GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
ĐỀ TÀI:
BẢO LÃNH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI VIỆT NAM
Tiểu luận môn NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG
MẠI
GVHD: PGS.TS: TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG
LỚP: NH Đêm 1 – Khóa 22 – Nhóm 7
DSN: Cao Nữ Nguyệt Anh
Lê Thị Phương Thảo
Mai Nguyễn Huyền Trang
Đỗ Thị Liễu Mi
Tháng 2 năm 2014
1
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
LỜI MỞ ĐẦU 2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO LÃNH TẠI CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM 3
1.1 KHÁI NIỆM, ĐẶC ĐIỂM CỦA BẢO LÃNH NGÂN HÀNG: 3
1.1.1 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng: 3
1.1.2 Đặc điểm bảo lãnh ngân hàng: 4
1.2 PHÂN LOẠI BẢO LÃNH NGÂN HÀNG: 5
1.2.1 Phân loại theo phương thức phát hành: 5
1.2.2 Phân loại theo hình thức sử dụng: 10
1.2.3 Phân loại theo mục đích sử dụng: 10
1.2.4 Các loại bảo lãnh khác: 13
1.3 VAI TRÒ CỦA BẢO LÃNH NGÂN HÀNG: 14
rất nhiều các sản phẩm tín dụng mới từ lĩnh vực này và bảo lãnh cũng không phải là
ngoại lệ khi là thị trường mà rất nhiều ngân hàng nhắm vào.
Do đó việc sử dụng bảo lãnh ngân hàng đang bùng nổ mạnh mẽ đem lại thu
nhập đem lại đáng kể thu nhập cho các ngân hàng đồng thời cũng đóng vai trò xúc
tác cho các hợp đồng kinh tế được kí kết dễ dàng. Có thể chắc chắn các giao dịch
thương mại lớn có yếu tố nước ngoài tham gia thì đi kèm các hợp đồng kinh tế phải
bắt buộc có thêm hợp đồng bảo lãnh của ngân hàng để tạo thêm sự tin tưởng tuyệt
đối của bạn hàng.
Xuất phát từ những vấn đề trên nhóm nghiên cứu chọn đề tài “ Bảo lãnh tại
các ngân hàng thương mại Việt Nam”.
Kết cấu đề tài gồm 3 chương:
Chương I: Lý luận chung về bảo lãnh tại các NHTM Việt Nam.
Chương II: Thực trạng nghiệp vụ bảo lãnh các NHTM Việt Nam.
Chương III: Định hướng và giải pháp phát triển nghiệp vụ bảo lãnh tại NHTM Việt
Nam.
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ BẢO LÃNH TẠI CÁC
NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI VIỆT NAM
1.1 Khái niệm, đặc điểm của bảo lãnh ngân hàng:
1.1.1 Khái niệm bảo lãnh ngân hàng:
Trong giai đoạn từ những năm 80 của thế kỷ XX nền kinh tế của nước ta vẫn
là nền Kinh tế tập trung bao cấp, biện pháp bảo lãnh trong giai đoạn này được sử
3
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
dụng như là công cụ để hỗ trợ doanh nghiệp nhà nước khi có nhu cầu vay vốn nước
ngoài. Nhìn chung, trong giai đoạn này có khá nhiều văn bản pháp luật của Nhà
nước quy định về bảo lãnh ngân hàng, theo đó các quy định này đều có điểm chung
là:
- Bảo lãnh của ngân hàng là bảo lãnh của Ngân hàng Nhà nước cấp cho các
đơn vị, tổ chức trong việc vay vốn nước ngoài để phát triển sản xuất kinh doanh.
Ngân hàng Nhà nước đưa ra bảo lãnh cho các tổ chức vay vốn nước ngoài thực chất
và bên nhận bảo lãnh với quan hệ giữa bên được bảo lãnh và ngân hàng bảo lãnh,
cho dù có sự vi phạm nghĩa vụ của bên được bảo lãnh với ngân hàng bảo lãnh thì
ngân hàng bảo lãnh cũng không thể vì thế mà có quyền từ chối thực hiện nghĩa vụ
bảo lãnh.
Bảo lãnh ngân hàng là một hoạt động ngoại bảng của ngân hàng: ngân hàng
4
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
bảo lãnh đã dùng uy tín của mình để cam kết với bên nhận bảo lãnh về việc thực
hiện nghĩa vụ của bên được bảo lãnh, khi đó quyết định bảo lãnh cho bên được bảo
lãnh ngân hàng không phải xuất tiền ngay do đó sẽ không ảnh hưởng đến bảng cân
đối kế toán của ngân hàng. Đó chính là nguyên nhân khiến bảo lãnh ngân hàng được
xếp vào hoạt động ngoại bảng của ngân hàng.
1.2 Phân loại bảo lãnh ngân hàng:
1.2.1 Phân loại theo phương thức phát hành:
* Bảo lãnh trực tiếp:
Là loại bảo lãnh mà trong đó ngân hàng phát hành bảo lãnh chịu trách nhiệm
bảo lãnh trực tiếp cho bên được bảo lãnh. Người được bảo lãnh chịu trách nhiệm bồi
hoàn trực tiếp cho ngân hàng phát hành bảo lãnh.
