giới.
Trong điều kiện kinh tế thị trờng, cùng với quá trình hợp tác liên kết kinh tế
theo nguyên tắc hai bên cùng có lợi, giữa các doanh nghiệp hoạt động trong cùng
một lĩnh vực luôn xảy ra quá trình ngày càng gay gắt và quyết liệt. Tuy là loại hình
doanh nghiệp có một số nét đặc thù, các ngân hàng cũng không nằm ngoài quy luật
này.
1.3.2 Do thực trạng hoạt động ngân hàng nớc ta đặt ra.
Trong lĩnh vực hoạt động ngân hàng nhiều năm ngày nay, các doanh nghiệp,
đông đảo khách hàng đợc chủ động lựa chọn ngân hàng thơng mại (NHTM) để
quan hệ gửi tiền, vay vốn, mở L/C, thanh toán v.v. Một doanh nghiệp cùng một lúc
quan hệ với nhiều ngân hàng thơng mại khác nhau. Ngợc lại một ngân hàng thơng
mại cũng chủ động đến với khách hàng, mời chào các doanh nghiệp và đa ra nhiều
hình thức hoạt động kinh doanh của các NHTM khá bình đẳng. Không thấy có sự
cạnh tranh trực tiếp nh các hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp thuộc các
ngành kinh tế khác. Nhng trong thực tế, hoạt động kinh doanh ngân hàng lại trong
ngân hàng thơng mại.
Sự cạnh tranh trong hoạt động kinh doanh của các NHTM đợc chi phối bởi
các đặc điểm hoạt động kinh doanh của nó. Chúng ta biết rằng: nguyên liệu cho
hoạt động kinh doanh của ngân hàng là tiền. Đó là loại nguyên liệu có tính xã hội
hoá và tính nhậy cảm rất cao, chỉ một biến động nhỏ của nó cũng có ảnh hởng to
lớn đến xã hội nói chung và hoạt động kinh doanh của các ngân hàng nói riêng. Từ
đặc điểm này dẫn đến sự cạnh tranh trong kinh doanh giữa các ngân hàng trở nên
quyết liệt hơn.
Trong hạt động của ngân hàng thơng mại, chỉ có sự thay đổi một chút về lãi
suất là khách hàng có thể lập tức thay đổi quan hệ giữa ngân hàng này chuyển qua
quan hệ với ngân hàng khác. Thêm vào đó, là tính nhạy cảm của nguyên liệu tính
dễ bị bắt chớc của sản phẩm ngân hàng đã thúc đẩy mạnh mẽ hơn sự cạnh tranh
của hoạt động ngân hàng.
8
Bên cạnh những đặc điểm đó, tính cạnh tranh quyết liệt còn bị chi phối bởi
khách hàng của ngân hàng thơng mại không phải là khách hàng luôn luôn trung
thành mà rất dễ bị lôi kéo và thay đổi quan hệ giao dịch. Nh vậy sự cạnh tranh của
nó càng đợc nhân lên.
Nếu các đặc điểm trên tạo nên tính cạnh tranh cao của kinh doanh ngân hàng
có thể đợc coi là các yếu tố bên ngoài, thì đặc điểm về môi trờng kinh doanh và
công nghệ ngân hàng có thể đợc coi là những đặc điểm mang tính nội tại làm tăng
thêm mức độ cạnh tranh của ngân hàng.
1.4 .2. Cạnh tranh thông qua lãi suất huy động vốn của các Ngân hàng
Thơng mại.
Nguồn vốn là nguyên liệu đầu vào là hoạt động thờng xuyên liên tục của hệ
thống ngân hàng thơng mại. Các ngân hàng chỉ có thể đạt đợc mục tiêu tăng trởng
tín dụng nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh một khi ngân hàng thực hiện tốt
chức năng, nhiệm vụ huy động vốn của mình, tức NHTM là ngời chiến thắng
trong cạnh tranh huy động vốn nói chung và thông qua lãi suất nói riêng. Do vậy
các NHTM cần phải:
động vốn, mục tiêu lợi nhuận.
Năm là: Trong cạnh tranh lãi suất huy động vốn của ngân hàng thơng mại cần
xây dựng những nguyên tắc phải đảm bảo khi nâng cao lãi suất huy động.
Đó là các ngân hàng thơng mại phải kinh doanh có lãi; Phải đảm bảo quá trình
sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhất là doanh nghiệp nhà nớc thuận lợi
và có điều kiện phát triển; quá trình này phải diễn ra một cách tự nhiên nhờ bàn tay
vô hình của cơ chế thị trờng và phải hợp pháp.
