Nghiệp vụ bao thanh toán và triển vọng áp dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam - Pdf 31

PHẦN MỞ ĐẦU
*****
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Hoạt động bao thanh toán là một trong những hình thức tài trợ thương
mại lâu đời nhất trên thế giới. Với một bề dày lịch sử phát triển hàng trăm
năm, bao thanh toán đang là một phương thức không thể thiếu trong hoạt
động thương mại trong nước và đóng vai trò quan trọng thúc đẩy hoạt động
thương mại quốc tế phát triển. Khi thế đàm phán trong thương mại nghiêng
về phía người mua; người bán buộc phải nhượng bộ. Việc người bán cấp tín
dụng cho người mua trở thành một trong những điều khoản bắt buộc trong
nhiều thoả ước kinh tế. Trên thực tế, người bán lại rất cần vốn để tiếp tục
sản xuất, kinh doanh, đặc biệt đối với người bán là các doanh nghiệp vừa và
nhỏ. Phương thức bao thanh toán ra đời đáp ứng phần nào nhu cầu về vốn
của doanh nghiệp, đồng thời đem lại nguồn thu không nhỏ cho các công ty
bao thanh toán. Như vậy, bao thanh toán thực chất là việc tổ chức tín dụng
hay công ty bao thanh toán đứng ra tạm ứng cho người bán để người bán
tiếp tục quá trình sản xuất kinh doanh thông qua việc mua lại và quản lý
những khoản phải thu của người bán. Bao thanh toán đến với Việt Nam hơi
muộn nhưng bao thanh toán đang là một kênh cấp tín dụng được các ngân
hàng thương mại và các tổ chức tín dụng hết sức quan tâm.
Việt Nam đang trên con đường chính thức trở thành thành viên của
Tổ chức thương mại thế giới (WTO). Điều này đặt các ngân hàng thương
mại Việt Nam đứng trước những thách thức lớn; đó là bị “thua thiệt ngay
trên sân nhà” nếu không có những bước đột phá trong cung cấp dịch vụ
ngân hàng mới như bao thanh toán hay bảo hiểm tín dụng…. Có thể thấy,
đa dạng hoá các loại hình dịch vụ, giữ được vị thế cạnh tranh khi mà các
ngân hàng nước ngoài trong tương lai sẽ tham gia vào thị trường tài chính
1
Việt Nam với quy mô ngày càng rộng và sâu đang trở thành một vấn đề
“sống còn”. Việc phát triển loại hình tài trợ thương mại trong đó có dịch vụ
bao thanh toán là hoàn toàn phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, đề tài được kết
cấu làm ba chương, cụ thể như sau:
Chương I: Tổng quan về nghiệp vụ bao thanh toán (factoring) của các tổ
chức tín dụng
Chương II: Thực trạng và triển vọng của nghiệp vụ bao thanh toán tại các
Ngân hàng thương mại Việt Nam
Chương III: Một số giải pháp nhằm phát triển nghiệp vụ bao thanh toán tại
các Ngân hàng thương mại Việt Nam
3
CHƯƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN (FACTORING)
CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Ngày nay khi tốc độ lưu thông tiền tệ đang được thúc đẩy, nhu cầu về
vốn đối với hầu hết các doanh nghiệp đang trở thành một vấn đề khó khăn
đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do việc tiếp cận với nguồn
vốn cho vay từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác không đơn giản. Với
nhiều quốc gia trên thế giới bao thanh toán thực sự là một phương thức tài
trợ thương mại đem lại nguồn lợi to lớn không chỉ cho các nhà bao thanh
toán mà còn đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động
này với các tính năng ưu việt của nó. Do đó, việc nắm vững cơ sở lý luận về
bao thanh toán là cần thiết, để từ đó có cái nhìn khách quan hơn trong quá
trình tiếp cận và ứng dụng tốt vào thực tiễn loại hình nghiệp vụ này.
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN
1.1.1. Sơ lược lịch sử hình thành và phát triển của bao thanh toán
1.1.1.1. Lịch sử ra đời của bao thanh toán
Hoạt động bao thanh toán là một trong những hình thức tài trợ lâu đời
nhất trên thế giới với một bề dầy lịch sử phát triển hàng trăm năm. Một số
học giả cho rằng bao thanh toán có từ thời đế chế La Mã. Một số nhà học
giả lại cho rằng bao thanh toán có từ cách đây chừng bốn nghìn năm từ thời
vua Hammurabi. Hammurabi là vị vua của vùng Mesopotamia, nơi được coi

