GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
CAO HỌC KHÓA 21 – NH NGÀY 2
NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
CHUYÊN ĐỀ :
BẢO LÃNH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VIỆT NAM
GVHD: PGS TS. TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG
NHÓM 9 – LỚP NH NGÀY 2 – KHÓA 21
Đặng Thị Mỹ Lệ
Hoàng Thị Bích Thuần
Lâm Thị Oanh Thùy
Trần Thị Mai Khanh
Hồ Thị Thanh Danh
Lê Ngọc Bảo Châu
Nguyễn Thị Bích Trâm
Nhóm 9_ngày 2 K21 1
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
BẢO LÃNH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT
NAM
Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo lãnh tại các ngân hàng thương mại
1.1 Những vấn đề cơ bản về Bảo lãnh
1.1.1 Khái niệm
Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng, theo đó NHTM cam kết với bên nhận
bảo lãnh về việc NHTM sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng nếu khách
hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ và cam kết. Khách hàng
phải nhận nợ và hoàn trả cho NHTM theo thỏa thuận.
Cam kết bảo lãnh của NHTM theo yêu cầu của khách hàng, thông thường được thể hiện
dưới các hình thức sau:
- Đối với nền kinh tế:
+ Góp phần tài trợ vốn tín dụng cho nền kinh tế: doanh nghiệp được tài trợ vốn, thực
hiện sản xuất kinh doanh
+ Là chất xúc tác hoạt động thương mại, tài chính phát triển, thúc đẩy thương mại
quốc tế phát triển.
- Đối với ngân hàng bảo lãnh:
+ Góp phần đa dạng hóa sản phẩm tín dụng của ngân hàng, phân tán rủi ro tín dụng
+ Phát triển các sản phẩm đối với khách hàng: thanh toán trong nước, thanh toán quốc
tế, kinh doanh ngoại tệ, ủy thác…
+ Tăng thu nhập cho ngân hàng từ phí bảo lãnh và lãi vay nếu ngân hàng cho vay để
thực hiện nghĩa vụ tài chính
- Đối với bên được bảo lãnh:
+ Công cụ tài trợ vốn và dịch vụ tiện ích từ ngân hàng
+ Tiếp cận được nhiều dự án, hợp đồng…
+ Tạo động lực, thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả và trách nhiệm hơn
- Đối với bên nhận bảo lãnh:
+ Bảo đảm quyền lợi cho người nhận bảo lãnh
+ Được nhận bồi thường nếu rủi ro xảy ra
1.2 Các loại hình bảo lãnh ngân hàng:
1.2.1 Căn cứ phạm vi:
- Bảo lãnh trong nước: là hình thức bảo lãnh giữa ngân hàng với khách hàng thực
hiện các giao dịch kinh tế phát sinh trong nước.
- Bảo lãnh ngoài nước: là hình thức bảo lãnh giữa ngân hàng với khách hàng thực
hiện các giao dịch kinh tế phát sinh giữa chủ thể trong nước với chủ thể nước
ngoài trong thương mại quốc tế và thanh toán quốc tế.
1.2.2 Căn cứ đồng tiền bảo lãnh:
- Bảo lãnh bằng nội tệ: ngân hàng cam kết thực hiện bảo lãnh bằng đồng tiền trong
nước
- Bảo lãnh bằng ngoại tệ: ngân hàng cam kết thực hiện bảo lãnh bằng ngoại tệ như:
USD, EUR, JPY…
- Rủi ro thanh khoản.
Yêu cầu phải thanh toán theo thư bảo lãnh đã phát hành có thể đến bất kỳ lúc nào buộc
ngân hàng phải sử dụng nguồn vốn của mình để thanh toán (trừ trường hợp khách hàng
ký quỹ 100%). Thông thường ngân hàng phải trích vốn để lập quỹ bảo lãnh phục vụ cho
mục đích này. Nếu số tiền phải trả quá lớn, vượt quá giá trị của quỹ thì ngân hàng sẽ rơi
vào tình trạng mất khả năng thanh khoản, buộc ngân hàng phải chuyển một phần nguồn
vốn dùng để cho vay sang, thậm chí phải bán chứng khoán dự trữ, đi vay trên thị trường
mở hay phát hành chứng khoán nợ mới mà các hoạt động này khi thực hiện một cách bị
động thường làm cho ngân hàng bị thiệt hại rất nhiều do chi phí cơ hội bỏ ra là rất lớn.
- Rủi ro hối đoái:
Ngày nay hoạt động bảo lãnh không chỉ còn bó hẹp trong phạm vi một quốc gia mà
diễn ra trên phạm vi toàn thế giới. Đồng tiền sử dụng trong quan hệ bảo lãnh không chỉ là
một đồng tiền duy nhất. Chính vì thế, khi có biến động tỷ giá giữa các đồng tiền có liên
quan thì sẽ xảy ra rủi ro hoặc cho bên này hoặc cho bên kia trong hoạt động bảo lãnh nếu
ngân hàng cam kết thực hiện nghĩa vụ bằng ngoại tệ của quốc gia bên nhận bảo lãnh
trong khi hợp đồng bảo lãnh được ký kết với bên được bảo lãnh bằng nội tệ hoặc nếu
đồng ngoại tệ lên giá so với đồng nội tệ thì ngân hàng sẽ bị thiệt hại. Đó là rủi ro hối
đoái.
b. Rủi ro đối với người thụ hưởng bảo lãnh.