Ưu điểm: Đây là loại bảo lãnh đơn giản nhất và người xin bảo lãnh thì không
phải mất phí hoa hồng cho bên ngân hàng đại lý. Bảo lãnh này thường được sử dụng
trong các quan hệ kinh tế trong nước và chịu sự điều chỉnh của luật hoặc các quy
định về bảo lãnh của nước mà ngân hàng bảo lãnh trực thuộc.
Trong đó:
1 - A và B thoả thuận ký kết một hợp đồng và B yêu cầu A phải mở một bảo
lãnh.
2 - A đến ngân hàng mình (ngân hàng phát hành) đề nghị phát hành bảo lãnh
theo những điều khoản và điều kiện đã thoả thuận và ký với Ngân hàng một hợp
đồng bảo lãnh. A phải chắc chắn rằng những chỉ thị phát hành bảo lãnh của mình
cho NH là chính xác và rõ ràng. NH phát hành sẽ không chịu trách nhiệm về những
5
không có nghĩa vụ thanh toán cho người thụ hưởng. Tương tự như vậy thì ngân hàng
phát hành bảo lãnh hoàn toàn không có quyền yêu cầu người được bảo lãnh bồi
hoàn. Chỉ có trung gian mới có nghĩa vụ bồi hoàn cho ngân hàng phát hành theo bảo
lãnh đối ứng.Với bảo lãnh gián tiếp người được bảo lãnh thường phải chịu chi phí
bảo lãnh cao hơn so với bảo lãnh trực tiếp.
6
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
Trong đó:
1. A và B thoả thuận ký một hợp đồng và B yêu cầu A mở một bảo lãnh.
2. . Nếu B không tin tưởng vào tiềm lực tài chính của ngân hàng của A
hoặc muốn ngân hàng phát hành bảo lãnh phải là một ngân hàng trong nước mình
thì sẽ chỉ định ngân hàng phát hành bảo lãnh. Nếu A không có quan hệ với ngân
hàng phát hành bảo lãnh do B chỉ định thì chỉ thị cho ngân hàng của mình (ngân
hàng trung gian) yêu cầu ngân hàng phát hành bảo lãnh mở bảo lãnh.
3. NH trung gian nhận được chỉ thị phát hành sẽ yêu cầu NH phát hành
bảo lãnh theo mẫu hoặc những điều khoản và điều kiện để thoả thuận đồng thời
mở bảo lãnh đối ứng cho ngân hàng phát hành bảo lãnh.
4. Căn cứ vào bảo lãnh đối ứng, ngân hàng phát hành sẽ phát hành bảo
lãnh và gửi bảo lãnh cho ngân hàng thông hoặc cũng có thể phát hành bảo lãnh
trực tiếp cho người thụ hưởng.
5. Ngân hàng thông báo sau khi nhận được bảo lãnh từ ngân hàng phát
hành thì kiểm tra tính chân thực của bảo lãnh và thông báo cho người thụ hưởng.
6. Ngân hàng phát hành thanh toán nếu người thụ hưởng xuất trình
những chứng từ phù hợp với yêu cầu và trong thời hạn hiệu lực của bảo lãnh.
7. Ngân hàng trung gian bồi hoàn cho ngân hàng phát hành.
8. Bên được bảo lãnh đền bù cho ngân hàng trung gian:
7
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
* Bảo lãnh được xác nhận:
Là bảo lãnh do tổ chức tín dụng phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc đảm
Người thụ hưởng có thể muốn một ngân hàng trong nước của mình xác nhận
8
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
bảo lãnh do một ngân hàng nước ngoài phát hành và như vậy người thụ hưởng có
thể xuất trình những chứng từ theo yêu cầu của bảo lãnh đến ngân hàng xác nhận và
thanh toán.
* Đồng bảo lãnh:
Là loại bảo lãnh do nhiều ngân hàng cùng đứng ra phát hành bảo lãnh. Trong
đó một ngân hàng sẽ được chọn làm ngân hàng phát hành chính, các ngân hàng
thành viên sẽ cam kết theo từng phần đóng góp của mình bằng các bảo lãnh đối ứng.
Trong đó:
(1) Quan hệ hợp đồng giữa bên được bảo lãnh và bên được thụ hưởng.
(2) Người được bảo lãnh chỉ thị cho Ngân hàng bảo lãnh chính phát hành bảo
lãnh.
(3) Các ngân hàng thành viên phát hành bảo lãnh đối ứng cho ngân hàng bảo
1.2.3 Phân loại theo mục đích sử dụng:
* Bảo lãnh thực hiện hợp đồng:
Khái niệm: Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là cam kết của ngân hàng về việc chi
trả tổn thất thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng
như cam kết, gây tổn thất cho bên thứ ba. Các hợp đồng được bảo lãnh như hợp
đồng cung cấp hàng hoá, xây dựng, thiết kế…
Mục đích: Trong trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng như cung cấp
không đúng hạn, không đúng chất lượng cam kết thì đều gây tổn thất cho bên thứ
ba. Và bảo lãnh ngân hàng một mặt bù đắp một phần tổn thất cho bên thứ ba (Đảm
bảo cho họ tránh được rủi ro) mặt khác thúc đẩy khách hành nghiêm chỉnh thực hiện
hợp đồng.