trường hợp người mua không trả nợ đúng hạn và khả năng tài chính của họ
không cho phép họ có sẵn nguồn để thanh toán.
5
Trước đó không lâu, xuất hiện hình thức bảo lãnh tín dụng, đại lý
thanh toán có đủ vốn bắt đầu trả trước một phần, gọi là “tạm ứng” cho đại
lý cấp dưới của mình dựa trên khoản thanh toán trong tương lai của người
mua hoặc của đại lý bao thanh toán, nếu người mua không trả tiền và nếu
nó bảo lãnh khoản tín dụng đó với người mua. Do có những khoản tạm ứng
này mà đại lý bao thanh toán tính thêm phí hoa hồng hoặc lãi suất. Thông
thường, để tránh khỏi tình trạng không thanh toán hoặc là thanh toán không
đủ do những vấn đề không thuộc lĩnh vực tín dụng; ví dụ như người mua
khiếu nại người bán về số lượng, chất lượng hoặc thời gian giao hàng, đại
lý bao thanh toán không tạm ứng toàn bộ số tiền doanh thu bán hàng. Thay
vào đó họ giữ lại một phần để dự trữ phải trả cho người bán cho tới khi họ
đã thu hồi được tất cả các khoản nợ. Người mua được thông báo là đại lý
bao thanh toán đã mua quyền nhận tiền thanh toán của họ.
1.1.1.2. Sự phát triển của nghiệp vụ bao thanh toán trên thế giới
Vào thời điểm Columbus phát hiện ra châu Mỹ năm 1492, đại lý bao
thanh toán đã phát triển từ vai trò duy nhất là với chức năng marketing
thành đóng vai trò vừa có chức năng marketing vừa có chức năng tài chính.
Thế kỷ 16 chứng kiến sự bắt đầu của chế độ thực dân của Mỹ, và cùng
với nó vai trò ngày càng tăng và nhiều cơ hội mới cho bao thanh toán - đặc
biệt là đối với những người thiết lập hoạt động kinh doanh ở Mỹ. Khoảng
cách giữa châu Âu và thị trường thực dân rất lớn và càng lớn hơn khi Mỹ
mở rộng biên giới phía Tây của nó. Khoảng cách lớn này làm cho những
nhà sản xuất châu Âu khó quen với thị trường châu Mỹ và làm giảm sự tin
cậy về tín dụng đối với những khách hàng đầy tiềm năng này. Và điều này
làm cho vòng tuần hoàn từ khi bắt đầu sản xuất cho đến khi nhận được
khoản tiền thanh toán cuối cùng cũng dài hơn. Kết hợp những yếu tố trên
đây có thể thấy người sản xuất phải trải qua rất nhiều khó khăn để thu hồi