Trên thực tế, không phải khi nào bên được bảo lãnh cũng như người thụ hưởng bảo lãnh
cũng tìm được ngân hàng bảo lãnh như ý. Chính vì vậy, người thụ hưởng bị chi phối bởi
khả năng tài chính của ngân hàng bảo lãnh. Chẳng hạn như cuộc khủng hoảng tài chính
Nhóm 9_ngày 2 K21 4
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
tiền tệ sẽ kéo theo sự sụp đổ của ngân hàng bảo lãnh và hậu quả là người thụ hưởng bảo
lãnh sẽ phải chịu rủi ro. Ngoài ra, có thể có những nguyên nhân bất khả kháng cũng có
thể gây ra những rủi ro cho người thụ hưởng bảo lãnh như thiên tai, hỏa hoạn…
c. Rủi ro đối với người được bảo lãnh.
Do tính chất cũng như vai trò của bảo lãnh nên bên được bảo lãnh bị ràng buộc trong việc
thực hiện các hợp đồng đã kí kết với người thụ hưởng bảo lãnh. Bên được bảo lãnh luôn
những nhân tố đó tác động tới khả năng thực hiện hợp đồng của bên được bảo lãnh cũng
như nghĩa vụ trả nợ với ngân hàng khi ngân hàng thực hiện thanh toán hộ theo cam kết
bảo lãnh.
Nhóm 9_ngày 2 K21 5
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
1.3.3 Mức độ rủi ro trong bảo lãnh ngân hàng:
Nghiệp vụ bảo lãnh có những đặc thù riêng của nó, mức độ rủi ro phụ thuộc hoàn toàn
vào hình thức đảm bảo của khách hàng cho cam kết bảo lãnh ngân hàng. Xác định được
mức độ rủi ro của từng loại bảo lãnh sẽ giúp cho cán bộ phụ trách bảo lãnh có được
những quyết định hợp lý về thời gian và đặc biệt là mức phí bảo lãnh. Nếu như ngân hàng
quy định mức phí rủi ro cho các tài sản của mình từ 0% - 100% tùy vào đặc điểm của
từng loại bảo lãnh thì chúng ta cũng có thể áp dụng phương pháp tương tự để xác định
mức độ rủi ro của nghiệp vụ bảo lãnh.
- Thứ nhất: Bảo lãnh có mức độ rủi ro 0%: là loại bảo lãnh mà bên bảo lãnh phải ký quỹ
100% trị giá bảo lãnh.
- Thứ hai: Bảo lãnh có mức độ rủi ro 0% - 50%: khi bên bảo lãnh ký quỹ từ 50% - 100%
trị giá bảo lãnh hoặc ký quỹ từ 5% - 10% trị giá bảo lãnh và kết hợp với thế chấp bằng
bất động sản.
- Thứ ba: Bảo lãnh có mức độ rủi ro 100%: mà loại bảo lãnh mà bên được bảo lãnh không
cần phải thế chấp hay ký quỹ bảo lãnh.
Như vậy phí bảo lãnh cao hay thấp không chỉ phụ thuộc vào thời gian bảo lãnh mà
còn phụ thuộc rất nhiều vào mức độ rủi ro của bảo lãnh đó và tỷ lệ phí trên trị giá bảo
lãnh.
1.3.4 Những biện pháp hạn chế rủi ro:
- Về mặt nghiệp vụ: Quy trình bảo lãnh được thực hiện qua mô hình ba cấp: quan hệ khách
hàng, quản lý khách hàng, bộ phận tác nghiệp. Tại bộ phận tác nghiệp để một thư bảo
lãnh được phát hành phải qua nhiều tay: cán bộ nghiệp vụ, kiểm soát viên, phụ trách
phòng và ban giám đốc.
- Chú trọng công tác đào tạo nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ: để hoạt động bảo lãnh
đạt được hiệu quả cao thì tất yếu phải đòi hỏi phải có một cơ cấu tổ chức và quản lý nhân
a. Hồ sơ pháp lý:
- Đối với pháp nhân, doanh nghiệp tư nhân:
+ Quyết định thành lập, giấy phép thành lập, giấy phép hành nghề (nếu có), biên bản
góp vốn, danh sách thành viên (nếu có), quyết định bổ nhiệm
- Đối với hộ gia đình, cá nhân:
+ Giấy chứng minh nhân dân (đối với khách hàng vay là người Việt Nam), Hộ chiếu
(đối với khách hàng vay là người nước ngoài), hoặc các giấy tờ chứng minh nơi cư trú
(sổ hộ khẩu, )
+ Giấy uỷ quyền cho người giao dịch với Ngân hàng (nếu có).
- Đối với tổ hợp tác :
+ Hợp đồng hợp tác có chứng thực của UBND cấp xã, phường, thị trấn cho phép hoạt
động.
