Pháp luật về biện pháp bảo đảm bằng các loại giấy tờ có giá trị trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 28


1 ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT NGUYỄN THỊ NGA
PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM BẰNG CÁC
LOẠI GIẤY TỜ CÓ GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG
CHO VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
VIỆT NAM LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


PHÁP LUẬT VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM BẰNG CÁC
LOẠI GIẤY TỜ CÓ GIÁ TRONG HOẠT ĐỘNG CHO
VAY CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM Chuyên ngành : Luật kinh tế
Mã số : 60 38 50 LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Lê Thị Thu Thủy

Hà nội – 2011

4
MỤC LỤC BẢNG VIẾT TẮT 1
LỜI CẢM ƠN! 3
LỜI MỞ ĐẦU 6
Chƣơng I: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP BẢO ĐẢM BẰNG

2.3.Hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá. 44
2.3.1. Hợp đồng cầm cố GTCG. 45
2.3.2. Hợp đồng thế chấp GTCG 46

5
2.4. Công chứng, chứng thực hợp đồng bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá.
47
2.5. Đăng ký giao dịch bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá. 48
2.5.1. Ý nghĩa pháp lý của việc đăng ký giao dịch bảo đảm 48
2.5.2. Đối tƣợng đăng ký giao dịch bảo đảm 51
2.6. Xử lý tài sản bảo đảm tiền vay là giấy tờ có gía 53
2.6.1. Căn cứ để xử lý tài sản bảo đảm tiền vay. 53
2.6.2. Thủ tục và phƣơng thức xử lý tài sản bảo đảm tiền vay 54
2.7. Bảo đảm tiền vay bằng một số giấy tờ có giá phổ biến 59
2.7.1.Cầm cố chứng khoán. 59
2.7.2. Cầm cố sổ tiết kiệm. 66
Chƣơng III: CÁC GIẢI PHÁP NHẰM THỰC HIỆN HIỆU QUẢ BẢO ĐẢM
TIỀN VAY BẰNG GIẤY TỜ CÓ GIÁ CỦA NHTM Ở VIỆT NAM. 74
3.1. Về quyền của bên nhận cầm cố giấy tờ có giá 75
3.2. Về định giá tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá 75
3.3. Công khai hóa thông tin về tình trạng pháp lý của tài sản bảo đảm. 76
3.4. Về hiệu lực của giao dịch bảo đảm bằng GTCG. 78
3.5. Các quy định về xử lý tài sản bảo đảm là giấy tờ có giá. 82
KẾT LUẬN 84
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO. 86
phần thúc đẩy sản xuất kinh doanh. Tín dụng ngân hàng đã đóng góp tích cực cho
việc duy trì sự tăng trưởng kinh tế với nhịp độ cao trong nhiều năm liên tục. Với dư
nợ cho vay nền kinh tế chiếm khoảng 35-37% GDP, mỗi năm hệ thống ngân hàng
đóng góp trên 10% tổng mức tăng trưởng kinh tế của cả nước[36].
Cũng thời gian gần đây, thế giới đã chứng kiến sự sụp đổ của hàng loạt các
ngân hàng và các tập toàn tài chính lớn trên thế giới tạo ra sự khủng hoảng toàn
diện, sâu rộng đến mọi mặt của nền kinh tế- xã hội toàn cầu.