hình thức bao thanh toán mua lại các khoản phải thu dựa trên cơ sở hoá đơn
và từ đó trở đi bao thanh toán đã khẳng định được chỗ đứng của mình trong
hoạt động của giới doanh nhân.
Ngày nay các đơn vị bao thanh toán tồn tại dưới đủ mọi hình thức: một
phòng ban của một tổ chức tài chính lớn hay ở quy mô lớn hơn như một
doanh nghiệp kinh doanh độc lập. Rất nhiều đơn vị bao thanh toán đã hoạt
động thực sự có những bước tiến mạnh mẽ khi mức lãi suất tăng cao đỉnh
điểm vào những năm 60, 70. Xu hướng này càng diễn biến trở nên sâu sắc
hơn khi vào những năm 80, lãi suất ngày càng gia tăng và ngành ngân hàng
đã có những biến động mạnh. Từ đó việc hình thành một Hiệp hội thế giới
về bao thanh toán trở thành một vấn đề cấp thiết.
Đầu những năm 1960, tổ chức các nhà bao thanh toán quốc tế ra đời
(gọi tắt là IFG: International Factor Group) ra đời với gần 70 thành viên có
mặt ở 47 quốc gia. Với mục tiêu để giúp các nhà bao thanh toán thuận lợi
trong quá trình hợp tác với nhau, IFG là tổ chức sáng lập ra hệ thống bao
thanh toán hai đơn vị (two-factor system), một hệ thống dịch vụ bao thanh
toán quốc tế.
Một tổ chức khác mạnh và có tầm ảnh hưởng lớn đó là Hiệp hội các
nhà bao thanh toán thế giới - Factors Chain International (gọi tắt là FCI).
Năm 1968, FCI ra đời với vai trò là một hiệp hội đứng ra tập hợp các công
ty bao thanh toán độc lập lại với nhau. Ngay từ những ngày đầu thành lập
các thành viên sáng lập ra FCI luôn nhận thức được tiềm năng của bao
thanh toán, do đó họ luôn đặt sứ mệnh của FCI lên trên hết đó là:
• Đưa bao thanh toán trở thành một dịch vụ mang tính toàn cầu
• Giúp các thành viên trong Hiệp hội của mình giành được lợi thế cạnh
tranh trong tài trợ thương mại toàn cầu thông qua việc
8
 Thiết lập một mạng lưới các nhà bao thanh toán hàng đầu thế giới
 Xây dựng một hệ thống mạng lưới thông tin hiện đại và hiệu quả
để kết nối các nhà bao thanh toán lại với nhau

Biểu đồ 1.2: Thị phần về doanh số bao thanh toán của FCI so với toàn cầu
(Nguồn: Factors Chain International, 2006)
(đơn vị: triệu euro)
Biểu đồ 1.3: Doanh số bao thanh toán xuất nhập khẩu của FCI
(Nguồn: Factors Chain International,2006)
Biểu đồ 1.4: Thị phần về doanh số bao thanh toán xuất nhập khẩu của FCI so với
toàn cầu
(Nguồn: Factors Chain International,2006)
Qua bảng số liệu, có thể thấy sự phát triển không ngừng về doanh số
bao thanh toán đang minh chứng cho hoạt động sôi động và chiếm ưu thế
10
1984
1989
1994
1999
2004
2005
51.672
43.565
19.405
9.875
5.384
1.384
1984 32%
1989 47%
1994 49%
1999 49% 2004 64% 2005 68%
của FCI trong thị trường bao thanh toán trên toàn thế giới. Ngoài ra, với đội
ngũ khách hàng lên tới con số 134.800, 4.962.638 người mua và
102.105.720 giao dịch bao thanh toán đã diễn ra tính đến thời điểm quý

tiến hành các việc như: cơ cấu lại khoản vay, cơ cấu lại hoặc tiếp quản con
nợ và các nghiệp vụ xử lý nợ khó đòi khác. Nói cách khác, bao thanh toán
không phải là dịch vụ cung cấp cho khách hàng khi các khoản phải thu của
họ là các khoản nợ khó đòi hoặc bản thân họ không thu được nợ của những
người mua hàng.
1.1.2.3. Bao thanh toán là nghiệp vụ mang tính “chiết khấu hối phiếu”
Về hình thức, bao thanh toán và nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu giống
nhau ở chỗ đều cho phép khách hàng nhận ngay được một khoản tiền khi
xuất trình hoá đơn hay hối phiếu. Tuy nhiên có điểm khác biệt là hối phiếu
trong nghiệp vụ chiết khấu được “tài sản hoá” để chuyển nhượng còn hoá
đơn trong bao thanh toán là phương tiện để thu hồi nợ. Nghiệp vụ chiết khấu
hối phiếu tập trung nhiều vào mục đích “tài chính” hơn so với bao thanh
toán
1.2.2.4. Một số quan niệm chưa đúng khác
Bao thanh toán chỉ sử dụng khi có khó khăn về mặt tài chính cho nên
khách hàng cảm thấy “mất uy tín” khi thông báo cho người mua hàng biết
về những khoản phải thu đó được bao thanh toán. Khách hàng sử dụng dịch
vụ bao thanh toán vì những lợi ích của nó đem lại phù hợp với lợi ích khách
hàng, đó không phải là hoạt động cứu trợ khi khách hàng gặp khó khăn về
tiền mặt, vốn lưu động. Do vậy sẽ không đúng khi cho rằng khách hàng
12
tham gia vào bao thanh toán đang gặp khó khăn và khách hàng mất uy tín
khi tham gia vào bao thanh toán.
Công ty bao thanh toán có vai trò như “người cho vay cuối cùng” và
đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Không phải khách hàng chỉ lựa chọn
phương thức bao thanh toán khi họ không thể tiếp cận được với nguồn vốn
vay ngân hàng. Bao thanh toán cho phép chuyển các khoản phải thu thành
tiền mặt một cách nhanh chóng tuy nhiên đây không phải là phương tiện để
xử lý các khó khăn về vấn đề thanh khoản. Khách hàng quyết định sử dụng
dịch vụ bao thanh toán khi mà mức chi phí bao thanh toán nhỏ hơn lợi ích mà