+ Văn bản thể hiện ý kiến đa số tổ viên đồng ý đề nghị Ngân hàng bảo lãnh.
b. Hồ sơ bảo lãnh:
Do khách hàng lập:
- Giấy đề nghị bảo lãnh.
- Dự án hoặc phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ khả thi.
- Hợp đồng tín dụng (Đối với bảo lãnh vay vốn trong nước).
- Hồ sơ tài sản bảo đảm cho nghĩa vụ được bảo lãnh (Nếu phải áp dụng biện pháp bảo
đảm).
- Các hồ sơ, giấy tờ liên quan đến khoản bảo lãnh.
- Các báo cáo tài chính gần nhất, liền kề (đối với khách hàng là tổ chức):
+ Bảng cân đối kế toán.
+ Báo cáo kết quả hoạt động SXKD.
Nhóm 9_ngày 2 K21 7
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
+ Thuyết minh báo cáo tài chính.
+ Báo cáo lưu chuyển tiền tệ.
1.4.2 Kiểm tra và thẩm định hồ sơ bảo lãnh
- Kiểm tra hồ sơ và mục đích xin bảo lãnh
Nghị định số 58/CP ban hành quy chế vay và trả nợ nước ngoài. Để hướng dẫn thi
hành, Thống đốc NHNN đã ban hành quy chế bảo lãnh và tái bảo lãnh vay vốn
Nhóm 9_ngày 2 K21 8
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
nước ngoài, ban hành kèm theo Quyết định số 23/QĐ-NH14 ngày 21/02/1994 để
thay quyết định số 192/NH-QĐ và các văn bản hướng dẫn thi hành
- Quyết định số 262/QĐ-NH14 ngày 19 tháng 9 năm 1995 của Thống đốc NHNN
về một số điều của quyết định đã lần đầu quy định mức phí bảo lãnh tối đa cho
một khách hàng là 10% vốn tự có của tổ chức tín dụng.
- Tháng 12 năm 1997 Quốc hội chính thức thông qua Luật NHNN và Luật các tổ
chức tín dụng. Hai luật này thừa nhận bảo lãnh là một trong những ngiệp vụ tín
dụng đặc trưng được thực hiện bởi các tổ chức tín dụng. Căn cứ vào các Luật trên,
thống đốc NHNN đã ban hành các văn bản điều chỉnh chung hoạt động bảo lãnh
ngân hàng, xóa bỏ sự phân biệt trong việc quy định Quy chế bảo lãnh trong nước
và bảo lãnh vay vốn nước ngoài như trước đây. Điển hình là một số văn bản sau:
+ Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định số 283/2000/QĐ-
NHNN 14 ngày 25 tháng 08 năm 2000.
+ Quyết định số 1348/2001/QĐNHNN ngày 29 tháng 10 năm 2011 về sửa đổi một
số quy định liên quan đến thu phí bảo lãnh của các tổ chức tín dụng.
+ Quyết định số 112/2003-QĐNHNN ngày 11/02/2003 về việc sửa đổi bổ sung
một số điều của Quy chế bảo lãnh Ngân hàng ban hành kèm theo QĐ số
283/2000/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 08 năm 2000.
+ Thông tư số 02/TT NHNN 14 ngày 14/06/1999 của Thống đốc NHNN hướng
dẫn việc bảo lãnh nộp thuế nhập khẩu đối với hàng tiêu dùng của tổ chức tín dụng.
- Sau một thời gian dài áp dụng trên thực tế, Quy chế bảo lãnh cũ đã bộc lộ một số
hạn chế nhất định không còn phù hợp với yêu cầu đòi hỏi hiện nay. Để khắc phục
khó khăn trên, gần đây nhất ngày 26/06/2006 NHNN Việt Nam đã ra quyết định
số 26/2006/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế bảo lãnh ngân hàng thay thế QĐ
số 283/2000/QĐ-NHNN14 và các văn bản hướng dẫn thi hành.
- Ngày 03/10/2012 NHNN ban hành thông tư số 28/2012/TT-NHNN quy định về
đề có liên quan đến dịch vụ bảo lãnh, giúp khách hàng có đước phương án bảo lãnh hợp
lý nhất.
Ngân hàng Kỹ thương cung cấp các loại bão lãnh sau:
- Bảo lãnh vay vốn trong và ngoài nước.
- Bảo lãnh thanh toán (mua bán trả chậm, nghĩa vụ thuế).
- Bảo lãnh dự thầu.
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
- Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm (bảo lãnh bảo hành).
- Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước.
- Bảo lãnh đối ứng với một tổ chức kinh tế hoặc tổ chức tín dụng khác.
Khi tham gia nghiệp vụ bảo tại Ngân hàng Kỹ thương khách hàng nhận được
những tiện ích sau:
- Thủ tục nhanh gọn.
- Mức phí hợp lý tương ứng từng hình thức bảo lãnh.
- Mức ký quỹ và tài sản bảo đảm linh hoạt theo từng doanh nghiệp.
Ngân hàng SACOMBANK cung cấp các hình thức bảo lãnh:
- Bảo lãnh vay vốn.