Trị giá của bảo lãnh: tùy theo loại hình và quy mô hợp đồng, giá trị bảo lãnh
thực hiện hợp đồngtừ 10 – 15 % tổng giá trị hợp đồng. Trường hợp đặc biệt, mức
bảo lãnh thực hiện hợp đồng có thể yêu cầu trên 15% nhưng phải được người có
thẩm quyền quyết định đầu tư chấp thuận. Tuy nhiên số tiền bảo lãnh có thể giảm
dần theo tiến độ thực hiện hợp đồng.
Thời hạn hiệu lực: thư bảo lãnh có giá trị cho đến ngày hoàn thành hợp đồng.
Thời hạn hiệu lực được xác định cụ thể theo thoả thuận giữa hai bên. Thời hạn sẽ
10
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
bắt đầu từ ngày kết thúc đấu thầu kéo dài đến khi hoàn thành hợp đồng như: Hàng
hoá đã giao xong, máy móc thiết bị đã được vận hành, công trình đã đưa vào sử
dụng…
Ví dụ: Công ty Vinafood xuất khẩu gạo sang Philippine. Nhà nhập khẩu yêu
cầu phải có bảo lãnh thực hiện hợp đồng do một Ngân hàng tại Philippine phát hành.
Vinafood yêu cầu một Ngân hàng ở Việt Nam ra chỉ thị cho Ngân hàng tại
Philippine phát hành bảo lãnh thực hiện hợp đồng cho người thụ hưởng là nhà nhập
khẩu. Với bảo lãnh này, nhà nhập khẩu vừa được bảo vệ mình trước những rủi ro từ
phía Vinafood và cả những rủi ro có thể từ phía Ngân hàng ở Việt Nam.
* Bảo lãnh thanh toán:
- Trị giá của bảo lãnh: Thông thường có giá trị từ 1- 5% giá trị hợp đồng đấu
thầu.
- Thời hạn hiệu lực: Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh sẽ chỉ chấm dứt khi bên
được bảo lãnh (người tham gia dự thầu) không trúng thầu hoặc sau khi ký kết hợp
11
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
đồng hoặc chấp nhận ký kết hợp đồng nếu bên được bảo lãnh trúng thầu.
* Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước:
- Khái niệm: là cam kết của ngân hàng về việc sẽ hoàn trả tiền ứng trước cho
bên mua người hưởng bảo lãnh) nếu bên cung cấp (người được bảo lãnh) không trả
hoặc trả không đầy đủ.
- Mục đích: Đảm bảo cho bên yêu cầu bảo lãnh sẽ nhận lại số tiền trước kia đã
đặt cọc cho bên được bảo lãnh để giúp thực hiện hợp đồng như đã thoả thuận, nhưng
thực tế không thực hiện được. Bảo lãnh tiền ứng trước thường được sử dụng trong
các hợp đồng mua bán máy móc thiết bị hoặc các hợp đồng có giá trị lớn.
- Trị giá của bảo lãnh: Số tiền bảo lãnh bằng số tiền đặt cọc (kể cả tiền lãi)
được tính từ ngày nhận được số tiền đặt cọc tới ngày giao hàng cuối cùng cộng thêm
một số ngày để người thụ hưởng làm thủ tục đòi tiền. Bảo lãnh loại này cũng có một
số điều khoản quy định giảm giá trị bảo lãnh tương ứng với số lượng hàng hoá được
giao đối với các loại hàng hoá sản xuất, máy móc, công trình… số tiền đặt cọc
thường từ 5- 10% giá trị hợp đồng.
- Thời hạn hiệu lực: bằng thời gian thực hiện hợp đồng tức là kể từ khi người
được bảo lãnh nhận được số tiền đặt cọc cho đến ngày giao hàng cuối cùng, có thể
cộng thêm một số ngày làm thủ tục đòi tiền do hai bên quy định.
* Bảo lãnh bảo hành hay bảo lãnh đảm bảo chất lượng sản phẩm theo hợp
đồng:
- Khái niệm: là loại bảo lãnh mà ngân hàng bảo lãnh cam kết với chủ thầu
trong trường hợp chủ thầu vi phạm hợp đồng về chất lượng sản phẩm phải bồi
thường cho chủ thầu mà nhà thầu không bồi thường hoặc bồi thường không đủ thì
ngân hàng bảo lãnh phải chịu trách nhiệm trả thay cho nhà thầu.
ứng) phát hành cho một tổ chức tín dụng khác (bên bảo lãnh) về việc đề nghị bên
bảo lãnh thực hiện bảo lãnh cho các nghĩa vụ của khách hàng của bên phát hành bảo
lãnh đối ứng với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp, khách hàng vi phạm các cam kết
với bên nhận bảo lãnh, bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì bên phát
hành bảo lãnh đối ứng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối ứng cho bên bảo lãnh.