khách hàng trước rủi ro tín dụng.
Đã có nhiều định nghĩa khác nhau mô tả về nghiệp vụ bao thanh toán
qua lịch sử phát triển của nghiệp vụ này. Những định nghĩa này khác nhau
khá nhiều phụ thuộc vào thời gian và hoàn cảnh. “Định nghĩa thuần tuý”
nhất của Mỹ được định nghĩa như sau “Bao thanh toán là một thoả thuận
tiếp theo giữa bên liên quan đến bao thanh toán và người bán hàng hoặc là
người cung cấp dịch vụ về mở một tài khoản, chiểu theo đó bên bao thanh
toán tiến hành (tất cả) những dịch vụ sau liên quan đến khoản phải thu phát
sinh từ việc bán hàng hoá và dịch vụ nói trên:
(1) Mua lại tất cả những khoản phải thu và nếu cần thiết thì ứng trước
tiền mặt dựa trên các khoản phải thu này trước khi thu nợ
(2) Duy trì ghi sổ cái và thực hiện các nhiệm vụ ghi sổ sách khác liên
quan đến khoản phải thu này.
(3) Thu nợ các khoản phải thu
(4) Dự tính các tổn thất có thể xảy ra khi tình hình tài chính của khách
hàng không trả được nợ (tổn thất tín dụng)”
14
1.1.3.2. Khái niệm theo Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức
tín dụng Việt Nam
Nhận thức được tầm quan trọng của nghiệp vụ bao thanh toán cho các
bên tham gia trong hoạt động bao thanh toán trong nước và bao thanh toán
quốc tế trong hoạt động thương mại khu vực và quốc tế, sau nhiều lần dự
thảo, ngày 06/09/2004, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã chính
thức đưa ra Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban
hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ/NHNN.
Trong Quy chế, điều 2 quy định rõ khái niệm bao thanh toán: Bao
thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của Tổ chức tín dụng cho bên bán
hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán
hàng hoá đã được bên bán hàng và bên mua hàng thoả thuận trong hợp đồng
mua, bán hàng.

Hợp đồng mua, bán hàng: là thoả thuận bằng văn bản giữa bên bán hàng
và bên mua hàng về việc mua, bán hàng hoá theo quy định của pháp luật, trong
đó bên mua hàng chưa đến hạn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Số dư bao thanh toán: là số tiền mà đơn vị bao thanh toán ứng trước
cho bên bán hàng theo thoả thuận tại hợp đồng bao thanh toán.
Hạn mức bao thanh toán: là tổng số dư tối đa của các khoản phải thu
được bao thanh toán trong một khoảng thời gian nhất định theo thoả thuận
của đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng trong hợp đồng bao thanh toán.
Bên mua hàng: là tổ chức được nhận hàng hoá từ bên bán hàng và có nghĩa
vụ thanh toán các khoản phải thu quy định tại hợp đồng mua, bán hàng.
16
Chứng từ bán hàng: là các chứng từ liên quan đến việc giao hàng và việc
yêu cầu thanh toán của bên bán hàng đối với bên mua hàng trên cơ sở hợp
đồng mua, bán hàng.
Tại khoản 2, điều I của Quy chế này cũng quy định rõ tổ chức tín dụng
thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán là các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt
động theo Luật các Tổ chức tín dụng, gồm:
[1]
- Ngân hàng thương mại nhà nước;
- Ngân hàng thương mại cổ phần;
- Ngân hàng liên doanh;
- Ngân hàng 100% vốn nước ngoài;
- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
- Công ty tài chính.
Khách hàng được tổ chức tín dụng bao thanh toán là các tổ chức kinh
tế Việt Nam và nước ngoài cung ứng hàng hoá và được thụ hưởng các
khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán hàng hoá theo thoả thuận giữa
bên bán hàng và bên mua hàng tại hợp đồng mua, bán hàng.
Như vậy không phải trong trường hợp nào, bao thanh toán cũng được
áp dụng. Theo Quy chế hoạt động bao thanh toán, một số khoản phải thu

