BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
NGUYỄN THỊ MINH NGỌC NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN FACTORING)
VÀ TRIỂN VỌNG ÁP DỤNG TẠI CÁC NGÂN
HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
Chuyên ngành : KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ QUAN HỆ KINH TẾ QUỐC TẾ
LUẬN VĂN THẠC SỸ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS. TS. VŨ SỸ TUẤN
ngân hàng mới như bao thanh toán hay bảo hiểm tín dụng…. Có thể thấy, đa
dạng hoá các loại hình dịch vụ, giữ được vị thế cạnh tranh khi mà các ngân
hàng nước ngoài trong tương lai sẽ tham gia vào thị trường tài chính Việt 2
Nam với quy mô ngày càng rộng và sâu đang trở thành một vấn đề “sống
còn”. Việc phát triển loại hình tài trợ thương mại trong đó có dịch vụ bao
thanh toán là hoàn toàn phù hợp với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế. Do
đó, đề tài nghiên cứu về “Nghiệp vụ bao thanh toán và triển vọng áp dụng
tại các ngân hàng thương mại Việt Nam”, theo tác giả, mang giá trị thực tiễn
cao.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu về nghiệp vụ bao thanh toán, hệ thống hoá những lý luận
về nghiệp vụ bao thanh toán tại các tổ chức tín dụng; trên cơ sở đó đánh giá
về thực trạng và triển vọng áp dụng tại các ngân hàng thương mại Việt Nam.
- Đề xuất một số giải pháp hạn chế rủi ro đối với các ngân hàng thương
mại Việt Nam khi triển khai bao thanh toán
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu:
- Nghiệp vụ bao thanh toán của các tổ chức tài chính trên thế giới và đi
sâu vào nghiệp vụ này ở một số chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt
Nam như chi nhánh Ngân hàng Far East National Bank (FENB-Mỹ), Ngân
hàng Citibank;
- Nghiên cứu về những cơ hội và thách thức của các Ngân hàng thương
mại Việt Nam khi áp dụng dịch vụ này.
4. Phƣơng pháp nghiên cứu:
+ Phân tích + So sánh
+ Thống kê + Điều tra chọn mẫu
+ Tổng hợp + Các bảng số liệu
5. Những đóng góp khoa học của luận văn: 4
CHƢƠNG I:
TỔNG QUAN VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN (FACTORING)
CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG
Ngày nay khi tốc độ lưu thông tiền tệ đang được thúc đẩy, nhu cầu về
vốn đối với hầu hết các doanh nghiệp đang trở thành một vấn đề khó khăn
đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp do việc tiếp cận với nguồn
vốn cho vay từ ngân hàng và các tổ chức tín dụng khác không đơn giản. Với
nhiều quốc gia trên thế giới bao thanh toán thực sự là một phương thức tài
trợ thương mại đem lại nguồn lợi to lớn không chỉ cho các nhà bao thanh
toán mà còn đem lại lợi ích cho các doanh nghiệp tham gia vào hoạt động
này với các tính năng ưu việt của nó. Do đó, việc nắm vững cơ sở lý luận về
bao thanh toán là cần thiết, để từ đó có cái nhìn khách quan hơn trong quá
trình tiếp cận và ứng dụng tốt vào thực tiễn loại hình nghiệp vụ này.