1.4.3 Cạnh tranh thông qua lãi suất cho vay vốn của các ngân hàng thơng mại.
Nguồn vốn cũng là sản phẩm đầu ra, là hoạt động thờng xuyên liên tục của
hệ thống ngân hàng thơng mại. Các ngân hàng chỉ có thể đạt đợc mục tiêu tăng tr-
ởng tín dụng , nâng cao hiệu quả hoạt đông kinh doanh của mình một khi thực hiện
tốt chức năng này, nhiệm vụ cho vay vốn của mình.ở đây ngân hàng hàng thơng
mại cũng phải là ngời chiến thắng trong cạnh tranh cho vay vốn nói chung và
thông qua lãi suất nói riêng. Sau đây là một số biện pháp giúp ngân hàng thành
công trong hoạt động cho vay vốn.
Thứ nhất là: Để hạ thấp lãi cho vay, một trong những biện pháp thông thờng là
chuyển hoá nguồn ngoại tệ (lãi suất thấp) thành đồng Việt Nam để cho vay, nh vậy
cơ cấu lãi suất đầu vào sẽ giảm trong khi lãi suất đầu ra cao hơn, ngân hàng có thể
tiết giảm một phần lãi suất cho vay mà không ảnh hởng nhiều đến doanh lợi.
Thứ nhì là: Cho vay bằng ngoại tệ thực chất là hình thức hạ thấp lãi suất cho
vay (giảm chi phí của khách hàng). Tuy nhiên đã xảy ra tình trạng một số ngân
hàng lạm dụng hình thức này để lôi kéo khách hàng. Bằng cách cho các doanh
nghiệp này vay vốn bằng ngoại tệ không đúng với quy định của nhà nớc để mời
chào khách hàng. Biện pháp này đã đợc sử dụng ở nhiều ngân hàng có nguồn ngoại
tệ dồi dào, nhất là khi mở rộng mạng lới.
Thứ ba là: Huy động nguồn vốn tài trợ, uỷ thác, vay vốn từ các tổ chức tài
chính, tín dụng nớc ngoài để giảm lãi suất đầu vào cũng là một biện pháp cạnh
tranh tốt, tuy nhiên u thế này thuộc về một số ngân hàng hàng có quan hệ quốc tế
rộng rãi nh ngân hàng ngoại thơng, Bkimbank, và không phải ngân hàng nào
cũng nhận đợc nguồn vốn này.
Quá trình đổi mới cả tổ chức và cơ chế chính sách hoạt động ngân hàng sang
cơ chế thị trờng cũng là quá trình đổi mới việc điều hành chính sách lãi suất. Chính
sách lãi suất của Nhà nớc ta trong những năm qua đã đổi mới rất mạnh mẽ nhng
cũng rất thận trọng, đi dần từng bớc phù hợp với từng giai đoạn trên con đờng tiến
đến một chính sách lãi suất thị trờng theo hớng tự do hoá lãi suất. Diễn biến cơ bản
của chính sách lãi suất trong thời gian qua có thể chia thành các giai đoạn nh sau:
2.1.1. Giai đoạn trớc 1992. (chính sách lãi suất âm đợc duy trì)
Chính sách lãi suất âm đợc duy trì trong suốt thời kỳ bao cấp và trong điều
kiện mức lạm phát cao; mức lãi suất cho vay nhỏ hơn lãi suất tiền gửi, lãi suất danh
nghĩa nhỏ hơn tỷ lệ lạm phát. Tình trạng này làm cho lãi suất không thể thực hiện
đợc những chức năng vốn có của nó, lãi suất không còn là đòn bẩy kích thích nhu
cầu tiền gửi của công chúng, phát huy tính hiệu quả trong quá trình sử dụng vốn và
đảm bảo lợi nhuận cho ngân hàng.
2.1.2. Giai đoạn từ cuối 1992 đến 1995 (lãi suất thực dơng bắt đầu duy trì).
Lãi suất dơng bắt đầu duy trì từ cuối 1992 và biến động phù hợp với tỷ lệ lạm
phát . Bắt đầu từ 10/1996 lãi suất đợc khống chế bởi các mức lãi suất cho vay cao
nhất (1,8%/tháng đối với doanh nghiệp nhà nớc và 2,1%/tháng cho kinh tế ngoài
quốc doanh) và lãi suất thoả thuận (áp dụng trong trờng hợp huy động vốn bằng
phát hành kỳ phiếu - lãi suất huy động có thể cao hơn lãi suất tiết kiệm cùng kỳ hạn
0,2%/tháng và cho vay cao hơn mức trần 2,1%/tháng).