tính chất tín dụng với các bên tham gia vào bao thanh toán.
Tính chất nhờ thu
Tính chất nhờ thu của bao thanh toán giúp các doanh nghiệp xuất khẩu
làm giảm chi phí quản lý nợ và giảm nợ xấu. Bởi lẽ, khi khách hàng sử
dụng dịch vụ bao thanh toán họ sẽ không còn phải lo nghĩ nhiều đến việc
quản lý các khoản nợ chưa được thanh toán của mình nữa. Công ty bao
thanh toán sẽ đảm nhiệm công việc đó, họ sẽ tiến hành kiểm tra tín dụng,
18
duy trì các khoản phải thu, phải trả và các công việc khác. Hơn nữa, các
công ty bao thanh toán thông thường được trang bị đầy đủ kiến thức và kinh
nghiệm trong việc thu hồi các khoản nợ xấu vì cấp tín dụng và thu nợ là
công việc chính của công ty này. Vì vậy, trong trường hợp bên nợ không
thanh toán hoặc chậm trễ trong việc thanh toán, họ sẽ có nhiều biện pháp
thu hồi nợ một cách hiệu quả nhất.
Như vậy, bao thanh toán là một nghiệp vụ tài chính khá đặc biệt, vừa
mang tính “tín dụng” vừa mang tính “nhờ thu”.
1.2. CÁC HÌNH THỨC CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN
Cũng giống như một số phương thức tài trợ thương mại khác, bao
thanh toán cũng được cung cấp dưói nhiều hình thức đa dạng khác nhau phù
hợp với từng nhu cầu cụ thể của khách hàng
[14]
1.2.1. Theo loại hình dịch vụ
1.2.1.1. Bao thanh toán đến hạn (Maturity Factoring)
Công ty bao thanh toán mua các khoản phải thu của khách hàng và
thực hiện thanh toán đầy đủ giá trị của khoản phải thu sau khi trừ đi phí bao
thanh toán tại thời điểm thu được nợ từ người mua hàng hoặc vào thời điểm
thỏa thuận trước hoặc sau ngày trả nợ ghi trên hoá đơn bán hàng, tùy theo
thời điểm nào sớm hơn. Thông thường bao thanh toán đến hạn là hình thức
bao thanh toán miễn truy đòi. Khách hàng sử dụng hình thức này thường là
các công ty có quy mô trung bình và lớn, muốn chuyển rủi ro tín dụng và