1.1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN
1.1.1. Sơ lƣợc lịch sử hình thành và phát triển của bao thanh toán
1.1.1.1. Lịch sử ra đời của bao thanh toán
Hoạt động bao thanh toán là một trong những hình thức tài trợ lâu đời
nhất trên thế giới với một bề dầy lịch sử phát triển hàng trăm năm. Một số
học giả cho rằng bao thanh toán có từ thời đế chế La Mã. Một số nhà học giả
lại cho rằng bao thanh toán có từ cách đây chừng bốn nghìn năm từ thời vua
Hammurabi. Hammurabi là vị vua của vùng Mesopotamia, nơi được coi là
cội nguồn phát triển việc cho vay. Khái niệm factor xuất phát từ động từ
trong tiếng Latin facio, có nghĩa là “he who does thing” (tạm dịch là “người
kinh doanh buôn bán hưởng hoa hồng”). Động từ tiếng Latin trên gợi ý rằng
Trước đó không lâu, xuất hiện hình thức bảo lãnh tín dụng, đại lý thanh
toán có đủ vốn bắt đầu trả trước một phần, gọi là “tạm ứng” cho đại lý cấp 6
dưới của mình dựa trên khoản thanh toán trong tương lai của người mua
hoặc của đại lý bao thanh toán, nếu người mua không trả tiền và nếu nó bảo
lãnh khoản tín dụng đó với người mua. Do có những khoản tạm ứng này mà
đại lý bao thanh toán tính thêm phí hoa hồng hoặc lãi suất. Thông thường,
để tránh khỏi tình trạng không thanh toán hoặc là thanh toán không đủ do
những vấn đề không thuộc lĩnh vực tín dụng; ví dụ như người mua khiếu
nại người bán về số lượng, chất lượng hoặc thời gian giao hàng, đại lý bao
thanh toán không tạm ứng toàn bộ số tiền doanh thu bán hàng. Thay vào đó
họ giữ lại một phần để dự trữ phải trả cho người bán cho tới khi họ đã thu
hồi được tất cả các khoản nợ. Người mua được thông báo là đại lý bao
thanh toán đã mua quyền nhận tiền thanh toán của họ.
1.1.1.2. Sự phát triển của nghiệp vụ bao thanh toán trên thế giới
Vào thời điểm Columbus phát hiện ra châu Mỹ năm 1492, đại lý bao
thanh toán đã phát triển từ vai trò duy nhất là với chức năng marketing
thành đóng vai trò vừa có chức năng marketing vừa có chức năng tài chính.
Thế kỷ 16 chứng kiến sự bắt đầu của chế độ thực dân của Mỹ, và cùng
với nó vai trò ngày càng tăng và nhiều cơ hội mới cho bao thanh toán - đặc
biệt là đối với những người thiết lập hoạt động kinh doanh ở Mỹ. Khoảng
cách giữa châu Âu và thị trường thực dân rất lớn và càng lớn hơn khi Mỹ
mở rộng biên giới phía Tây của nó. Khoảng cách lớn này làm cho những
nhà sản xuất châu Âu khó quen với thị trường châu Mỹ và làm giảm sự tin
cậy về tín dụng đối với những khách hàng đầy tiềm năng này. Và điều này
làm cho vòng tuần hoàn từ khi bắt đầu sản xuất cho đến khi nhận được
khoản tiền thanh toán cuối cùng cũng dài hơn. Kết hợp những yếu tố trên
đây có thể thấy người sản xuất phải trải qua rất nhiều khó khăn để thu hồi
triển như điện, hoá chất, sợi tổng hợp… công ty bao thanh toán đưa ra hình
thức bao thanh toán mua lại các khoản phải thu dựa trên cơ sở hoá đơn và từ 8
đó trở đi bao thanh toán đã khẳng định được chỗ đứng của mình trong hoạt
động của giới doanh nhân.
Ngày nay các đơn vị bao thanh toán tồn tại dưới đủ mọi hình thức: một
phòng ban của một tổ chức tài chính lớn hay ở quy mô lớn hơn như một
doanh nghiệp kinh doanh độc lập. Rất nhiều đơn vị bao thanh toán đã hoạt
động thực sự có những bước tiến mạnh mẽ khi mức lãi suất tăng cao đỉnh
điểm vào những năm 60, 70. Xu hướng này càng diễn biến trở nên sâu sắc
hơn khi vào những năm 80, lãi suất ngày càng gia tăng và ngành ngân hàng
đã có những biến động mạnh. Từ đó việc hình thành một Hiệp hội thế giới
về bao thanh toán trở thành một vấn đề cấp thiết.
Đầu những năm 1960, tổ chức các nhà bao thanh toán quốc tế ra đời
(gọi tắt là IFG: International Factor Group) ra đời với gần 70 thành viên có
mặt ở 47 quốc gia. Với mục tiêu để giúp các nhà bao thanh toán thuận lợi
trong quá trình hợp tác với nhau, IFG là tổ chức sáng lập ra hệ thống bao
thanh toán hai đơn vị (two-factor system), một hệ thống dịch vụ bao thanh
toán quốc tế.
Một tổ chức khác mạnh và có tầm ảnh hưởng lớn đó là Hiệp hội các
nhà bao thanh toán thế giới - Factors Chain International (gọi tắt là FCI).