* Xác nhận bảo lãnh:
Là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng (bên xác nhận bảo lãnh) phát
hành cho bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
của tổ chức tín dụng được xác nhận bảo lãnh (bên được xác nhận bảo lãnh) đối với
khách hàng. Trường hợp bên được xác nhận bảo lãnh không thực hiện hoặc thực
hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình đã cam kết với bên nhận bảo lãnh thì bên xác
nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được xác nhận bảo lãnh.
1.2.4 Các loại bảo lãnh khác:
* Thư tín dụng dự phòng (L/C):
- Khái niệm: Là một loại tín dụng chứng từ hoặc một thoả thuận tương tự
trong số đó ngân hàng phát hành thể hiện cam kết trách nhiệm đối với bên thụ
hưởng trong việc: Trả lại khoản tiền bên mở tín dụng đã vay hoặc được ứng trước
thanh toán bất kỳ cam kết nhận nợ nào của bên mở hoặc thanh toán mọi thiệt hại mà
bên mở gây ra do việc không thực hiện cam kết đối với bên thụ hưởng.
- Mục đích của thư tín dụng dự phòng: Là nhằm để đảm bảo việc thực hiện
các nghĩa vụ trong hợp đồng, bảo đảm cho một rủi ro nào đó có thể phát sinh.
Ví dụ: Shingbang Ltd., Co (Hàn Quốc) ký một hợp đồng gia công hàng may
mặc với Garment Company No. 5 (Việt Nam), theo đó Shingbang Ltd., Co mở L/C
nhập thành phẩm (Master L/C) cho người hưởng là Garment Company No. 5 và
Garment Company No. 5 mở L/C nhập nguyên liệu trả chậm 90 ngày cho người
hưởng là Shingbang Ltd., Co.
Khi nhận được L/C, ví dụ, L/C No. 123 dated 20/2/2008 được phát hàng bởi
Korex Bank Seoul, Garment Company No. 5 yêu cầu ngân hàng của mình
(Vietcombank Da Nang) phát hành L/C trả chậm (deferred payment L/C) 90 ngày
đối ứng với L/C trên cho người hưởng là Shingbang. L/C đối ứng do Vietcombank
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc bên bảo lãnh giúp tổ chức phát hành
thực hiện các thủ tục trước khi phát hành chứng khoán (chuẩn bị hồ sơ xin phép phát
hành, định giá chứng khoán) và tổ chức phân phối chứng khoán.
1.3 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng:
Bảo lãnh ngân hàng là công cụ tiện ích được sử dụng rộng rãi để trợ giúp các
giao dịch kinh tế, hỗ trợ cho các hợp đồng thương mại mà các giao dịch phi thương
mại, tài chính. Qua đó, bảo lãnh ngân hàng giúp đáp ứng nhu cầu về vốn của nền
kinh tế để phát triển đất nước
Bảo lãnh không chỉ là một động lực tạo sự phát triển ngân hàng mà còn có
vai trò quan trong đối với doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp, bảo lãnh giúp thúc
đẩy cạnh tranh, mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, giúp
doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro và đảm bảo lợi ích kinh tế do vi phạm hợp đồng gây
ra.
Đối với ngân hàng, bảo lãnh ngân hàng đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân
hàng thông qua chi phí bảo lãnh, phí này đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng, nó
chiếm tỷ trong không nhỏ trong tổng phí dịch vụ của ngân hàng hiện nay. Ngoài ra,
bảo lãnh ngân hàng góp phần không nhỏ trong việc mở rộng mối quan hệ của ngân
hàng với khách hàng.
14
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bảo lãnh ngân hàng:
1.4.1 Nhân tố khách quan:
Các chính sách kinh tế vĩ mô của quốc gia thể hiện qua các văn bản luật và sự
thay đổi của chúng tác động tới các hoạt động bảo lãnh cũng như chất lượng bảo
lãnh. Tại Việt Nam, hoạt động bảo lãnh vẫn còn mới song các văn bản Luật quy
định về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng đã ra đời từ rất sớm như Luật dân sự, Luật
các tổ chức tín dụng,… và mới đây là quy chế về bảo lãnh của Ngân hàng nhà
nước Tuy nhiên các văn bản này vẫn còn chưa đồng bộ và đầy đủ làm quá trình
thực hiện bảo lãnh còn gặp nhiều khó khăn, tác động tới hoạt động bảo lãnh cũng
như chất lượng của hoạt động bảo lãnh.
15
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
thư bảo lãnh vô điều kiện không hủy ngang nhưng nhưng lại kèm theo câu là bên
nhận bảo lãnh phải gửi hồ sơ chứng minh vi phạm kèm theo văn bản yêu cầu thanh
toán nghĩa vụ bảo lãnh. Việc này thường xảy ra với các ngân hàng quản trị kém về
nghiệp vụ cấp bảo lãnh, dẫn đến chỉ cần bên được bảo lãnh cho rằng mình chưa vi
phạm nghĩa vụ trong giao dịch được bảo lãnh và yêu cầu ngân hàng không được
thanh toán cho bên nhận bảo lãnh là ngân hàng sẽ vô cùng khó xử. Bởi suy cho
cùng, vi phạm hay không vi phạm chỉ có tòa án mới có thẩm quyền phán quyết cuối
cùng, nên ngân hàng không thanh toán cho bên nhận bảo lãnh thì cũng khó giải
quyết thõa đáng, mà thanh toán thì cũng khó đòi lại được tiền từ bên được bảo lãnh.