- Bảo lãnh thanh toán.
- Bảo lãnh dự thầu.
Nhóm 9_ngày 2 K21 10
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
- Bảo lãnh thực hiện hợp đồng.
- Bảo lãnh hoànn thanh toán.
- Bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm.
- Các loại bảo lãnh khác.
2.2.2 Những kết quả đạt được
Chất lượng bảo lãnh ngày càng tăng cao. Đặc biệt là trong những năm gần đây
không những tăng nhanh về doanh số cũng như thu nhập mà số lượng khách hàng tham
gia hoạt động này cũng ngày một tăng. Cùng với việc đa dạng hóa các nghiệp vụ kinh
doanh, ngân hàng cũng chú trọng phát triển nghiệp vụ bảo lãnh, các loại hình bảo lãnh
2011 cải thiện rõ rệt so với năm 2010, đặc biệt là sự gia tăng mạnh của Eximbank với
106,36%, Vietinbank với 40,66% và MBbank với 78,96%. Sang năm 2012 hoạt động sản
xuất kinh doanh của các doanh nghiệp hầu như bị ngưng trệ đã ảnh hưởng đến kết quả
hoạt động kinh doanh của các ngân hàng trong đó có thu nhập từ nghiệp vụ bảo lãnh. Vì
thế, doanh thu từ hoạt động này của 5 ngân hàng thể hiện trong bảng trên có 3 ngân hàng
với doanh thu giảm và 2 ngân hàng có tỷ lệ tăng nhưng mức tăng thấp hơn nhiều so với
năm trước đó.
Nhìn chung, qua bảng số liệu trên Mbbank là ngân hàng có thu nhập từ hoạt động bảo
lãnh tương đối ổn định và có sự tăng trưởng qua các năm so với các ngân hàng thương
mại nêu trên.
2.2.3 Những khó khăn hạn chế và nguyên nhân:
- Môi trường pháp lý điều chỉnh hoạt động bảo lãnh chưa hoàn chỉnh và đồng bộ,
sự thay đổi thường xuyên của hệ thống pháp luật gây nhiều khó khăn cho ngân hàng khi
phải điều chỉnh theo sự thay đổi của pháp luật.
- Trình độ của các doanh nghiệp tham gia hoạt động bảo lãnh còn hạn chế, đặc biệt
là các doanh nghiệp mới thành lập, điều kiện về năng lực sản xuất, năng lực quản lý, tài
sản bảo đảm còn hạn chế, điều này gây khó khăn cho cả ngân hàng và khách hàng khi
tham gia nghiệp vụ bảo lãnh.
- Các điều kiện về tài sản thế chấp còn khó khăn, việc định giá cũng như xác định
giá trị hao mòn của tài sản đảm bảo không phải dễ dàng. Việc định giá không chính xác
sẽ là nguy cơ gây rủi ro lớn cho ngân hàng.
- Đối tượng khách hàng bảo lãnh còn hạn chế, khách hàng chủ yếu của các ngân
hàng hiện nay là các doanh nghiệp quốc doanh, mặc dù đã mở rộng thêm đối tượng là các
doanh nghiệp ngoài quốc doanh nhưng số lượng còn ít. Trong khi đó nhu cầu của đối
tượng khách hàng này lại rất lớn không chỉ trong nghiệp vụ bảo lãnh mà việc thực hiện
bảo lãnh còn giúp các ngân hàng tạo mối quan hệ tốt với khách hàng, thúc đẩy các dịch
vụ ngân hàng phát triển.
- Quy trình bảo lãnh còn phức tạp, rườm ra, qua nhiều cấp nhiều khâu, gây bất tiện
cho khách hàng khi tham gia.
Nhóm 9_ngày 2 K21 12
- Trình duyệt bảo lãnh
+ Hoàn thành thủ tục liên quan đến cấp bảo lãnh như tài sản đảm bảo, thư bảo lãnh,
hợp đồng bảo lãnh, giấy tờ liên quan.
Nhóm 9_ngày 2 K21 13
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
+ Ký phát hành thư bảo lãnh.
- Theo dõi tình hình thực hiện bảo lãnh trong suốt thời gian thư bảo lãnh có hiệu lực.
- Thu phí bảo lãnh theo quy định.
- Kiểm tra đối chiếu hàng tháng: nhập phát sinh, xuất bảo lãnh, số dư.
- Báo cáo tình hình bảo lãnh khi có vấn đề phát sinh.
- Xử lý tình huống xảy ra.
- Bảo lãnh tất toán theo hình thức thông thường (MB không phải thực hiện nghĩa vụ
bảo lãnh)
+ Tất toán bảo lãnh sau khi thu phí bảo lãnh đầy đủ.
+ Chuyển trả tiền ký quỹ vào tài khoản tiền gửi của khách hàng.
+ Chuyển trả hồ sơ tài sản đảm bảo cho khách hàng.
+ Lưu hồ sơ bảo lãnh, hồ sơ khách hàng.
- Thực hiện việc truy đòi (MB thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với Bên thụ hưởng).