Năm 1968, FCI ra đời với vai trò là một hiệp hội đứng ra tập hợp các công
ty bao thanh toán độc lập lại với nhau. Ngay từ những ngày đầu thành lập
các thành viên sáng lập ra FCI luôn nhận thức được tiềm năng của bao thanh
toán, do đó họ luôn đặt sứ mệnh của FCI lên trên hết đó là:
Đưa bao thanh toán trở thành một dịch vụ mang tính toàn cầu
Giúp các thành viên trong Hiệp hội của mình giành được lợi thế cạnh
tranh trong tài trợ thương mại toàn cầu thông qua việc
479.433
437.932
245.354
130.166
80.496
19.393
1984
1989
1994
1999
2004
2005
1984 29%
1989 41%
1994 44%
1999 42%
2004 51%
2005 54% 10
Biểu đồ 1.2: Thị phần về doanh số bao thanh toán của FCI so với toàn cầu
1984
1989
1994
1999
2004
2005 51.672
43.565
19.405
9.875
5.384
1.384
1984 32%
1989 47%
1994 49%
1999 49%
2004 64%
2005 68% 11
102.105.720 giao dịch bao thanh toán đã diễn ra tính đến thời điểm quý
IV/2005, FCI đang ngày càng khẳng định tầm ảnh hưởng của mình tới nền
tài chính toàn cầu.
Với một truyền thống lịch sử khá lâu đời, sự phát triển không ngừng
của phương thức bao thanh toán qua một số thời kỳ và sự ra đời của một số
tổ chức, hiệp hội về bao thanh toán, có thể thấy trên thế giới, đặc biệt ở Mỹ,
các khoản nợ khó đòi hoặc bản thân họ không thu được nợ của những người
mua hàng.
1.1.2.3. Bao thanh toán là nghiệp vụ mang tính “chiết khấu hối phiếu”
Về hình thức, bao thanh toán và nghiệp vụ chiết khấu hối phiếu giống
nhau ở chỗ đều cho phép khách hàng nhận ngay được một khoản tiền khi
xuất trình hoá đơn hay hối phiếu. Tuy nhiên có điểm khác biệt là hối phiếu
trong nghiệp vụ chiết khấu được “tài sản hoá” để chuyển nhượng còn hoá
đơn trong bao thanh toán là phương tiện để thu hồi nợ. Nghiệp vụ chiết khấu
hối phiếu tập trung nhiều vào mục đích “tài chính” hơn so với bao thanh toán
1.2.2.4. Một số quan niệm chưa đúng khác
Bao thanh toán chỉ sử dụng khi có khó khăn về mặt tài chính cho nên
khách hàng cảm thấy “mất uy tín” khi thông báo cho người mua hàng biết
về những khoản phải thu đó được bao thanh toán. Khách hàng sử dụng dịch
vụ bao thanh toán vì những lợi ích của nó đem lại phù hợp với lợi ích khách
hàng, đó không phải là hoạt động cứu trợ khi khách hàng gặp khó khăn về
tiền mặt, vốn lưu động. Do vậy sẽ không đúng khi cho rằng khách hàng
tham gia vào bao thanh toán đang gặp khó khăn và khách hàng mất uy tín
khi tham gia vào bao thanh toán.
Công ty bao thanh toán có vai trò như “người cho vay cuối cùng” và
đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Không phải khách hàng chỉ lựa chọn
phương thức bao thanh toán khi họ không thể tiếp cận được với nguồn vốn 13
vay ngân hàng. Bao thanh toán cho phép chuyển các khoản phải thu thành
tiền mặt một cách nhanh chóng tuy nhiên đây không phải là phương tiện để
xử lý các khó khăn về vấn đề thanh khoản. Khách hàng quyết định sử dụng
dịch vụ bao thanh toán khi mà mức chi phí bao thanh toán nhỏ hơn lợi ích mà
việc có tiền mặt trong tay mang lại tại thời điểm nhận tiền thanh toán trước.
Trên đây là một số quan điểm sai lầm, rất dễ dẫn đến nhầm lẫn các
khách hàng trước rủi ro tín dụng.