Ví dụ trong trường hợp bên nhận bảo lãnh bán gạo cho bên được bảo lãnh, khi
hàng đã giao, bên nhận bảo lãnh yêu cầu thanh toán tiền nhưng bên bảo lãnh lại cho
rằng gạo giao có chất lượng thấp nên chỉ thanh toán khi bên nhận bảo lãnh đổi hàng,
khiến xảy ra tranh chấp và ngân hàng cấp bảo lãnh trong trường hợp này sẽ rất khó
xử lý việc thanh toán hay không thanh toán nghĩa vụ bảo lãnh.
1.5.2 Rủi ro đối với bên được bảo lãnh:
Rủi ro đến từ bên được bảo lãnh chủ yếu do cố ý hoặc vô ý không tuân thủ
quy định trong bảo lãnh ngân hàng. Người đứng ra ký tên trên hợp đồng bảo lãnh
không đủ thẩm quyền, hoặc có sự câu kết với nhân viên ngân hàng với bên được bảo
lãnh làm giả hồ sơ bảo lãnh.
Ngoài ra, trình độ nguồn nhân lực trong thực hiện giao kết hợp đồng, khả năng
quản trị điều hành, tầm nhìn của đội ngũ lãnh đạo của bên được bảo lãnh còn nhiều
hạn chế. Cụ thể là đánh giá không đúng thực lực trong điều hành, cũng như tồn tại
những vấn đề bất cập ngay trong chính sự vận hành nguồn lực, nhân lực và kỳ vọng
phát triển của khách hàng đã dẫn đến sự đổ vỡ không tránh khỏi. Từ đó, ngân hàng
sẽ phải hứng chịu những khoản nợ xấu từ bảo lãnh. Việc chậm hoặc thực hiện không
đúng, hay không thực hiện hợp đồng như đã giao kết của bên được bảo lãnh sẽ ảnh
hưởng đến kế hoạch kinh doanh của bên thụ hưởng.
1.5.3 Rủi ro đối với bên thụ hưởng bảo lãnh:
nhánh Agribank Hồng Hà đã cấp bảo lãnh cho Công ty Tân Hồng khi tham gia mua
hàng hóa của một số DN này. Tuy nhiên, sau đó Công ty Tân Hồng không thực hiện
nghĩa vụ thanh toán và phía Agribank cũng từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Cụ
thể:
- Agribank chi nhánh Hồng Hà đã phát hành bảo lãnh thanh toán trị giá 40 tỉ
đồng cho hợp đồng mua bán bột giấy giữa Công ty CP xuất nhập khẩu Tân Hồng và
Công ty TNHH thương mại Tràng An từ ngày 12/8 - 14/12/2011. Theo đó, do đã qua
thời hạn thanh toán, nhưng phía Công ty CP xuất nhập khẩu Tân Hồng không trả nợ
được. Phía Công ty TNHH thương mại Tràng An đã nhiều lần đề nghị Agribank chi
nhánh Hồng Hà thanh toán theo đúng bảo lãnh đã làm, nhưng vẫn chưa nhận được
tiền thanh toán theo đúng cam kết.
- Cũng với hình thức phát hành bảo lãnh thanh toán cho chính Công ty CP xuất
nhập khẩu Tân Hồng, Agribank chi nhánh Hồng Hà đã trở thành “con nợ” của Công
ty CP gang thép Thái Nguyên chi nhánh Hà Nội với số tiền 17,2 tỉ đồng (chưa bao
gồm lãi suất).
- Còn với Chi nhánh Công ty TNHH thiết bị nặng Tất Hồng, Agribank CN
Hồng Hà đã phát hành bảo lãnh thanh toán cho hợp đồng mua bán thiết bị máy móc
giữa công ty này và Chi nhánh Công ty TNHH thiết bị nặng Tất Hồng trị giá 22 tỉ
đồng. Được biết, bảo lãnh thanh toán của Agribank chi nhánh Hồng Hà đã được gia
hạn một lần vào ngày 29/6/2011 và hết hạn vào ngày 31/8/2011 nhưng sau khi hết
hạn bảo lãnh thanh toán, do không đòi được nợ, phía Chi nhánh Công ty TNHH thiết
bị nặng Tất Hồng đã không ít lần có công văn đòi nợ NH. Tuy nhiên, mặc dù đã hết
hạn thanh toán hơn 8 tháng nhưng phía Tất Hồng vẫn chưa được thanh toán nợ theo
đúng cam kết.