+ Kiểm tra đối chiếu nghĩa vụ bảo lãnh phát sinh với các điều kiện của thư bảo lãnh
đã phát hành.
+ Lập thông báo cho khách hàng: yêu cầu chuyển tiền thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
+ Thực hiện chuyển tiền thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh.
+ Hạch toán cho vay bắt buộc.
+ Thông báo cho khách hàng: yêu cầu thanh toán nợ.
+ Theo dõi khoản vay.
+ Xử lý tài sản đảm bảo.
+ Tất toán hồ sơ bảo lãnh, tín dụng sau khi khách hàng thực hiện đầy đủ nghĩa vụ.
+ Lưu giữ hồ sơ bảo lãnh và hồ sơ tín dụng.
2.3.2 Kết quả hoạt động kinh doanh bảo lãnh của MB:
Mặc dù nghiệp vụ bảo lãnh là một nghiệp vụ ngân hàng hiện đại nhưng ngay từ những
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
Nguồn: BCTC qua các năm của MB
Nhìn vào bảng số liệu ta thấy số dư bảo lãnh liên tục tăng qua các năm. Cụ thể là:
năm 2010 tăng so với năm 2009 là 4.258 tỷ đồng tương ứng với mức tăng 72,07%; năm
2011 tăng so với năm 2010 là 2.893 tỷ đồng tương ứng với mức tăng 28,45% và năm
2012 tăng so với năm 2011 là 8.164 tỷ đồng tương ứng với mức tăng 62,51%. Như vậy,
số dư bảo lãnh của MB tăng với tốc độ khá cao, mức tăng trung bình khoảng
54,35%/năm.
Biểu đồ 1: Mức tăng trưởng số dư bảo lãnh và tổng số dư cam kết ngoại bảng tại
MB
Nguồn: BCTC qua các năm của MB
2.3.2.2 Cơ cấu về loại hình bảo lãnh:
Trong thời gian đầu khi mới thực hiện nghiệp vụ bảo lãnh, do khách hàng của MB
chủ yếu là các doanh nghiệp Quân đội nên các loại hình bảo lãnh mà ngân hàng cung cấp
chưa đa dạng, chủ yếu là bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh
thanh toán. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, MB đã chú trọng phát triển và mở rộng
dịch vụ bảo lãnh.
Bảng 2: Các loại hình bảo lãnh tại MB
Đvt: tỷ đồng
Loại bảo lãnh
Năm 2009 Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Số
tiền
Tỷ
trọng
Số
tiền
Tỷ trọng
Số
tiền
Biểu đồ 2: Tình hình thực hiện các loại bảo lãnh tại MB
Nguồn: BCTC qua các năm của MB
2.3.2.3 Thu nhập từ dịch vụ bảo lãnh:
Trong những năm gần đây, sự mở rộng về quy mô mạng lưới của các ngân hàng
thương mại tạo ra sự cạnh tranh gay gắt giữa các ngân hàng. Do vậy, để phát triển hoạt
động kinh doanh ngày càng hiệu quả, các ngân hàng đã và đang chú trọng các hoạt động
Nhóm 9_ngày 2 K21 15
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
dịch vụ bên cạnh các sản phẩm truyền thống, nâng cao nguồn thu từ các sản phẩm dịch
vụ. Cùng với các ngân hàng khác, MB đã không ngừng phát triển và hoàn thiện các sản
phẩm dịch vụ trong đó có dịch vụ bảo lãnh nhằm tăng nguồn thu từ dịch vụ này.
Bảng 3: Doanh thu từ dịch vụ bảo lãnh qua các năm
Đvt: tỷ đồng
Loại bảo lãnh
Năm 2009
Năm 2010 Năm 2011 Năm 2012
Số
tiền
Tỷ
trọng
Số
tiền
Tỷ
trọng
Số
tiền
Tỷ
trọng
Số
tiền
- Thời hạn thanh toán:
+ Bên mua đặt cọc trước 10% giá trị hợp đồng ngay sau khi ký hợp đồng.
+ Thanh toán phần còn lại trong vòng 05 ngày kể từ khi nhận đủ hàng và hóa đơn VAT
hợp lệ theo quy định của Bộ Tài chính, chậm nhất đến ngày 25/03/2013 và số tiền thanh
toán được đảm bảo bằng thư bảo lãnh của ngân hàng có giá trị đến ngày 30/03/2013.
Ngày 18/03/2013, ngân hàng phát hành thư bảo lãnh với các nội dung chính như sau:
- Số tiền bảo lãnh: 14.760.000.000 đồng – tương đương 95% giá trị hợp đồng là phần bên
mua được trả chậm.
- Thời hạn bảo lãnh: 13 ngày kể từ ngày 18/08/2013 đến hết ngày 30/03/2013
- Tỷ lệ ký quỹ: 10% giá trị thư bảo lãnh.
- Biện pháp bảo đảm: thế chấp bất động sản thuộc quyền sử dụng hợp pháp của công ty
B, giá trị định giá 20.000.000.000 đồng.