Đã có nhiều định nghĩa khác nhau mô tả về nghiệp vụ bao thanh toán
qua lịch sử phát triển của nghiệp vụ này. Những định nghĩa này khác nhau
khá nhiều phụ thuộc vào thời gian và hoàn cảnh. “Định nghĩa thuần tuý”
nhất của Mỹ được định nghĩa như sau “Bao thanh toán là một thoả thuận
tiếp theo giữa bên liên quan đến bao thanh toán và người bán hàng hoặc là
người cung cấp dịch vụ về mở một tài khoản, chiểu theo đó bên bao thanh
toán tiến hành (tất cả) những dịch vụ sau liên quan đến khoản phải thu phát
sinh từ việc bán hàng hoá và dịch vụ nói trên:
(1) Mua lại tất cả những khoản phải thu và nếu cần thiết thì ứng trước
tiền mặt dựa trên các khoản phải thu này trước khi thu nợ
(2) Duy trì ghi sổ cái và thực hiện các nhiệm vụ ghi sổ sách khác liên
quan đến khoản phải thu này.
(3) Thu nợ các khoản phải thu
(4) Dự tính các tổn thất có thể xảy ra khi tình hình tài chính của khách
hàng không trả được nợ (tổn thất tín dụng)”
1.1.3.2. Khái niệm theo Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ
chức tín dụng Việt Nam
Nhận thức được tầm quan trọng của nghiệp vụ bao thanh toán cho các
bên tham gia trong hoạt động bao thanh toán trong nước và bao thanh toán
quốc tế trong hoạt động thương mại khu vực và quốc tế, sau nhiều lần dự 15
thảo, ngày 06/09/2004, Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam đã chính
thức đưa ra Quy chế hoạt động bao thanh toán của các tổ chức tín dụng ban
hành kèm theo Quyết định số 1096/2004/QĐ/NHNN.
Trong Quy chế, điều 2 quy định rõ khái niệm bao thanh toán: Bao
thanh toán là một hình thức cấp tín dụng của Tổ chức tín dụng cho bên bán
hàng thông qua việc mua lại các khoản phải thu phát sinh từ việc mua, bán
một nhà thầu xây dựng khác để tiếp tục thực hiện hợp đồng. Người mua sẽ
khấu trừ phần giá trị giữ lại và các chi phí phát sinh thêm vào các hoá đơn
chưa thanh toán và đơn vị bao thanh toán sẽ phải chịu rủi ro này.
Hợp đồng mua, bán hàng: là thoả thuận bằng văn bản giữa bên bán hàng
và bên mua hàng về việc mua, bán hàng hoá theo quy định của pháp luật,
trong đó bên mua hàng chưa đến hạn phải thực hiện nghĩa vụ thanh toán.
Số dư bao thanh toán: là số tiền mà đơn vị bao thanh toán ứng trước
cho bên bán hàng theo thoả thuận tại hợp đồng bao thanh toán.
Hạn mức bao thanh toán: là tổng số dư tối đa của các khoản phải thu
được bao thanh toán trong một khoảng thời gian nhất định theo thoả thuận
của đơn vị bao thanh toán và bên bán hàng trong hợp đồng bao thanh toán.
Bên mua hàng: là tổ chức được nhận hàng hoá từ bên bán hàng và có
nghĩa vụ thanh toán các khoản phải thu quy định tại hợp đồng mua, bán hàng.
Chứng từ bán hàng: là các chứng từ liên quan đến việc giao hàng và việc
yêu cầu thanh toán của bên bán hàng đối với bên mua hàng trên cơ sở hợp
đồng mua, bán hàng.
Tại khoản 2, điều I của Quy chế này cũng quy định rõ tổ chức tín dụng
thực hiện nghiệp vụ bao thanh toán là các tổ chức tín dụng thành lập và hoạt
động theo Luật các Tổ chức tín dụng, gồm:
- Ngân hàng thương mại nhà nước;
- Ngân hàng thương mại cổ phần; 17
- Ngân hàng liên doanh;
- Ngân hàng 100% vốn nước ngoài;
- Chi nhánh ngân hàng nước ngoài;
- Công ty tài chính.
Khách hàng được tổ chức tín dụng bao thanh toán là các tổ chức kinh tế
Việt Nam và nước ngoài cung ứng hàng hoá và được thụ hưởng các khoản
được thanh toán tiền hàng, doanh nghiệp xuất khẩu có thể đem bán quyền
đòi tiền của mình cho tổ chức bao thanh toán để lấy tiền ngay, trừ đi một
khoản chiết khấu hợp lý trên hoá đơn thương mại. Với số tiền đó, doanh
nghiệp có thể đẩy nhanh vòng quay sử dụng vốn, chớp lấy cơ hội kinh
doanh hấp dẫn khác, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp. Như
vậy rõ ràng, bao thanh toán không là một khoản tín dụng nhưng nó lại có
tính chất tín dụng với các bên tham gia vào bao thanh toán.