Các bảo lãnh thanh toán mà Agirbank chi nhánh Hồng Hà ký bảo lãnh thanh
toán cho Công ty CP xuất nhập khẩu Tân Hồng mua bán với các công ty, chi nhánh
17
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
trên đều do ông Đỗ Đức Hưng, nguyên Giám đốc Agribank chi nhánh Hồng . Và lý
do mà Agribank đưa ra là bảo lãnh được cấp sai quy trình, không hạch toán…và vì
cán bộ ngân hàng sẽ để lại những hệ lụy không những về tài sản mà còn về danh
tiếng của ngân hàng thực hiện bảo lãnh.
b) Rủi ro đến từ bên bảo lãnh:
Đây là nguy cơ phổ biến đối với các ngân hàng vì việc đánh giá khách hàng-
bên bảo lãnh hiện nay gặp rất nhiều khó khăn.
- Bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh "bắt tay", chủ động làm giả con dấu,
chữ kí, hóa đơn, hợp đồng mua bán để ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh./hợp
đồng bảo lãnh (trong trường hợp bảo lãnh vay vốn)
- Rủi ro không thu hồi được tiền do bên bảo lãnh phá sản: Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến phá sản của bên bảo lãnh trong đó có nguyên nhân về trình độ nguồn
nhân lực trong thực hiện giao kết hợp đồng, khả năng quản trị điều hành, tầm nhìn
của đội ngũ lãnh đạo của bên được bảo lãnh. Sự đánh giá không đúng thực lực, khả
năng của mình, nôn nóng trong điều hành, những vấn đề bất cập ngay trong chính sự
vận hành nguồn lực, nhân lực và kỳ vọng phát triển của khách hàng đã dẫn đến sự đổ
vỡ không tránh khỏi và hậu quả là ngân hàng sẽ phải hứng chịu những khoản nợ xấu.
18
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
Vấn đề này không chỉ làm ảnh hưởng tới hình ảnh ngân hàng, mà có thể dẫn đến
những vấn đề rất nghiêm trọng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, trong
đó có cả yếu tố con người.
Ví dụ 1: Hợp đồng bảo lãnh vay nợ của công ty CP Dược Phẩm Viễn Đông
(DVD) cho công ty CP liên doanh Lili of France (công ty LOF). Cụ thể:
- Tháng 9/2019, công ty DVD vay ABB số tiền là 100 tỷ đồng để thanh toán
tiền hàng. Đến tháng 3/2010, để có tiền đáo hạn cho ABB, Cao Hồng Vân- Ủy viên
HĐQT, Phó tổng giám đốc phụ trách tài chính của DVD đã thực hiện sự chỉ đạo của
Lê Văn Dũng- chủ tịch HĐQT kiêm Tông giám đốc DVD, chủ tịch HĐQT công ty
LOF tiến hành làm giả một số tài liệu và đưa vào hồ sơ cầm cố cổ phiếu của Lê Văn
Dũng và Đào Xuân Hưởng- thành viên HĐQT công ty DVD và là Tổng giám đốc
LOF để vay tiền ABB. ABB đã giải ngân cho ông Dũng vay 34 tỷ đồng và ông
hưởng là 27 tỷ đồng. Số tiền này được sử dụng để đáo hahn cho khoản vay 100 tỷ
- Ngân hàng cho vay và nhận bảo lãnh thanh toán từ ngân hàng nhưng chữ ký
và con dấu của ngân hàng bạn lại bị làm giả.
- Trường hợp mặc dù chữ ký thật, con dấu thật nhưng thực tế người ký và con
dấu đóng tại thời điểm cá nhân đó lại không có đủ thẩm quyền ký
19
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
2.2.2 Rủi ro đối với bên nhận bảo lãnh:
a) Rủi ro đến từ điều kiện thanh toán không khả thi:
Thực tế đã phát sinh một số chứng thư bảo lãnh yêu cầu bên nhận bảo lãnh
phải gửi hồ sơ chứng minh bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ. Điều khoản như
trên thường dẫn đến bế tắc cho cả 3 bên: Bên bảo lãnh- ngân hàng, bên được bảo
lãnh và bên nhận bảo lãnh. Ngay cả khi bên thụ hưởng bảo lãnh cung cấp hồ sơ đầy
đủ và yêu cầu thanh toán bảo lãnh thì bên được bảo lãnh cũng cho rằng mình chưa vi
phạm nghĩa vụ bảo lãnh. Điều này là do theo quy định của pháp luật, việc xác định
bên được bảo lãnh có vi phạm hay không lại phụ thuộc vào phán quyết của cơ quan
duy nhất là Tòa Án. Do đó, nếu chỉ dừng ở mức tranh chấp giữa 2 bên, ngân hàng
không thể biết được có vi phạm hay không. Và nếu không được khách hàng- bên
được bảo lãnh chấp nhận là đã vi phạm, thì ngân hàng không thể thực hiện thanh
toán bảo lãnh, bởi sau đó ngân hàng sẽ không thể buộc khách hàng nhận nợ được.