- Phí bảo lãnh: phí bảo lãnh 1,4%/năm cho phần bảo lãnh ký quỹ từ 10% đến dưới 50%
giá trị thư bảo lãnh; 1,5%/năm cho phần bảo lãnh ký quỹ <10% giá trị thư bảo lãnh; tối
Nhóm 9_ngày 2 K21 16
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
thiểu 200.000 đồng/thư bảo lãnh. Phí bảo lãnh tính từ ngày phát hành bảo lãnh hoặc từ
ngày bảo lãnh có hiệu lực, tùy theo điều kiện nào đến trước.
Theo ví dụ này thì thời gian bảo lãnh hay hiệu lực của bảo lãnh và phí bảo lãnh
được xác định như sau:
- Thời hạn bảo lãnh: 13 ngày kể từ ngày 18/08/2013 đến hết ngày 30/03/2013, được
xác định dựa vào 2 lý luận:
+ Bên bán phải giao hàng chậm nhất vào ngày 20/03/1013 và gửi hóa đơn VAT cho bên
mua chậm nhất vào ngày 25/03/2013.
+ Bên mua thanh toán 95% giá trị hợp đồng trong vòng 05 ngày kể từ khi nhận đủ hàng
và hóa đơn VAT → thời hạn thanh toán chậm nhất là ngày 30/03/2013.
- Phí bảo lãnh được tính:
(1.476.000.000 đồng x 1,4%) / 360 ngày x 14 ngày
+ (13.284.000.000 đồng x 1,5%) / 360 ngày x 14 ngày = 8.552.600 đồng
2.3.3.2 Ví dụ 2:
Nguyên nhân của tình trạng này, theo Vina Megastar, là do ngay sau khi tiền phát hành trái phiếu
chuyển về tài khoản của Vina Megastar tại SeABank đã bị SeABank cắt lại để thanh toán cho
một số khoản vay của các công ty thành viên Vina Megastar có dư nợ tại SeABank. Do đó, Vina
Megastar không được sử dụng số tiền phát hành trái phiếu này để thực hiện Dự án Hesco.
Ngày 18/10/2012, VVF đã gửi công văn tới Vina Megastar và SeABank đề nghị đảm bảo thanh
toán lãi và gốc trái phiếu Megastar. Tiếp đó, VVF đã có văn bản gửi SeABank đề nghị thanh
toán lãi và gốc trái phiếu bảo lãnh theo nội dung thư bảo lãnh ngày 24/10/2011.
Về phía seabank, ngày 7/11/2012, SeABank gửi Công văn 4398/2012/CV-BTGĐ cho VVF
khẳng định, bà Nguyễn Thị Hương Giang, nguyên Phó tổng giám đốc SeABank đã ký chứng thư
bảo lãnh cho VVF không đúng thẩm quyền, có dấu hiệu gian lận phát hành khống chứng thư bảo
lãnh…
Trong Thông cáo báo chí ngày 27/11/2012, SeABank cũng khẳng định, ngân hàng này không
chấp nhận yêu cầu thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo chứng thư bảo lãnh phát hành ngày
24/10/2011 do bà Nguyễn Thị Hương Giang ký bảo lãnh phát hành trái phiếu cho Vina
Megastar, vì chứng thư bảo lãnh này trái pháp luật.
Bình luận của nhóm về tình huống này:
- Theo tìm hiểu về quy định của SeABank, TGĐ được phê duyệt các giao dịch với mức tối đa
không quá 30 tỷ đồng, từ trên 30 tỷ thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng tín dụng và trên
70 tỷ phải được phê duyệt của HĐQT. Từ đó có thể thấy bà phó TGĐ ký chứng thư bảo lãnh 150
tỷ là vượt quyền.
Tuy nhiên, vấn đề thẩm quyền ký duyệt thuộc về vấn đề nội bộ và quy trình của Ngân hàng,
Khách hàng khi thực hiện hợp đồng, họ không hề biết các quy định nội bộ của ngân hàng là thế
nào thì làm sao để phân biệt được đúng sai? Hợp đồng đã có chữ ký của lãnh đạo gần cao nhất,
đã có dấu đỏ của ngân hàng, đã được cả một hệ thống phê duyệt thì còn phải băn khoăn gì nữa?
Nếu cứ như tình trạng này, chẳng lẽ khách hàng phải mang hồ sơ đến Hội sở để xem xét lại xem
các giao dịch đó có hợp pháp, có phù hợp với quy định nội bộ của ngân hàng hay không.
- Theo quy chế bảo lãnh của NHNN, việc ký kết bảo lãnh là giữa pháp nhân với pháp nhân nên
SeABank sẽ khó thoái thác nghĩa vụ trả nợ của mình, trừ khi chứng minh được việc phát hành
chứng thư bảo lãnh đó là phát hành khống. Ngoài ra, khách hàng không thể và không có trách
nhiệm kiểm tra người ký chứng thư bảo lãnh có đủ thẩm quyền hay không. Nếu bảo lãnh là
mua hàng, công ty Cao Trường Sơn đã có văn bản yêu cầu Agribank thực hiện đúng cam kết
trong thư bảo lãnh và trả tiền cho công ty này.