7
Vấn đề đặt ra cho chúng ta đó là sự mâu thuẫn giữa sự phát triển của thị
trường tín dụng và vấn đề an toàn tín dụng. Chúng ta biết rằng, rủi ro trong hoạt
động tín dụng nói chung và hoạt động cho vay nói riêng được biết đến như một đặc
thù, một yếu tố khách quan của kinh doanh tiền tệ ngân hàng. Và kinh doanh tiền tệ
chứa đựng nhiều rủi ro hơn bất kỳ một ngành kinh doanh nào khác. Thực tiễn hoạt
động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại đã cho thấy, rủi ro đối với NHTM
trong nền kinh tế thị trường gồm nhiều loại như: rủi ro tín dụng, rủi ro thanh khoản,
rủi ro lãi suất, rủi ro hối đoái…trong đó rủi ro tín dụng chiếm tỷ trọng lớn nhất. Bởi
vậy, cùng với các biện pháp bảo đảm mang tính chuyên ngành, nghiệp vụ…không
thiếu những chế tài, biện pháp, các quy định pháp luật nhằm hạn chế những rủi ro
này, đăc biệt là rủi ro trong hoạt động cho vay. Không chỉ với các nước có nền phát
triển lâu đời trong lĩnh vực tài chính, tín dụng, mà ở nước ta, mặc dù thị trường tín
dụng mới ở giai đoạn đầu của sự phát triển song đã có rất nhiều các quy định pháp
luật chung cũng như chuyên ngành nhằm bảo đảm an toàn tín dụng nói chung cũng
như bảo đảm an toàn trong hoạt động cho vay của Ngân hàng nói riêng.

2. Tình hình nghiên cứu.

Nghiên cứu về các biện pháp bảo đảm tiền vay nói chung không phải là một
vấn đề mới mẻ, trái lại, đây là một vấn đề quen thuộc, đã được đề cập đến nhiều
trong các công trình nghiên cứu khoa học cũng như các bài báo, tạp chí, có thể kể

động cho vay của các NHTM ở Việt Nam, trên cơ sở đó đưa ra những giải pháp,
kiến nghị để hoàn thiện pháp luật và cơ chế thực hiện bảo đảm bằng các giấy tờ có
giá trong hoạt động cho vay của NHTM ở Việt Nam, nâng cao hiệu quả của giao
dịch bảo đảm đối với loại giấy tờ có giá.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu. 9
Trong quá trình nghiên cứu, dựa trên nền tảng của phép duy vật biện chứng,
duy vật lịch sử, người viết sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp các quy định của pháp luật.
- Phương pháp so sánh pháp luật: So sánh các quy định của pháp luật trước
đây và các quy định của pháp luật hiện hành,
- Phương pháp thống kê.

5.Bố cục của luận văn.
Ngoài lời cảm ơn, lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bảng
viết tắt, luận văn gồm ba chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về biện pháp bảo đẩm bằng các giấy tờ
có giá trong hoạt động cho vay của ngân hàng thƣơng mại.
Chương II: Thực trạng pháp luật về biện pháp bảo đảm bằng các giấy
tờ có giá trong hoạt động cho vay của các ngân hàng thƣơng mại ở Việt
Nam.
Chương III: Các giải pháp nhằm thực hiện có hiệu quả bảo đảm tiền
vay bằng giấy tờ có giá của NHTM ở Việt Nam
thuộc phạm trù chủ quan, thể hiện ở chỗ: do các chủ thể thoả thuận thiết lập, áp
dụng dựa trên các quy định của pháp luật về biện pháp bảo đảm nói chung và bảo

11
đảm tiền vay nói riêng, để tạo sự yên tâm cho nhau trong quan hệ nghĩa vụ, có tác
dụng dự phòng đối với những hành vi không hợp pháp, tạo cơ sở kinh tế khắc phục
thiệt hại vật chất của bên bị thiệt hại. Nói cách khác, bảo đảm tiền vay là sự thoả
thuận của người đi vay và người cho vay dựa trên các quy định của Nhà nước nhằm
thiết lập các biện pháp tác động mang tính chất dự phòng để đảm bảo việc trả nợ
vốn vay, ngăn ngừa vi phạm và tạo khả năng khắc phục những hậu quả do vi phạm
nghĩa vụ trả nợ gây ra.