Tính chất nhờ thu
Tính chất nhờ thu của bao thanh toán giúp các doanh nghiệp xuất khẩu
làm giảm chi phí quản lý nợ và giảm nợ xấu. Bởi lẽ, khi khách hàng sử dụng
dịch vụ bao thanh toán họ sẽ không còn phải lo nghĩ nhiều đến việc quản lý
các khoản nợ chưa được thanh toán của mình nữa. Công ty bao thanh toán
sẽ đảm nhiệm công việc đó, họ sẽ tiến hành kiểm tra tín dụng, duy trì các
khoản phải thu, phải trả và các công việc khác. Hơn nữa, các công ty bao
thanh toán thông thường được trang bị đầy đủ kiến thức và kinh nghiệm
trong việc thu hồi các khoản nợ xấu vì cấp tín dụng và thu nợ là công việc
chính của công ty này. Vì vậy, trong trường hợp bên nợ không thanh toán
hoặc chậm trễ trong việc thanh toán, họ sẽ có nhiều biện pháp thu hồi nợ
một cách hiệu quả nhất.
Như vậy, bao thanh toán là một nghiệp vụ tài chính khá đặc biệt, vừa
mang tính “tín dụng” vừa mang tính “nhờ thu”. 19
1.2. CÁC HÌNH THỨC CƠ BẢN CỦA HOẠT ĐỘNG BAO THANH TOÁN
Cũng giống như một số phương thức tài trợ thương mại khác, bao
thanh toán cũng được cung cấp dưói nhiều hình thức đa dạng khác nhau phù
hợp với từng nhu cầu cụ thể của khách hàng
1.2.1. Theo loại hình dịch vụ
1.2.1.1. Bao thanh toán đến hạn (Maturity Factoring)
việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng mua, bán hàng, trong đó bên bán hàng và
bên mua hàng là người cư trú theo quy định của pháp luật về quản lý ngoại hối.
1.2.2.2. Bao thanh toán xuất khẩu/nhập khẩu (Export/Import Factoring)
Bao thanh toán xuất nhập khẩu được thực hiện trên giao dịch xuất nhập
khẩu hàng hoá, dịch vụ. Khác với bao thanh toán trong nước sẽ có nhà xuất
khẩu, nhà nhập khẩu, công ty bao thanh toán của nhà xuất khẩu (có thể là một
ngân hàng tham gia vào hình thức bao thanh toán này). Nhà xuất khẩu được
công ty bao thanh toán cung cấp mọi dịch vụ trong bao thanh toán mà không
cần phải liên hệ với công ty bao thanh toán nhập khẩu. Công ty bao thanh
toán nhập khẩu chịu trách nhiệm thu nợ từ nhà nhập khẩu và trả cho công ty
bao thanh toán xuất khẩu. Như vậy, rủi ro không trả được nợ của nhà nhập
khẩu do công ty bao thanh toán nhập khẩu chịu. Trong nghiệp vụ bao thanh
toán này thì các công ty bao thanh toán đều không chịu rủi ro về ngoại hối.
Tương tự như bao thanh toán xuất khẩu nhưng bao thanh toán nhập
khẩu được tiến hành ngược lại. Cụ thể, công ty bao thanh toán nhập khẩu
đảm bảo việc thanh toán của nhà nhập khẩu (ở nước ngoài). Vì vậy thông
qua thoả thuận bao thanh toán, nhà nhập khẩu có thể được nhập hàng ngay
và liên tục từ các nhà xuất khẩu thông qua tài khoản mở. 21
Cũng theo Theo khoản 2 điều 4 chương I của Quy chế hoạt động bao
thanh toán của các Tổ chức tín dụng tại Việt Nam quy định: Bao thanh toán
xuất - nhập khẩu là việc bao thanh toán dựa trên hợp đồng xuất - nhập khẩu.
Đơn vị bao thanh toán xuất khẩu là đơn vị thực hiện bao thanh toán cho bên
bán hàng là bên xuất khẩu trong hợp đồng xuất - nhập khẩu. Đơn vị bao
thanh toán nhập khẩu là đơn vị được phép hoạt động bao thanh toán tham
gia vào quy trình bao thanh toán xuất - nhập khẩu.