12
Thời kỳ này, lãi suất đã bắt đầu đợc sử dụng nh một công cụ của chính sách tiền
tệ, cùng với lãi suất tái cấp đợc hình thành vào đầu năm 1991 khi hai pháp lệnh ngân
hàng có hiệu lực. Tuy nhiên hiệu quả của công cụ này còn nhiều hạn chế.
2.1.3. Giai đoạn từ 1/1/1996 đến 1/8/2000 (Cơ chế điều hành theo trần lãi
suất đợc duy trì ).
Ngân hàng Nhà nớc tiếp tục ấn định mức lãi suất tái cấp vốn, khống chế trần
lãi suất cho vay cao nhất và bắt đầu áp dụng chênh lệch lãi suất tiền gửi - tiền vay
0,35% (cho đến 21/1/1998). Trần lãi suất thay đổi liên tục theo hớng giảm cơ cấu
trần và mức khống chế đặc biệt trong năm 1998, 1999. Mức lãi suất tái cấp vốn
ngắn hạn là 1%/năm, biên độ cho vay trung và dài hạn là 2,5%/năm).
Đối với ngoại tệ khác do chiếm tỷ trọng nhỏ trong hoạt động tiền gửi và tín
dụng nên cho phép các Tổ chức Tín dụng tự xem xét quyết định lãi suất cho vay
13
của các loại ngoại tệ này trên cơ sở lãi suất thị trờng quốc tế và cung cầu vốn tín
dụng của từng loại ngoại tệ ở Việt Nam.
Với nội dung điều hành lãi suất cơ bản nh trên cho thấy lãi suất cơ bản đợc
xác định trên cơ sở lãi suất thị trờng với mức độ rủi ro thấp, đảm bảo sự kiểm soát
lãi suất của Ngân hàng Nhà nớc, phù hợp với luật pháp và thực tiễn Việt Nam. Đây
là một bớc tiến mới, bớc đi tiếp theo trong tiến trình tự do hoá lãi suất.
Diễn biến lãi suất của ngân hàng đối với nền kinh tế minh hoạ ở bảng phụ
lục (phía cuối).
2.2. Ưu thế cạnh tranh của mỗi loại hình Ngân hàng Thơng mại Việt Nam
hiện nay.
ở Việt Nam, hiện nay có các loại hình Ngân hàng Thơng mại sau: Ngân hàng
thơng mại quốc doanh, Ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nớc ngoài,
các Ngân hàng thơng mại cổ phần chúng cùng tồn tại trong một môi trờng cạnh
tranh chung. Với đặc thù riêng của mỗi loại hình cho nên đã tạo nên lợi thế cạnh
tranh đặc trng.
2.2.1. Ngân hàng thơng mại quốc doanh: Nguồn tiền gửi thanh toán lớn và
ổn định từ các tổng công ty 90, 91 và các doanh nghiệp Nhà nớc; có mạng lới chi
nhánh dày và rộng để thu hút các nguồn tiền gửi dân c. Chấp nhận hạ lãi suất cho
vay để giữ các khách hàng truyền thống và thu hút thanh toán hàng xuất khẩu qua
ngân hàng.
2.2.2. Ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nớc ngoài: Có sự hỗ
trợ mạnh mẽ của các ngân hàng mẹ ở chính quốc, có các thế mạnh về dịch vụ ngân
hàng quốc tế, về thanh toán quốc tế. Tranh thủ đợc nguồn vốn vay ngắn hạn với chi
phí thấp trên thị trờng liên ngân hàng để cho vay. Hạ lãi suất mạnh, có thể phân lợi
nhuận rất thấp hoặc bằng không nhằm xâm nhập các doanh nghiệp lớn trong nớc và
có thêm nguồn ngoại tệ khi cho vay phục vụ xuất khẩu.
những tháng qua kể từ đầu tháng 8/2000, khi NHNN bắt đầu chuyển sang cơ chế
điều hành lãi suất cơ bản, thì các mức lãi suất do NHNN công bố hàng tháng vẫn
giữ nguyên, đó là lãi suất cơ bản: 0,75%/tháng. Các ngân hàng thơng mại tăng c-
ờng huy động vốn chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu tín dụng tăng lên, trong khi việc
huy động vốn nội tệ gặp nhiều khó khăn, còn tiền gửi ngoại tệ USD thì tăng khá.