1.1.2. Đặc điểm của bảo đảm tiền vay.
Qua định nghĩa về bảo đảm tiền vay cả trên phương diện nghĩa rộng và nghĩa
hẹp, bảo đảm tiền vay có một số đặc điểm sau:
- Bảo đảm tiền vay là các biện pháp phòng ngừa rủi ro. Đặc điểm này cũng
được xem như là mục đích của việc áp dụng các biện pháp bảo đảm tiền vay, bởi lẽ
các biện pháp bảo đảm tiền vay chính là các bảo đảm cho các tổ chức tín dụng có
khả năng thu hồi được các khoản nợ đã cho khách hàng vay. Việc xử lý tài sản bảo
đảm tiền vay không phải là cái đích mà các bên hướng tới, song, trong điều kiện
nền kinh tế thị trường của nước ta hiện nay thì có lẽ đây là biện pháp hữu hiệu nhất
để phòng ngừa rủi ro và bảo toàn vốn vay của các TCTD.
- Bảo đảm tiền vay tạo cơ sở kinh tế và pháp lý để thu hồi các khoản nợ đã
cho khách hàng vay. Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động kinh doanh
luôn gắn liền với yếu tố rủi ro và rủi ro trong hoạt động kinh doanh của khách hàng
vay vốn chính là một trong các nguyên nhân dẫn đến việc các TCTD không thu hồi
được các khoản nợ đã cho vay. Trong trường hợp khách hàng rơi vào tình trạng mất
khả năng chi trả, mất khả năng thanh toán, ngân hàng có thể tránh được mọi hậu
quả liên quan đến việc phá sản của khách hàng thông qua tài sản bảo đảm tiền vay.
Nếu một khoản vay không có bảo đảm thì trong trường hợp khách hàng không trả


13
Quyết định số 17/2006/QĐ-NHNN ngày 20/4/2006 của NHNN, quy định: Các
loại giấy tờ có giá được tổ chức tín dụng lựa chọn chiết khấu, tái chiết khấu bao
gồm:
1.Các giấy tờ có giá của tổ chức tín dụng phát hành theo quy định của Luật
các tổ chức tín dụng và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
2.Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước phát hành theo quy định của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam.
3.Các loại trái phiếu được phát hành theo quy định của Chính phủ và hướng
dẫn của Bộ Tài chính, bao gồm: Tín phiếu kho bạc; Trái phiếu kho bạc; Trái phiếu
công trình trung ương; Trái phiếu đầu tư; Trái phiếu ngoại tệ; Công trái xây dựng
tổ quốc; Trái phiếu được Chính phủ bảo lãnh; Trái phiếu chính quyền địa phương.
4.Các tín phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu do tổ chức khác phát hành và đươc chiết
khấu, tái chiết khấu theo quy định của pháp luật.
Theo Khoản 9, Điều 3 Nghị định 163/2006/NĐ- CP ngày 29/12/2006 về giao
dịch bảo đảm: “Giấy tờ có giá bao gồm cổ phiếu, trái phiếu, hối phiếu, kỳ phiếu,
chứng chỉ tiền gửi, séc, giấy tờ có giá khác theo quy định của pháp luật, trị giá
được thành tiền và được phép giao dịch”.
Trong thực tế giấy tờ có giá cũng chỉ được hiều một cách chung chung, trong
quy định về cho vay cầm cố giấy tờ có giá của các NHTM cũng không có khái
niệm thống nhất về giấy tờ có giá mà chỉ quy định các loại giấy tờ có giá, như theo
quy định về cầm cố giấy tờ có giá của Ngân Hàng MHB ,các loại giấy tờ có giá
được cầm cố gồm :
 Trái phiếu Chính phủ: Tín phiếu kho bạc, trái phiếu kho bạc,
trái phiếu công trình Trung ương, trái phiếu ngoại tệ, công trái
xây dựng Tổ quốc.
 Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.