Song song với việc Agribank không chịu thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì một chi nhánh khác
của ngân hàng này lại liên tục đòi nợ công ty Cao Trường Sơn. Trước tình hình đó, Cao Trường
Sơn rơi vào tình thế không có tiền trả nợ và duy trì hoạt động, do đó, tháng 11/2011, công ty Cao
Trường Sơn đã khởi kiện Agribank ra TAND TP. Hà Nội để đòi lại số tiền hơn 50 tỷ đồng theo
hợp đồng đã ký.
Trước sự chất vấn của chủ tọa phiên tòa về vấn đề nói trên, ông Đỗ Đức Hưng, giám đốc chi
nhánh Agribank chi nhánh Hồng Hà, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan cho rằng, do việc
bảo lãnh không đúng quy trình, phía CTCP TBCNXD không có văn bản nhận nợ nên không thể
thực hiện việc thanh toán.
Về phía CTCP TBCNXD, đại diện công ty cho biết, có việc mua bán hàng và sau khi nhận
đủ hàng, công ty này đã bán hết 2.830 tấn thép nói trên. Nhưng số tiền có được từ bán hàng,
công ty này không dùng để trả cho người bán mà đem trả nợ cho chi nhánh Agribank Hồng Hà
và chi dùng cho các việc khác của công ty. CTCP TBCNXD thừa nhận, hiện công ty không có
khả năng thanh toán số tiền 50,1 tỷ đồng và mong muốn chi nhánh Agribank Hồng Hà thực hiện
nghĩa vụ bảo lãnh.
Đại diện CTCP TBCNXD cũng cho biết, đã có văn bản nhận nợ để hoàn thiện hồ sơ theo
đúng quy trình, nhưng phía Agribank vẫn không thanh toán cho CTy TNHH Cao Trường Sơn.
Đầu năm 2012, TAND TP. Hà Nội đã xét xử vụ kiện đòi thanh toán bảo lãnh giữa Công ty
TNHH Cao Trường Sơn và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (Agribank).
Theo bản án sơ thẩm, Tòa chấp nhận đơn khởi kiện của Công ty Cao Trường Sơn. Căn
cứ vào các quy định của pháp luật như Điều 361 Bộ luật dân sự, Điều 4.18 Luật các tổ chức tín
Nhóm 9_ngày 2 K21 19
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
dụng, Điều 5.2 Quy Chế bảo lãnh ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN, Điều
23.2.a quy định nghĩa vụ của bên bảo lãnh, Điều 27. 1 quy định về Thực hiện nghĩa vụ bảo
lãnh… chỉ cần bên nhận bảo lãnh là các công ty đang bị thiếu nợ thực hiện đầy đủ thủ tục để
yêu cầu thanh toán thì phía Agribank không có căn cứ từ chối thanh toán theo quy định của
pháp luật. Nếu các bên nhận bảo lãnh đã thực hiện đầy đủ thủ tục yêu cầu thanh toán mà
được can thiệp.
- Lý do vượt thẩm quyền mà Ngân hàng đưa ra theo Quyết định số 528/QĐ-HĐQTTDND
(Quyết định của chính Ngân hàng phát hành) là không có cơ sở, vì Quyết định 528 của Ngân
hàng không phải là Văn bản quy phạm pháp luật. Hơn nữa, Ngân hàng cũng chưa hiểu đúng về
Quyết định số 528/QĐ-HĐQTTDND. Cụ thể: Điều 11 khoản 4 Quyết định này quy định
"Trường hợp Sở giao dịch, Chi nhánh, Phòng giao dịch vi phạm quyền phán quyết theo các nội
Nhóm 9_ngày 2 K21 20
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
dung quy định này, HĐQT sẽ xem xét giảm 50% quyền phán quyết cho vay đã được phân cấp và
xử lý trách nhiệm cá nhân đối với trường hợp vi phạm".
Với quy định này việc vượt thẩm quyền (nếu có) cũng không làm ảnh hưởng đến hiệu lực
của Bảo lãnh. Điều này hoàn toàn phù hợp với thông lệ trong nước và quốc tế. Đơn giản là người
nhận bảo lãnh không thể hỏi được thông tin bí mật về dư nợ của Bên được bảo lãnh để áp vào
bảng phân cấp thẩm quyền của Ngân hàng.
Agribank phải chịu trách nhiệm thực hiện nghĩa vụ theo bảo lãnh thanh toán do Chi nhánh
Hồng Hà Phát hành bởi Điều 92.5 Bộ luật dân sự quy định "Pháp nhân có các quyền, nghĩa vụ
dân sự phát sinh từ giao dịch dân sự do văn phòng đại diện, chi nhánh xác lập, thực hiện”.