2.3.2. Nguyên nhân gây tăng lãi suất huy động vốn của các Ngân hàng th-
ơng mại Việt Nam hiện nay.
Lãi suất huy động vốn của các ngân hàng thơng mại hiện nay tăng lên là do
cạnh tranh thông qua lãi suất huy động vốn trở nên gay gắt . Những lí giải cho sự
gay gắt đó lại chính là nhằm tăng vốn để đáp ứng cho nhu cầu tín dụng hiện nay.
Điều đó đợc thể hiện qua các nguyên nhân chủ yếu sau đây:
Một là: Thực hiện chủ trơng kích cầu, trong 2 tháng 8 và 9/2000, Ngân hàng
Nhà nớc tập trung tháo gỡ một loạt vớng mắc về cơ chế, chính sách ban hành các
quy định mới về: thể lệ tín dụng, bảo đảm tiền vay thế chấp, bảo lãnh ngoại hối, tạo
điều kiện cho các NHTM đáp ứng tối đa nhu cầu vay vốn hợp lý của các thành
phần kinh tế.
Hai là: Vùng đồng bằng sông Cửu long vốn là thị trờng tín dụng lớn của cả n-
ớc. Nay lũ lụt đã rút yêu cầu giống, vốn, phân bón v.v. cho sản xuất và tới gia
tăng. Ước tính riêng nhu cầu vốn của vùng này sẽ tăng lên thêm 4000-5000 tỷ
đồng.
Ba là: Tính quy luật hàng năm, nhu cầu vốn tín dụng của nền kinh tế trong các
tháng cuối năm 2000 tăng lên, bởi yêu cầu của sản xuất kinh doanh, của nhập khẩu
của dự trữ hàng hoá cho tiêu thụ trong dịp tế dơnglịch và tết âm lịch. Đặc biệt là thị
trờng các mặt hàng vật liệu xây dựng tăng lên rất lớn. Thị trờng bất động sản ở khu
vực Hà Nội cũng nóng dần lên. Hàng loạt dự án, công trình đầu t phải gấp rút hoàn
thành vào cuối năm, thu hút một lợng vốn vay khá lớn.
Bốn là: Chính phủ quyết định cho tạm trữ 60.000 tấn cà phê nhân, ngân sách
cấp bù phần lãi suất vay ngân hàng, tơng ứng với nó là 600 tỷ đồng vốn vay của các
15
ngân hàng phải dành cho nhu cầu này, đồng thời lại phải cho vay tiếp cho yêu cầu
0,65% đến 1,0%/tháng thì có thể là thấp. Song các NHTM còn phải cân đối và hoà
chung với nguồn vốn của các loại kỳ hạn tiền gửi khác nhau, nh: Không kỳ hạn , kỳ
hạn, 1 tháng, 2 tháng. Với lãi suất từ 0,15 đến 0,42%/tháng thì bình quân lãi suất
đầu vào sẽ thấp đi.
Đồng thời còn thúc ép các NHTM, tiết kiệm hơn nữa các chi phí hoạt động
tinh giảm số lợng cán bộ và nhân viên, mở rộng dịch vụ ngân hàng để thu phí, linh
hoạt sử dụng có hiệu quả nguồn vốn khả dụng, nâng cao trình độ công nghệ. Do đó
nếu NHTM nào yếu kém, không vơn lên đợc, bị thua lỗ kéo dài sẽ bị đào thải là tất
yếu. Cuộc cạnh tranh có lợi cho ngời gửi tiền, có lợi cho cả ngời vay vốn, tác động
mạnh mẽ tới việc củng cố và sắp xếp lại hệ thống ngân hàng Việt Nam. Nhìn chung
16
tình hình nói trên chỉ làm tăng tốc độ chu chuyển vốn trong nền kinh tế, thúc đẩy
phát triển sản xuất kinh doanh trong xã hội.
2.4. Cạnh tranh thông qua lãi suất cho vay vốn của các Ngân hàng Thơng
mại Việt Nam hiện nay.( NHNN điều hành theo lãi suất cơ bản từ 2/8/2000 ).
Mặc dù nhu cầu vốn khẩn trơng, sức ép tăng lãi suất rất lớn, nhng dự đoán
Ngân hàng Nhà nớc sẽ không tăng mức lãi suất cơ bản, không tăng lãi suất tái cấp
vốn và lãi suất tái chiết khấu; Do đó lãi suất cho vay của các NHTM trong các
tháng cuối năm sẽ không tăng lên, tất nhiên là có điều chỉnh chút ít, nhng chỉ xoay
quanh mức lãi suất cơ bản.