14

Kỳ phiếu ngân hàng là một loại hối phiếu nhận nợ, do Ngân hàng phát hành,
trong đó ngân hàng cam kết thanh toán một số tiền nhất định cho người thụ hưởng
được chỉ định trên hối phiếu vào một thời điểm xác định [36, tr134]
Chứng chỉ tiền gửi ngắn hạn là văn bản do ngân hàng phát hành để chứng
nhận rằng người sở hữu văn bản đã gửi tiền vào ngân hàng. Chứng chỉ tiền gửi
ngắn hạn (với thời hạn dưới 1 năm) thực chất là lời hứa trả một lượng tiền nhất
định cho người sở hữu nó vào một thời điểm nhất định trong tương lai.
Ở Mỹ và Anh, nó là loại trái phiếu “có thể trao đổi”, nghĩa là có thể chuyển
nhượng đơn giản bằng cách trao cho người mua. Đồng thời ở một số nước, ngân
hàng phát hành còn cho phép người sở hữu loại chứng chỉ này có thể bán chúng
trước hạn (với một mức giá khấu trừ). Vì vậy, chúng có khả năng thanh toán cao
đối với người sở hữu, đồng thời đảm bảo nguồn vốn cho ngân hàng trong một thời
gian.
Chứng chỉ tiền gửi có các đặc điểm tương tự như Tiền gửi tiết kiệm nhưng
khác ở chỗ: được hưởng lãi suất cao hơn, được phép chuyển nhượng, không được
đáo hạn.
Chứng chỉ tiền gửi áp dụng lần đầu tiên ở Mỹ vào đầu những năm 60, sau đó
được lưu hành ở Anh. Hiện nay công cụ này được hầu hết các ngân hàng thương
mại lớn của Mỹ phát hành và thu được những thành công lớn, với tổng số dư gần
đây vượt quá tổng số dư của tín phiếu kho bạc Mỹ. Chúng là những nguồn vốn đặc
biệt quan trọng mà các ngân hàng thương mại nhận từ các công ty, các quỹ tương
trợ cho thị trường tiền tệ, và các cơ quan của chính phủ. Ở Việt Nam hiện nay,
chứng chỉ tiền gửi đang trở thành một trong những sản phẩm huy động vốn “ưa

16
thích” của các ngân hàng bởi tính chất “không được đáo hạn” của loại giấy tờ có
giá này rất thuận lợi cho các ngân hàng trong kế hoạch sử dụng vốn lâu dài.
Tín phiếu là một loại giấy tờ có giá ngắn hạn (có kỳ hạn dưới một năm) do
chính phủ (NHNN, BTC…) phát hành nhằm mục đích huy động vốn nhàn rỗi trong
nhân dân bổ sung cho ngân sách nhà nước. Tín phiếu thường được phát hành bằng

Người phát hành trái phiếu có thể là Chính phủ khi cần huy động vốn cho ngân
sách nhà nước hay doanh nghiệp khi huy động vốn để đầu tư phát triển sản xuất,
kinh doanh. Người mua trái phiếu, hay còn gọi là trái chủ, có thể là cá nhân, doanh
nghiệp hoặc Chính phủ (trừ việc mua trái phiếu chính phủ). Là chủ nợ, người nắm
giữ trái phiếu có quyền đòi các khoản thanh toán theo cam kết về số lượng và thời
hạn song không có quyền tham gia vào những vấn đề của bên phát hành. Lãi suất
của các trái phiếu rất khác nhau, được quy định bởi các yếu tố như cung cầu vốn
trên thị trường tín dụng (Lượng cung cầu đó lại tuỳ thuộc vào chu kỳ kinh tế, động
thái chính sách của ngân hàng trung ương, mức độ thâm hụt ngân sách của chính
phủ và phương thức tài trợ thâm hụt đó), mức rủi ro của mỗi nhà phát hành và của
từng đợt phát hành (Cấu trúc rủi ro lãi suất sẽ quy định lãi suất của mỗi trái phiếu.
Rủi ro càng lớn, lãi suất càng cao), và phụ thuộc vào thời gian đáo hạn của trái
phiếu (Nếu các trái phiếu có mức độ rủi ro như nhau, nhìn chung thời gian đáo hạn
càng dài thì lãi suất càng cao).
Về mặt lợi ích, Trái phiếu là công cụ nợ có độ tin cậy cao nhất, đặc biệt là
trái phiếu chính phủ. Trái phiếu Chính phủ thường được coi là có mức độ rủi ro
thấp nhất, vì Chính phủ có khả năng thu thuế hoặc phát hành tiền để trả nợ. Trong
môi trường lạm phát thấp, đầu tư trái phiếu là một cách an toàn để duy trì nguồn
thu nhập thường xuyên. Khi thị trường chứng khoán biến động, đầu tư trái phiếu là
một cách giúp đảm bảo an toàn vốn đầu tư và phân tán rủi ro. Bởi vậy trái phiếu nói
chung và trái phiếu Chính phủ nói riêng đã trở thành một công cụ tài chính quan