Căn cứ vào các quy định của pháp luật như Điều 361 Bộ luật dân sự, Điều 4.18 Luật các tổ
chức tín dụng, Điều 5.2 Quy Chế bảo lãnh ban hành kèm theo Quyết định số 26/2006/QĐ-
NHNN, Điều 23.2.a quy định nghĩa vụ của bên bảo lãnh, Điều 27. 1 quy định về Thực hiện nghĩa
vụ bảo lãnh… chỉ cần bên nhận bảo lãnh là các công ty đang bị thiếu nợ thực hiện đầy đủ thủ tục
để yêu cầu thanh toán thì phía Agribank không có căn cứ từ chối thanh toán theo quy định của
pháp luật. Nếu các bên nhận bảo lãnh đã thực hiện đầy đủ thủ tục yêu cầu thanh toán mà
Agribank vẫn không thanh toán bảo lãnh thì nghiễm nhiên, ngân hàng này đã vi phạm cam kết
bảo lãnh, vi phạm quy định về thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Vi phạm này sẽ phát sinh trách
nhiệm dân sự về lãi chậm trả.
Tóm lại, qua các tình huống trên cho thấy ngày càng nhiều vụ việc ngân hàng từ chối thanh toán
bảo lãnh với các lý do như: bảo lãnh phát hành sai quy trình, có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình
sự, bên nhận bảo lãnh không chứng minh được vi phạm Điều này khiến doanh nghiệp dần mất
niềm tin với bảo lãnh ngân hàng, làm ảnh hưởng đến nghiệp vụ cấp bảo lãnh của toàn bộ hệ
giấy tờ để công chứng thì đến nay vẫn chưa có các mẫu hợp đồng về cầm cố thế
chấp bảo lãnh. Trong khi đó theo hướng dẫn của ngân hàng thì phòng công chứng không
xác nhận. Ngoài ra lệ phí công chứng là 0,2% số tiền công chứng là quá cao
(trong thực tế có thể số tiền bảo lãnh còn ít hơn số tiền công chứng làm doanh nghiệp
phải thiệt thòi). Do vậy bộ Tư pháp chỉ nên quy định mức lệ phí công chứng hợp lý, có
Nhóm 9_ngày 2 K21 22
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương
thể là mức lệ phí luỹ thoái theo số tiền công chứng và ban hành mẫu giấy tờ công
chứng. Điều này sẽ giảm phiền toái cho doanh nghiệp và thuận tiện cho ngân hàng
phát triển nghiệp vụ bảo lãnh .
-Về thế chấp tài sản :
+ Nên quy định cụ thể các cơ quan đăng ký thế chấp là cơ quan nào, bao gồm
những thủ tục gì Trước trong các văn bản chỉ có quy định chung chung làdăng ký với
cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
+ Quy định cụ thể đối tượng nào thì qua công chứng, đối tượng nào được chứng thực tại
UBND địa phương để giảm bớt chi phí cho khách hàng.
+ Nâng cao vai trò, trách nhiệm của cơ quan đăng ký thế chấp .Quản lý được việc đăng
ký thế chấp sẽ tránh được hiện tượng một tài sản đem thế chấp ở nhiều ngân hàng.
+ Trong việc xử lý tài sản thế chấp: nên quy định bên nhận thế chấp, cầm cố có quyền
phát mại tài sản khi bên thế chấp có thái độ có ý không trả nợ hoặc không trả được do
nguyên nhân bất khả kháng.
+ Triển khai thực hiện nghị định 86CP của Chính phủ về việc thành lập các trung tâm
đấu giá để giải quyết các tài sản thế chấp tồn đọng trong ngân hàng . Nếu giải
quyết nhanh gọn vấn đề tài sản thế chấp và công chứng tài sản sẽ là một tháo gỡ cho cả
khách hàng và ngân hàng trong phát triển nghiệp vụ bảo lãnh .
Trong quy chế về bảo lãnh ban kèm quy định 196 của NHNN và công văn 39 của
Ngân hàng Đầu tư và Phát triển trung ương còn nhiều điểm bất hợp lý như đã phân tích ở
phần trên. Các quy định này đã lỗi thời và không phù hợp với Bộ luật Dân sự và Luật các
tổ chức tín dụng.
Do vậy các cơ quan Nhà nước cần sớm xem xét ban hành văn bản thay thế quy chế trên
Hoạt động bảo lãnh là một hoạt động có rất nhiều rủi ro: như rủi ro chứng từ giả, rủi
ro về giá khách hàng không có khả năng thanh toán, rủi ro lãi suất, rủi ro ngoại hối. Vì
vậy các ngân hàng cần phải tổ chức kiểm tra lại tất cả các món bảo lãnh hiện hành, hoản
chỉnh lại hồ sơ, đánh giá tiến độ thực hiện hợp đồng, quản lý chặt chẽ quá trình thực hiện
hợp đồng, nắm bắt được tình hình hoạt động của doanh nghiệp. Để hạn chế tối đa những
rủi ro dẫn đến ngân hàng phải thanh toán thay cho doanh nghiệp trong khi doanh nợ của
doanh nghiệp ngày một nhiều và khả năng hoàn trả lại khó khăn.
Bên cạnh việc kiểm tra kiểm soát khách hàng thì còn cần phải kiểm tra, kiểm soát nội
bộ về việc thực hiện đúng quy trình bảo lãnh và có trách nhiệm rõ ràng đối với từng bộ
phận và cá nhân.
Nhóm 9_ngày 2 K21 24