2.4.1. Chiến thuật cạnh tranh khá linh hoạt trong hoạt động cho vay vốn
của các Ngân hàng thơng mại Việt Nam hiện nay.
Hiện nay, ở khu vực thành thị, các ngân hàng, thờng chào lãi suất cho vay ở
mức 0,7%/tháng. Nhng với các khách hàng có số lợng vay lớn thì đợc hởng
0,6%/tháng. Cuộc cạnh tranh lãi suất chỉ diễn ra mạnh ở những thị trờng có độ
nhạy cảm lãi suất cao, mật độ các doanh nghiệp hoạt động lớn. Riêng các ngân
hàng nớc ngoài có chiến thuật cạnh tranh độc đáo hơn. Do bị giới hạn ở trạng thái
VND và khả năng huy động vốn bằng VND từ khu vực dân c của các ngân hàng
này gặp khó khăn nên họ thờng cho vay chớp nhoáng trên thị trờng liên ngân
hàng. Chiến lợc này nhằm xâm nhập vào thị trờng các doanh nghiệp trong nớc mà
đậy nguy cơ thua lỗ của mình. Thị trờng tín dụng có thể bị lũng loạn, mối quan hệ
giữa ngân hàng với khách hàng bị phá vỡ. Có thể nói đây là chiến lợc phá giá của
các ngân hàng nớc ngoài nhằm mục đích xâm nhập vào thị phần các doanh nghiệp
Nhà nớc, doanh nghiệp t nhân mà trớc đây họ đã bỏ ngỏ.
2.4.3. Đánh giá chung về cạnh tranh thông qua lãi suất cho vay vốn của
các Ngân hàng Thơng mại Việt Nam hiện nay.
Nh chúng ta đã biết, từ ngày 5 tháng 8/2000. Ngân hàng Nhà nớc chuyển sang
điều hành theo lãi suất cơ bản, với mức quy định là 0,75% đối với nội tệ, và các
NHTM đợc phép cho vay với biên độ dao động từ 0,3% - 0,5%/tháng xoay quanh
mức lãi suất cơ bản đó. Trong những tháng qua, tuỳ theo đối tợng khách hàng, kỳ
hạn vay mà các NHTM cho vay với lãi suất cụ thể khác nhau. Đối với Doanh
nghiệp Nhà nớc và khách hàng có uy tín, lãi suất cho vay chỉ là 0,75%/tháng và
thấp hơn, các đối tợng khách hàng khác lãi suất cho vay cũng chỉ xoay quanh mức
0,75-1,0% /tháng.
Việc tăng lãi suất huy động không gây nên sức ép làm tăng lãi suất cho vay
bởi vì tuy nó có làm thu hẹp khoảng cách chênh lệch giữa lãi suất cho vay và lãi
suất đầu vào làm cho thu nhập thấp hơn, nhng trong thời buổi cạnh tranh hiện nay,
giữa đông đảo các NHTM, kể cả ngân hàng nớc ngoài, thì các NHTM đành phải
chấp nhận sự thu hẹp đó. Bên cạnh đó, chỉ số giá cả tiêu dùng trên thị trờng xã hội
trong cả nớc vẫn ở mức thấp. Do đó không có cơ sở để tăng lãi suất cơ bản, tăng lãi
suất cho vay trong thời gian tới. Những diễn biến về lãi suất và tiền tệ nói trên cũng
cho thấy nền kinh tế nớc ta đang có những xu hớng chuyển động tích cực.
2.5. ảnh hởng của cạnh lãi suất trong hoạt động huy động vốn và cho vay
vốn của các Ngân hàng Thơng mại Việt Nam hiện nay.
Trong điều kiện thị trờng tiền tệ còn đơn sơ, ở nớc ta rõ ràng là không thể
tránh khỏi cạnh tranh về lãi suất. Các NHTM cạnh tranh với nhau thông qua lãi
suất huy động vốn và cho vay vốn. Hoạt động này bên cạnh những mặt tích cực
cũng còn có những mặt tồn tại và hạn chế. Vậy nội dung cụ thể của nó là:
2.5.1. Mặt tích cực (ảnh hởng tích cực).
Một là: Do các NHTM cạnh tranh về lãi suất, nên lãi suất cho vay giảm thấp, chi
tiêu cực về kinh tế. Một số doanh nghiệp sẵn sàng chi các khoản phí ngoại giao để
vay đợc vốn với lãi suất thấp.