18
trọng và là loại giấy tờ có giá được sử dụng hiệu quả nhất trong việc bảo đảm tiền
vay tại các ngân hàng thương mại hiện nay.
Ngoài ra, sổ tiết kiệm cũng được xem là một loại giấy tờ có giá được sử dụng
khá phổ biến trong các giao dịch có bảo đảm bằng các loại giấy tờ có giá.

1.3. Điều kiện để các giấy tờ có giá trở thành tài sản bảo đảm tiền vay của các
NHTM

giới: Điều 336 Bộ luật dân sự Nga. Điều 747 Bộ luật dân sự Thái Lan, Điều 342 Bộ
luật dân sự Nhật Bản … theo đó vật cầm cố không nhất thiết phải thuộc sở hữu của
bên cầm cố. Bên nhận cầm cố luôn được đảm bảo trong mọi trường hợp, họ có
quyền ưu tiên so với các chủ nợ khác, kể cả trong trường hợp tài sản cầm cố không
thuộc sở hữu của bên cầm cố[32]
Ngoài quy định về GTCG cầm cố phải thuộc sở hữu của khách hàng, pháp
luật còn yêu cầu tài sản đó phải được phép giao dịch và không có tranh chấp. Vì
cầm cố là một loại giao dịch dân sự, muốn cho giao dịch đó có hiệu lực pháp luật
thì tài sản trong giao dịch phải hợp pháp về sở hữu và được tham gia vào giao dịch.
Tài sản được phép giao dịch là tài sản mà pháp luật cho phép hoặc không cấm mua,
bán, tặng cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm cố, thế chấp, bảo lãnh và các giao
dịch khác. Tuy vậy, có những tài sản có thể ở dạng sở hữu hợp pháp nhưng không
được giao dịch, ví dụ: tài sản đang bị cơ quan có thẩm quyền tạm giữ, niêm phong,
phong tỏa, tài sản đang làm thủ tục giải thể, phá sản doanh nghiệp. Từ đó, có thể
hiểu rộng ra rằng, “được phép giao dịch” là theo qui định của pháp luật được đưa
tài sản đó vào giao dịch, trở thành đối tượng của giao dịch, phạm trù được phép
giao dịch được suy đoán bằng sự loại trừ ra những trường hợp bị cấm, bị hạn chế
tham gia giao dịch theo quy định của pháp luật.

20
Dựa vào các quy định chung của pháp luật, mỗi NHTM tuỳ thuộc vào đặc
điểm và điều kiện của mình để đưa ra các quy định loại giấy tờ có giá nào, điều
kiện được phép mang ra để bảo đảm cho khoản vay của khách hàng.
*Quy định về sản phẩm cho vay cầm cố bằng GTCG của NHTMCP Ngoại
Thương Việt Nam:
1. Giấy tờ có giá : Là trái phiếu Chính Phủ; tín phiếu kho bạc; chứng chỉ tiền
gửi, kỳ phiếu, trái phiếu, sổ tiết kiệm do NHTMCP Ngoại Thương Việt Nam và các
tổ chức tín dụng khác phát hành.
2. Điều kiện vay vốn: Ngoài các điều kiện vay vốn theo quy định cho vay
hiện hành của NHNT và các quy định khác của pháp luật, GTCG của khách hàng