Như vậy, ngân hàng tự đưa mình vào thế "Tiến thoái lưỡng nan'", thanh toán bảo
lãnh thì không đòi nợ khách hàng được, mà không thanh toán bảo lãnh thì bên thụ
hưởng sẽ đòi tiền và dễ dẫn đến tranh chấp, khiếu nại. Và một khi ngân hàng từ chối
thanh toán sẽ ảnh hưởng rất xấu đến bên nhận bảo lãnh
Ví dụ: Trường hợp tranh chấp từ hợp đồng thuê cọc của Công ty CP XNK
Thép hình miền Bắc (bên A) và Công ty CP Đầu tư Văn Phú Building (bên B):
CTCP Xuất nhập khẩu thép hình miền Bắc (“Công ty Thép hình” - bên A) và CTCP
Đầu tư Văn Phú Building (“Công ty Văn Phú” - bên B) ký hợp đồng thuê cọc. Để
bảo đảm nghĩa vụ thanh toán theo hợp đồng, bên A yêu cầu phải có bảo lãnh thanh
toán của ngân hàng. Một ngân hàng TMCP lớn ở miền Bắc đã phát hành chứng thư
bảo lãnh cam kết không hủy ngang và khẳng định chịu trách nhiệm thanh toán tối đa
đóng tại thời điểm cá nhân đó không có thẩm quyền ký. Nguyên nhân của các trường
hợp này đều do ngân hàng nhận bảo lãnh chủ quan, làm tắt quy trình, không xác
nhận lại với ngân hàng bạn về chứng thư bảo lãnh được làm trước.
Ví dụ: Việc làm giả chứng thư bảo lãnh của ngân hàng bắt đầu được dư luận
chú ý sau sự kiện 2 chứng thư bảo lãnh của Ngân hàng HSBC bị làm giả. Lợi dụng
việc quản lý con dấu của Ngân hàng HSBC sơ hở một nhân viên của ngân hàng này
đã lấy dấu đóng lên phôi giấy có biểu tượng HSBC rồi liên hệ với những doanh
nghiệp có nhu cầu xin chứng thư bảo lãnh để lừa đảo. Do cần tiền, nhiều doanh
nghiệp đã chấp nhận chi 4% để có được chứng thư bảo lãnh này. Cơ quan điều tra đã
làm rõ, các chứng thư bảo lãnh mà các đối tượng này làm giả có giá trị lên đến 80 tỷ
đồng.
Ngày 14-8 Cơ quan CSĐT - Bộ Công an đã chuyển hồ sơ sang VKSND Tối
cao đề nghị truy tố vợ chồng Nguyễn Thị Mỹ Linh và Phạm Phước Anh Huy
(TP.HCM) và 3 đồng bọn về hành vi làm giả giấy tờ, tài liệu chiếm đoạt nhiều tỷ
đồng. Trước đó vợ chồng Linh - Huy đã làm giả con dấu của Ngân hàng HDB chi
nhánh Nguyễn Trãi (TP.HCM) và làm giả dấu tên của Giám đốc Chi nhánh ngân
hàng này với mục đích làm giả các văn bản như giấy xác nhận số dư tài khoản ngân
hàng, chứng thư bảo lãnh thanh toán nhằm chiếm đoạt tiền của doanh nghiệp. Sau
những vụ việc làm giả chứng thư bảo lãnh, Ngân hàng Nhà nước đã yêu cầu các tổ
chức tín dụng rà soát và ban hành đầy đủ quy trình quản lý, sử dụng và bảo quan con
dấu tại đơn vị. Ngoài ra, các Ngân hàng cũng đã tăng cường công tác quản lý nhân
sự, kiểm tra, giám sát việc tuân thủ các quy định về quan lý và sử dụng con dấu.
d) Nội dung trong chứng thư bảo lãnh không rõ ràng
Có trường hợp ngân hàng cấp tín dụng cho khách hàng để thi công công trình
xây dựng trên cơ sở nhận được bảo lãnh từ phía ngân hàng bạn. Khi khách hàng
không trả nợ, ngân hàng cho vay yêu cầu thanh toán bảo lãnh thì nhận được trả lời từ
chối thanh toán, vì đã hết thời hạn. Xem lại chứng thư bảo lãnh thì do câu chữ không
chặt chẽ, dẫn đến mỗi bên hiểu một kiểu. Ngân hàng phát hành ghi bảo lãnh có hiệu
lực trong 180 ngày kể từ ngày phát hành bảo lãnh. Ngân hàng thụ hưởng bảo lãnh lại
hiểu 180 ngày làm việc, trừ ngày nghỉ, thứ Bảy, chủ Nhật… Bởi vậy, khi ngân hàng
đối phát triển. Tủy theo nhu cầu của khách hàng, các NHTM rất linh hoạt trong việc
phát hành các loại hình bảo lãnh. Tuy nhiên tùy thuộc vào qui mô vốn mà từng ngân
hàng áp dụng đầy đủ hoặc một trong số các loại hình như nói ở trên. Một số dịch vụ
bảo lãnh của các ngân hàng:
Ngân hàng Các loại bảo lãnh
Vietcombank
• Bảo lãnh vay vốn
• Bảo lãnh thanh toán / Thư tín dụng dự
phòng
• Bảo lãnh dự thầu
• Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
• Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm
• Bảo lãnh thanh toán tiền ứng trước (Bảo
lãnh hoàn trả tiền ứng trước, bảo lãnh hoàn
trả tiền đặt cọc hoặc bảo lãnh tiền đặt cọc)
• Bảo lãnh khoản tiền giữ lại (Bảo lãnh
chất lượng công trình/ Bảo lãnh bảo hành/
Bảo lãnh bảo dưỡng)
• Bảo lãnh đối ứng
• Xác nhận bảo lãnh
• Bảo lãnh du học
• Các loại bảo lãnh khác pháp luật không
cấm và phù hợp với thông lệ quốc tế
BIDV
• Bảo lãnh dự thầu
• Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
• Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước
• Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm
• Bảo lãnh thanh toán
22
• Bảo lãnh dự thầu
• Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
• Bảo lãnh bảo hành
• Bảo lãnh thuế quan
• Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm
• Bảo lãnh hoàn thanh toán
• Tái bảo lãnh (phát hành bảo lãnh trên cơ
sở cam kết bảo lãnh đối ứng của một ngân
hàng khác)
• Các loại bảo lãnh khác.