Thứ t là: Trong hoạt động ngân hàng rất rõ ràng là cạnh tranh về lãi suất
không thể đợc xem là dạng, cạnh tranh lành mạnh vì nó tạo cho các doanh nghiệp
tính trông chờ ỷ lại vào lãi suất thấp làm giảm hiệu qủa sử dụng vốn.
Thứ năm là: Việc cạnh tranh hạ lãi suất giành giật khách hàng đa đến một sự
vội vã trong kiểm tra các điều kiện vay vốn, thậm chí bỏ qua cả các yếu tố pháp
nhân của doanh nghiệp, (nh cho các chi nhánh, các công ty phụ thuộc, vay khi cha
có sự đồng ý của công ty mẹ v.v.). Việc cạnh tranh hạ lãi suất đa đến tình trạng
khách hàng chạy vòng quanh các ngân hàng: vay ngân hàng này để trả nợ ngân
hàng khác làm mất tính ổn định, đa đến ngân hàng không đủ thời gian và điều kiện
để kiểm soát khách hàng, bởi lẽ khách hàng chỉ dừng lại ở một ngân hàng với thời
gian khá ngắn.
Thứ sáu là: Việc cạnh tranh còn đa đến tình trạng cho vay không còn quan
tâm đến tính thời vụ , tính chu kỳ sản xuất của doanh nghiệp, nh cho vay thu mua
hàng xuất khẩu, đã có lúc, có nơi cho vay 06 tháng. Nh thế đã phó mặc cho doanh
nghiệp sử dụng tiền vay không gắn liền vào hợp đồng sản xuất kinh doanh, tính rủi
ro còn nghiêm trọng hơn khi mà ngân hàng cho vay không có trụ sở cùng địa bàn
hành chính với doanh nghiệp đi vay.
19
Thứ bảy là: Về tơng quan hiện nay giữa các NHTM, với sức mạnh về nguồn
vốn, về kinh nghiệm, công nghệ v.v. Các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài có đầy đủ
lợi thế trong việc cạnh tranh với các NHTM trong nớc. Bên cạnh đó, chúng ta
không thể không tính đến khả năng các chi nhánh ngân hàng nớc ngoài và các đối
tác nớc ngoài trong các ngân hàng liên doanh dựa vào tiềm lực tài chính hơn hẳn
của họ để sẵn sàng ganh đua ở mức chấp nhận thua lỗ nhằm chiếm lĩnh thị trờng, h-
ớng tới tơng lai.
Nếu tình hình cạnh tranh về lãi suất tín dụng tiếp tục bị cuốn hút, thì có nguy
cơ gây mất ổn định của hệ thống ngân hàng thơng mại. Điều đó sẽ vô cùng nguy
hiểm cho sự ổn định và phát triển kinh tế nớc ta.
Chơng 3
Giải pháp và kiến nghị nhằm đảm bảo việc cạnh tranh lãi
suất huy động vốn và cho vay vốn của các ngân hàng
thơng mại việt nam hiện nay đợc lành mạnh, an toàn.
Hiện nay, các Ngân hàng thơng mại đang cuốn hút vào cuộc chạy đua bằng
cách tăng lãi suất huy đông vốn và giảm bớt lãi suất cho vay vốn để tranh giành
khách hàng một cách gay gắt. Mà lãi suất là một yếu tố rất nhạy cảm, có tác động
rất nhanh chóng, đợc các ngân hàng thơng mại quan tâm theo dõi rất chặt chẽ. Nếu
tình hình cạnh tranh này tiếp tục bị cuốn hút, thì có nguy cơ gây mất ổn định của
hệ thống ngân hàng thơng mại. Điều đó sẽ vô cùng nguy hiểm cho sự ổn định và
phát triển kinh tế của nớc ta.
Do vậy, đòi hỏi phải có các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại và hạn
chế trong cạnh tranh lãi suất huy động vốn và cho vay vốn giữa các ngân hàng th-
ơng mại. Đồng thời đa ra một số kiến nghị nhằm đảm bảo việc cạnh tranh lành
mạnh và an toàn.
3.1 Các giải pháp nhằm khắc phục những tồn tại và hạn chế trong cạnh
tranh lãi suất huy động vốn và cho vay vốn của các ngân hàng thơng mại Việt
Nam hiện nay.