trình Trung ương, trái phiếu ngoại tệ, công trái xây dựng Tổ quốc.
Tín phiếu Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- Các giấy tờ có giá do MHB và các ngân hàng thương mại quốc doanh khác
(kể cả các công ty chứng khoán của các ngân hàng thương mại quốc doanh),
hoặc các công ty tài chính của các tổng công ty nhà nước phát hành gồm: trái
phiếu, kỳ phiếu, sổ tiết kiệm, chứng chỉ tiền gửi …
- Giấy tờ có giá do tiết kiệm bưu điện phát hành.
- Các giấy tờ có giá khác do Tổng Giám đốc MHB quy định trong từng thời
kỳ.
2. Điều kiện về GTCG :
- Thuộc quyền sở hữu hợp pháp của khách hàng;
Được phép giao dịch (mua, bán, tặng cho, chuyển đổi, chuyển nhượng, cầm
cố, bảo lãnh và các giao dịch hợp pháp khác); riêng giấy tờ có giá ghi danh
và giấy tờ có giá của các ngân hàng thương mại, tổ chức tài chính tín dụng
phát hành thì phải được tổ chức phát hành xác nhận tính hợp lệ, hợp pháp và

22
cho phép chuyển nhượng cũng như chấp nhận đồng ý phong tỏa chứng từ có
giá có liên quan trong suốt thời gian được chi nhánh cầm cố.
- Chưa đến hạn thanh toán
- Được thanh toán theo quy định của tổ chức phát hành;
Như vậy, ngoài các điều kiện đối với tài sản cầm cố là GTCG theo quy định
của pháp luật hiện hành, các NHTM thường đưa thêm các điều kiện khác chi tiết
hơn, chặt chẽ hơn nhằm hạn chế rủi ro tới mức tối đa các khoản vay có bảo đảm
bằng GTCG như: Chỉ một số loại GTCG nhất định mới được phép cầm cố, thường
là các loại GTCG có mức tín nhiệm và tính thanh khoản cao như trái phiếu Chínhh
phủ, Tín phiếu NHNN và một số loại GTCG khác do chính ngân hàng đó hoặc do
các TCTD được nêu cụ thể trong danh mục riêng của mỗi NH phát hàng.; GTCG
được phép giao dịch phải có nguồn gốc rõ ràng, không do hành vi vi phạm pháp
luật mà có, không có tranh chấp về quyền sở hữu, không bị phong toả, hạn chế

doanh ngân hàng nào có thể dự đoán chính xác. Rủi ro tín dụng gần như đã trở
thành một đặc thù gắn liền với hoạt động cho vay của các ngân hàng. Có rất nhiều
nguyên nhân dẫn đến rủi ro trong hoạt đông cho vay của các ngân hàng. Có thể
khái quát những nguyên nhân chủ yếu sau:
- Từ phía ngân hàng: Thông thường, do trình độ yếu kém trong nghiệp vụ, do
một số cán bộ tín dụng bị tha hoá, thông đồng với khách hàng để mưu lợi cá nhân,
dẫn đến không thẩm định đầy đủ các dự án của khách hàng vay, cho vay những dự
án không có tính khả thi, không có khả năng thu hồi vốn để trả nợ cho ngân hàng,
cho vay không có biện pháp bảo đảm, cho vay vượt quá hạn mức tín dụng…là
những nguyên nhân phổ biến dẫn đến rủi ro tín dụng trong hoạt động của NHTM.
- Từ phía khách hàng vay: Nếu khách hàng là cá nhân- thông thường do thu
nhập không ổn định, việc làm không thường xuyên hoặc thất nghiệp, hoặc những
khó khăn về hoàn cảnh gia đình. Đối với các tổ chức: do sử dụng vốn sai mục đích,