thanh toán nhập khẩu chịu trách nhiệm thu nợ từ nhà nhập khẩu và trả cho
công ty bao thanh toán xuất khẩu. Như vậy, rủi ro không trả được nợ của nhà
nhập khẩu do công ty bao thanh toán nhập khẩu chịu. Trong nghiệp vụ bao
20
thanh toán này thì các công ty bao thanh toán đều không chịu rủi ro về ngoại
hối.
Tương tự như bao thanh toán xuất khẩu nhưng bao thanh toán nhập
khẩu được tiến hành ngược lại. Cụ thể, công ty bao thanh toán nhập khẩu
đảm bảo việc thanh toán của nhà nhập khẩu (ở nước ngoài). Vì vậy thông
qua thoả thuận bao thanh toán, nhà nhập khẩu có thể được nhập hàng ngay
và liên tục từ các nhà xuất khẩu thông qua tài khoản mở.
Cũng theo Theo khoản 2 điều 4 chương I của Quy chế hoạt động bao
thanh toán của các Tổ chức tín dụng tại Việt Nam quy định: Bao thanh toán
xuất - nhập khẩu là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng xuất - nhập khẩu.
Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu là đơn vị thực hiện bao thanh toán cho bên
bán hàng là bên xuất khẩu trong hợp đồng xuất - nhập khẩu. Đơn vị bao
thanh toán nhập khẩu là đơn vị được phép hoạt động bao thanh toán tham
gia vào quy trình bao thanh toán xuất - nhập khẩu.
Thông thường, phương thức phân chia bao thanh toán theo địa lý rất
phổ biến ở hầu hết các quốc gia thực hiện bao thanh toán. Ban đầu, công ty
hay đơn vị bao thanh toán có thể áp dụng bao thanh toán nội địa, sau đó mới
phát triển sang phương thức bao thanh toán xuất nhập khẩu.
21
1.2.3. Theo tính chất bảo vệ khách hàng trước rủi ro tín dụng
1.2.3.1. Bao thanh toán truy đòi (Recourse Factoring)
Là nghiệp vụ bao thanh toán mà công ty bao thanh toán chịu trách
nhiệm thu nợ từ người mua hàng nhưng công ty bao thanh toán vẫn giữ
quyền truy đòi đối với khách hàng trong trường hợp người mua hàng không
có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán các khoản phải thu.
Gần đây, ở những nền kinh tế mới nổi, xuất hiện một hình thức bao

toán và không thông báo để người mua hàng vẫn phải trả nợ trực tiếp cho
công ty bao thanh toán. Khi đó các khách hàng trực tiếp thực hiện việc thu
nợ từ người mua hàng và trả cho công ty bao thanh toán. Đối tượng của
hình thức này chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, có bộ phận thu nợ riêng và
họ chỉ sử dụng bao thanh toán như một nguồn tài trợ cho mình.
1.2.4.2. Bao thanh toán thông báo (Notified Factoring)
Người mua hàng tham gia vào loại hình bao thanh toán này đã được
công ty bao thanh toán mua và yêu cầu trả nợ trực tiếp cho công ty bao
thanh toán. So với hình thức bao thanh toán không thông báo, bao thanh
toán thông báo phổ biến hơn.
1.3. QUY TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN
Nghiệp vụ bao thanh toán được hoạt động theo quy trình chặt chẽ.
Theo quy trình nghiệp vụ bao thanh toán chung, người ta thường chia ra các
quy trình theo số đơn vị bao thanh toán tham gia vào đó:
[22]
1.3.1. Hệ thống một đơn vị của bao thanh toán
23
Hệ thống một đơn vị của bao thanh toán gồm có ba bên bao gồm: một
đơn vị bao thanh toán, người bán và người mua, quá trình giao dịch sẽ được
thể hiện chi tiết qua sơ đồ sau:
[13]
24
Sơ đồ 1.1: Hệ thống một đơn vị của bao thanh toán (hay Sơ đồ bao thanh toán nội địa)
Bước 1: Người bán và người mua ký kết hợp đồng mua bán hai bên.
Người bán ở đây đóng vai trò là khách hàng của công ty bao thanh toán.
Còn người mua trở thành con nợ.
Bước 2: Khách hàng đề nghị công ty bao thanh toán cấp cho người
mua hàng của họ một hạn mức tín dụng (credit line).
Bước 3: Công ty Bao thanh toán tiến hành thẩm định tín dụng người
mua. Trong trường hợp này công ty bao thanh toán có thể từ chối việc cấp


n
g
7
.

C
h
u
y

n

n
h
ư

n
g

h
o
á

đ
ơ
n

B
T


đ

n
g

B
T
T
8
.

T
h
a
n
h

t
o
á
n

t
r
ư

c
1
1

đ

n
h

t
í
n

d

n
g
9
.

T
h
u

n


k
h
i

đ
ế
n


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status