3.1.1. Ngân hàng nhà nớc cần ban hành lãi suất sàn khi cho vay.
Đây là vấn đề đã đợc nhiều chuyên gia ngân hàng thảo luận và tình hình thực
tế cũng cho thấy cần thiết phải ban hành lãi suât sàn để đảm bảo thực thi công cụ
lãi suất, đem lại môi trờng kinh doanh lành mạnh hơn cho cả ngân hàng và doanh
nghiệp.
3.1.2 Đẩy mạnh kích cầu qua tín dụng ngân hàng,làm đòn bẩy chgo tăng
trởng kinh tế trong kinh doanh nói chung; từ đó mở rộng đầu t cho tín dụng ngân
hàng, khơi thông dòng chảy tiền tệ trong nền kinh tế.
3.1.3 Đối với các ngân hàng trong nớc cần mở rộng cạnh tranh mang tính
chủ động.
Trớc hết là: Khi mức lãi suất cho vay giữa các ngân hàng đã ngang bằng nhau, thì
vấn đề cạnh tranh chủ yếu sẽ là chất lợng và công nghệ. Do đó các NHTM cần phải chủ
quy định nhằm hỗ trợ cho việc tăng trởng tín dụng.
Đứng trớc thực trạng cạnh tranh bằng lãi suất huy động vốn và cho vay vốn
nêu ở chơng 2, có những hạn chế tồn tại bên cạnh nhng tác dụng có lợi nh kích
thích tăng cầu tín dụng, tạo động lực thúc đẩy đổi mới v.v. và do đó, cần có những
giải pháp để khắc phục những mặt tồn tại. Tuy nhiên áp dụng linh hoạt những giải
pháp nào và khi nào, nơi nào cụ thể thì phải tuỳ theo đặc điểm, tính chất hoạt động
của từng NHTM. Bên cạnh đó, tất nhiên có những biện pháp khả thi mà bài viết
này cha nêu đợc, mong rằng sẽ nhận đợc sự quan tâm xêm xét.
Nghiên cứu cạnh tranh của các NHTM nhằm phát huy khả năng chủ động
cung ứng vốn của ngành Ngân hàng đồng thời đảm bảo lành mạnh hoá phát triển
công nghệ ngân hàng. Bài nghiên cứu này xin đợc đa ra một số kiến nghị nhằm
đảm bảo việc cạnh tranh đó đợc lành mạnh và an toàn.
3.2 Một số kiến nghị nhằm đảm bảo việc cạnh tranh nói chung và cạnh
tranh lãi suất nói riêng giữa các ngân hàng thơng mại ở việt nam hiện nay đợc
lành mạnh và an toàn
3.2.1 Về mặt quản lí vĩ mô của chính phủ và Ngân hàng Trung ơng
Thứ nhất là: Trong phạm vi luật các tổ chức tín dụng cho phép Chính phủ nên
chú ý đến thực lực cạnh tranh của các Ngân hàng thơng mại trong nớc để điều
chỉnh dần nội dung, phạm vi hoạt động của các tổ chức tín dụng liên doanh, tổ chức
tín dụng phi ngân hàng 100% vốn nớc ngoài, tại Việt Nam nhằm hạn chế bớt cạnh
tranh không cân sức, trong giới hạn vừa đảm bảo tính ổn định, an toàn, vừa kích
thích sự phát triển của hệ thống ngân hàng thơng mại. Thứ nhì là: Với chức năng
quản lý nhà nớc về tiền tệ và hoạt động ngân hàng, nhằm ổn định giá trị đồng tiền
22
góp phần đảm bảo an toàn cho hoạt động ngân hàng và hệ thống các tổ chức tín
dụng, trong việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia: ngân hàng trung ơng cần
phải sử dụng tốt, có hiệu quả công cụ lãi suất phù hợp với từng thời kỳ để điều
chỉnh mức độ cạnh tranh trong giới hạn an toàn. Trong việc thực hiện luật Ngân
Hàng Nhà Nớc Việt Nam về chính sách lãi suất,ngân hàng trung ơng cần xác định
rõ và xây dựng các chuẩn mực về lãi xuất cơ bản, trong đó cần sử dụng quyền về
số vấn đề sau:
23
Khi hạ lãi suất tín dụng thì ngân hàng sẽ giảm nguồn thu và ảnh hởng đến kế
hoạch lợi nhuận. Vì vậy khi tính toán để giảm lãi suất tín dụng, NHTM cần phải có
nguồn vốn đầu vào ổn định, có thể giảm thấp để đảm bảo lợi nhuận. Mặt khác, phải
thực thi các biện pháp giảm chi phí nh chi phí tiền lơng, chi phí hành chính v.v.