24
quá trình sản xuất kinh doanh bị thua lỗ, thậm chí dẫn đến phá sản; hoặc khách
hàng chây ỳ không trả nợ thì việc thu hồi gốc và lãi tín dụng đầy đủ là không chắc
chắn, do đó, ngân hàng có thể gặp rủi ro tín dụng.
Ngoài ra, nguyên nhân dẫn đến rủi ro tín dụng cũng có thể từ phía Nhà nước
(do thay đổi cơ chế chính sách làm cho các doanh nghiệp vay vốn gặp phải khó
khăn về tài chính), hoặc do các yếu tố khách quan như chịu ảnh hưởng của thị
trường biến động, các cuộc khủng hoảng kinh tế- tài chính của các nước trong khu
vực và trên thế giới, do thiên tai…làm cho các ngân hàng gặp rất nhiều khó khăn
trong việc thu hồi nợ đúng hạn.
Bởi vậy, để kiểm soát rủi ro mang lại từ hoạt động cho vay, hạn chế đến mức
thấp nhất các thiệt hại gây ra, pháp luật hầu hết các nước đều có quy định cụ thể về
an toàn tín dụng, theo đó các ngân hàng khi cấp tín dụng đều phải tuân thủ những
điều kiện nhất định, trong đó điều kiện về bảo đảm tiền vay nói chung và bảo đảm
tiền vay bằng giấy tờ có giá nói riêng được xem như một biện pháp quan trọng
nhằm đảm bảo an toàn tín dụng. Tư tưởng pháp lý này được thể hiện rõ nét trong

tín dụng vì để nâng cao sự an toàn cho việc thu hồi vốn, các tổ chức tín dụng
thường yêu cầu có biện pháp bảo đảm bằng tài sản khi cấp tín dụng cho các doanh
nghiệp vừa và nhỏ. Bởi vậy quy định về bảo đảm tiền vay cùng với sự đa dạng hoá
các tài sản bảo đảm, các cá nhân, doanh nghiệp không chỉ có thể dùng bất động sản
để thế chấp, dùng uy tín để vay tín chấp hay vay vốn bằng sự bảo lãnh của bên thứ
ba mà có thể tiếp cận nguồn vốn thông qua việc cầm cố các loại giấy tờ có giá – là
một loại tài sản khá phổ biến hiện nay. Dưới góc độ này, bảo đảm tiền vay nói
chung và bảo đảm tiền vay bằng các giấy tờ có giá nói riêng đã trở thành công cụ
hữu hiệu để các doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận tín dụng ngân hàng qua đó góp
phần không nhỏ trong việc kích thích hoạt động cho vay của các ngân hàng.

26
Bên cạnh đó khi áp dụng biện pháp bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá
khách hàng vay còn được hưởng hạn mức cho vay tối đa có thể lên đến 95% giá trị
GTCG tại thời điểm vay nếu là GTCG do chính TCTD nhận bảo đảm phát hành và
90% tổng giá trị của giấy tờ có giá tại thời điểm vay nếu đó là GTCG do tổ chức
khác phát hành (Theo Quy định về hạn mức cho vay đối với sản phầm cho vay cầm
cố bằng GTCG của NHTMCP Ngoại thương Việt Nam năm 2008) … trong khi hạn
mức tín dụng tối đa đối với các giao địch bảo đảm tiền vay bằng các loại tài sản
khác như bất động sản thông thường chỉ là 50%. Rõ ràng so với các tài sản bảo
đảm khác, bảo đảm bằng giấy tờ có giá có hạn mức cho vay hấp dẫn khách hàng
vay vốn hơn .
1.4.3. Bảo đảm tiền vay bằng giấy tờ có giá có vai trò quan trọng trong việc
hạn chế tranh chấp xảy ra, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham
gia quan hệ tín dụng ngân hàng.
Về mặt lý thuyết, quyền lợi của các chủ nợ luôn được pháp luật bảo vệ, một
khi nợ đến hạn, họ có quyền yêu cầu người mắc nợ trả nợ, nếu người mắc nợ không
trả một cách tự nguyện, thì họ có quyền tiến hành một vụ kiện kết thúc bằng việc
kê biên và bán đấu giá các tài sản thuộc quyền sở hữu của người mắc nợ để thanh
toán. Nhưng trên thực tế, chủ nợ không có bảo đảm luôn đứng trước nguy cơ không


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status