2.2.2 Xây dựng môi trường cạnh tranh lành mạnh:
Không chỉ tạo sự cạnh tranh công bằng giữa các NH trong nước mà hoạt động
tìn dụng cũng đã và đang tạo diều kiện cho cả các NH nước ngoài tham gia vào thị
trường VN đầy tiềm năng. Theo cam kết mở cửa hội nhập trong lĩnh vực NH, các
NH nước ngoài được phép thực hiện nhiều dịch vụ NH trong đó có dịch vụ bảo lãnh
và cam kết. Dịch vụ này là thế mạnh của các NH nước ngoài vì có nhiều kinh
23
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
nghiệm bảo lãnh, năng lực tài chính lớn và khả năng thẩm định bảo lãnh tốt…
2.2.3 Khả năng sinh lời ngày một tăng:
Theo xu hướng chung của hoạt động ngân hàng trên thế giới, hoạt động bảo
lãnh NH ở Việt Nam trong những năm gần đây có được sự quan tâm phát triển của
NHNN và NHTM. Và tại các NH Việt Nam khả năng sinh lợi của hoạt động này
ngày một tăng. Điều này thể hiện ở: doanh thu tăng trưởng nhanh qua các năm; số vụ
bảo lãnh tăng cao; qui mô bảo lãnh tăng; tỷ trọng doanh thu từ hoạt động bảo lãnh
của các ngân hàng đều tăng.
Xu hướng nền kinh tế là việc chứng khoán hóa các khoản nợ, các doanh nghiệp
ưa thích việc chứng khoán hóa các khoản nợ, các doanh nghiệp ưa thích việc tài trợ
vốn thông qua thị trường chứng khoán bằng việc phát hành chứng khoán nợ và
chứng khoán vốn. Do đây là kênh huy động vốn trung và dài hjan với chi phí thấp
thiện: sự ra đời luật doanh nghiệp thống nhất, luật đầu tư thống nhất, sau đó là luật
chứng khoán được coi là những bước ngoặt quan trọng đưa Việt Nam gia nhập sân
chơi WTO.
2.2.5 Giúp thúc đẩy các chỉ tiêu khác:
24
GVHD: PGS.TS Trầm Thị Xuân Hương Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
Hoạt động bảo lãnh ngân hàng phát triển góp phần nâng cao uy tín ngân hàng,
không chỉ với thị trường trong nước mà con cả thị trường quốc tế. Vì thực chất hoạt
động bảo lãnh là việc sử dụng chữ “tín” của ngân hàng. Do đó việc phát triển của về
qui mô và chất lượng các vụ bảo lãnh trong và ngoài nước sẽ tác động ngược lại làm
tăng uy tín ngân hàng.
Nghiệp vụ bảo lãnh góp phần nâng cao uy tín cho ngân hàng và thu hút thêm
nhiều khách hàng mới bằng việc thực hiện nghiêm túc các cam kết với khách hàng,
thực hiện qui trình thẩm định một cách cẩn thận.
Và cùng với đó là giúp đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, đáp ứng tốt hơn nhu
cầu đa dạng của khách hàng cũng như giúp ngân hàng phân tán rủi ro. Thị trường tài
chính Việt Nam chưa bao giờ cạnh tranh như bây giờ. Những mảng kinh doanh
truyền thống như : nhận gửi tiền và cho vay, kinh doanh ngoại tệ thực sự bị chia nhỏ
thị phần rất nhiều, việc phát triển các hoạt động ngân hàng hiện tại như bảo lãnh
không chỉ làm tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng, tăng doanh thu, phân tán rủi
ro mà còn nân cao khả năng đáp ứng nhu cầu khách hàng trong điều kiện mới của
các ngân hàng.
Hoạt động bảo lãnh kéo theo việc phát triển các hoạt động khác của ngân hàng như:
kinh doanh ngoại tệ, tư vấn, thanh toán….
2.2.6 Chất lượng bảo lãnh ngày càng tăng cao:
Chất lượng bảo lãnh ngày càng tăng cao đặc biệt là trong những năm gần đây
không những tăng nhanh về doanh số cung như thu nhập mà số lượng khách hàng
tham gia hoạt động ngày một tăng.
Các ngân hàng đang chú trọng tới việc mở rộng đối tượng khách hàng. Phí thu
từ bảo lãnh ngày càng tăng góp phần đáng kể vào nguồn thu phí dịch vụ của ngân