Trong đó, việc giảm lãi suất đầu vào là rất khó khăn, vì các NHTM khác cũng cạnh
tranh để giữ khách hàng. Nếu tính toán không sát khi giảm lãi suất tín dụng sẽ dẫn
tới khả năng rủi do về lãi suất lớn trong trờng hợp lãi suất giảm thấp, buộc NHTM
phải áp dụng biện pháp tình thế, tăng lãi suất huy động nhằm thu hút thêm nguồn
vốn để bù đắp.
Vì lãi suất tín dụng là yếu tố rất nhạy cảm, có tác dụng rất nhanh nhạy nên
các NHTM buộc phải quan tâm, theo rõi rất chặt chẽ. Họ sẽ không để cho một
NHTM nào dùng lãi suất tín dụng để lôi kéo khách của mình. Khi NHTM nào đó
hạ lãi suất tín dụng, các NHTM khác cũng hạ lãi suất tín dụng để giữ vững khách
hàng, thậm chí có thể hạ hơn để kéo lại khách hàng. Nh vậy hiệu quả của việc dùng
lãi suất tín dụng trong cạnh tranh cha chắc đã đem lại hiệu quả thu hút khách hàng ,
mà vô hình chung NHTM đã đa mình vào tình huống khó khăn.
Vì vậy khi dùng lãi suất tín dụng để cạnh tranh các NHTM cần phải tính toán
cẩn trọng và cảnh giác với các hiêụ quả ngợc không mong muốn .
Hai là: Nâng cao chất lợng phục vụ và dịch vụ ngân hàng. Đây là một biện
pháp rất hiệu quả mà sự vơn tới là không có giới hạn, là sân chơi lành mạnh để các
NHTM dùng hết khả năng của mình để cạnh tranh. Cạnh tranh bằng nâng cao chất
lợng phục vụ chỉ có tác duụng tốt cho các NHTM và đem lại lợi ích cho dân chúng
và các doanh nghiệp.
Chất lợng phục vụ có rất nhiều lĩnh vực có liên quan đến khách hàng, chẳng
hạn nh thủ tục giấy tờ gọn nhẹ, thời gian xử lý nghiệp vụ nhanh chóng, t vấn cho
khách hàng có hiệu quả, thái độ giao tiếp tốt để vừa lòng khách hàng, nơi tiếp đón
sạch sẽ thuận tiện.
Nâng cao chất lợng phục vụ và dịch vụ ngân hàng chính là nâng cao lợi ích
bạn hàng v.v.
3.3 Một số yếu tố giúp cạnh tranh thành công trong kinh doanh ngân
hàng thế kỷ 21.
3.3.1 Khả năng sinh lợi:ngời chiến thắng phải có lợi nhuận hợp lỉtong bất kỳ
lĩnh vực kinh doanh và độ chênh lệch lãi suất nào.tài sản sinh lời có kỳ hạn thích
hợp hoặc đợc phòng ngừa rủi ro bởi các sản phẩm tài chính phái sinh.
3.3.2 Độ chênh lệch tổng quát dơng giữa thu nhập và chi phí: ngời chiến
thắng phải có tỷ suất lợi nhận/vốn phù hợp ngay cả khi có độ chênh lệch thấp hơn
đối với những khoản đầu t với tỷ suất lợi nhận không chấp nhận đợc
3.3.3 Nâng cao năng suất: ngời chiến thắng cắt giảm phí tổn tài chính cùng
với việc phát triển hệ thống phân phối điện tử có chi phí rẻ hơn và đạt năng suất cao
hơn.
3.3.4 Phân khúc thị trờng :ngời chiến thắng sẽ xác định ,tổ chức và quản lỷ
rạch ròi và có hiệu quả những khúc thị trờng nhằm phục vụ cho từng nhóm khách
hàng một cách có hiệu quả hơn.
3.3.5. Xây dựng chuỗi sản phẩm đầy đủ và có tính cạnh tranh: Ngời chiến
thắng phải có u thế về sản phẩm trong mọi phân khúc thị trờng mà không quan tâm
đến việc ngân hàng hoặc tổ chức phi ngân hàng là ngời cung cấp chúng.
3.3.6 Thiết kế kinh doanh tổng hợp: Ngời chiến thắng phải tổ chức và sử
dụng có hiệu quả những công ty con nh:công ty cho thê tài chính,công ty chứng
khoán v.v.Nh là những bộ phận thống nhất của hệ thống. Một yếu tố quan trọng
25