Thông thường, phương thức phân chia bao thanh toán theo địa lý rất
phổ biến ở hầu hết các quốc gia thực hiện bao thanh toán. Ban đầu, công ty
1.2.3.2. Bao thanh toán không truy đòi (Non Recourse Factoring)
Đối với bao thanh toán không truy đòi, công ty bao thanh toán không
thực hiện việc truy đòi đối với khách hàng ngay cả trường hợp người mua
hàng không trả được nợ. Như vậy công ty bao thanh toán phải chịu toàn bộ
rủi ro khi bên mua hàng không có khả năng hoàn thành nghĩa vụ thanh toán
các khoản phải thu. Hình thức này thường được sử dụng phổ biến trong
nghiệp vụ bao thanh toán xuất nhập khẩu.
1.2.4. Theo trách nhiệm phải thông báo cho ngƣời mua:
1.2.4.1. Bao thanh toán không thông báo (Non-notifed Factoring)
Khách hàng tham gia vào nghiệp vụ bao thanh toán nhưng không
thông báo cho người mua hàng biết khoản phải thu đó đã được bao thanh
toán và không thông báo để người mua hàng vẫn phải trả nợ trực tiếp cho
công ty bao thanh toán. Khi đó các khách hàng trực tiếp thực hiện việc thu
nợ từ người mua hàng và trả cho công ty bao thanh toán. Đối tượng của hình
thức này chủ yếu là các doanh nghiệp lớn, có bộ phận thu nợ riêng và họ chỉ
sử dụng bao thanh toán như một nguồn tài trợ cho mình. 23
1.2.4.2. Bao thanh toán thông báo (Notified Factoring)
Người mua hàng tham gia vào loại hình bao thanh toán này đã được
công ty bao thanh toán mua và yêu cầu trả nợ trực tiếp cho công ty bao
thanh toán. So với hình thức bao thanh toán không thông báo, bao thanh
toán thông báo phổ biến hơn.
1.3. QUY TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA NGHIỆP VỤ BAO THANH TOÁN
Nghiệp vụ bao thanh toán được hoạt động theo quy trình chặt chẽ.
Theo quy trình nghiệp vụ bao thanh toán chung, người ta thường chia ra các
quy trình theo số đơn vị bao thanh toán tham gia vào đó:
1.3.1. Hệ thống một đơn vị của bao thanh toán
Hệ thống một đơn vị của bao thanh toán gồm có ba bên bao gồm: một
7. Chuyển nhượng hoá đơn
BTT
4. Trả lời tín dụng
5. Ký hợp đồng BTT
8. Thanh toán trước
11. Thanh toán ứng trước
3. Thẩm định tín dụng
9. Thu nợ khi đến hạn
10. Thanh toán 24
Bước 1: Người bán và người mua ký kết hợp đồng mua bán hai bên.
Người bán ở đây đóng vai trò là khách hàng của công ty bao thanh toán.
Còn người mua trở thành con nợ.
Bước 2: Khách hàng đề nghị công ty bao thanh toán cấp cho người mua
hàng của họ một hạn mức tín dụng (credit line).
Bước 3: Công ty Bao thanh toán tiến hành thẩm định tín dụng người
mua. Trong trường hợp này công ty bao thanh toán có thể từ chối việc cấp
hạn mức tín dụng khi họ không có đầy đủ thông tin về người mua hàng hoặc
người mua hàng không đủ uy tín về tín dụng.
Bước 4: Sau khi công ty bao thanh toán chấp nhận cấp hạn mức, họ sẽ
có trách nhiệm trả lời tín dụng cho khách hàng của mình, khách hàng lúc
này có trách nhiệm thông báo cho người mua hàng về thoả thuận bao thanh
toán và yêu cầu người mua hàng trả nợ trực tiếp cho công ty bao thanh toán.
Bước 5: Khách hàng và công ty bao thanh toán chính thức ký hợp đồng
bao thanh toán
Bước 6: Người bán tiến hành giao hàng cho người mua
Bước 7: Sau khi giao hàng cho người mua hàng, khách hàng nộp toàn
bộ chứng từ liên quan đến khoản phải thu như hoá đơn, giấy báo nợ … cho