tiểu luận môn nghiệp vụ ngân hàng thương mại phân biệt hệ thống ngân hàng hai cấp ở nước chxhcn việt nam - Pdf 25

PHÂN BIỆT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG HAI CẤP Ở NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LỚP CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 4 – K 21
*
PHÂN BIỆT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG HAI CẤP Ở NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
Giảng viên: PGS.TS Hoàng Đức
Nhóm thực hiện: 1. Trần Phương Linh
2. Trần Văn Lợi
3. Nguyễn Thị Kim Ngọc
4. Lê Nguyễn Quốc Trung
Lớp - Khóa: NH Đêm 4 – K21
TP.Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2013
Giảng viên hướng dẫn: TS. HOÀNG ĐỨC Trang 1
PHÂN BIỆT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG HAI CẤP Ở NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
1. NGÂN HÀNG CẤP 1 - NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC:
1.1. Lịch sử hình thành:
Trước Cách mạng tháng 8 năm 1945, Việt Nam là nước thuộc địa nửa phong kiến dưới
sự thống trị của thực dân Pháp. Hệ thống tiền tệ, tín dụng ngân hàng được thiết lập và
hoạt động chủ yếu phục vụ chính sách thuộc địa của Nhà nước Pháp ở Việt Nam. Trong
suốt thời kỳ thuộc địa, sự hình thành và phát triển của hệ thống tiền tệ, tín dụng đều do
Chính phủ Pháp xếp đặt, bảo hộ thông qua Ngân hàng Đông Dương. Thực chất, Ngân
hàng Đông Dương hoạt động với tư cách là một Ngân hàng phát hành Trung ương,
đồng thời là một ngân hàng kinh doanh đa năng bao gồm các nghiệp vụ ngân hàng
thương mại và nghiệp vụ đầu tư.
Sau Cách mạng tháng 8, một trong những nhiệm vụ trọng tâm của chính quyền cách
mạng là phải từng bước xây dựng nền tiền tệ độc lập, tự chủ, công cụ quan trọng của
chính quyền để xây dựng và bảo vệ đất nước. Nhiệm vụ này dần trở thành hiện thực khi
bước sang năm 1950, cuộc kháng chiến chống Pháp của nhân dân Việt Nam ngày một
tiến triển mạnh mẽ với những chiến thắng vang dội trên khắp các chiến trường và vùng
giải phóng không ngừng được mở rộng. Sự chuyển biến của cục diện cách mạng đòi hỏi
công tác kinh tế, tài chính phải được củng cố và phát triển theo yêu cầu mới. Trên cơ sở

- Vụ Thanh toán: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện quản lý Nhà nước về lĩnh
vực thanh toán trong nền kinh tế quốc dân theo quy định của pháp luật.
- Vụ Tín dụng: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện quản lý Nhà nước về lĩnh vực
tín dụng ngân hàng và điều hành thị trường tiền tệ theo quy định của pháp luật.
- Vụ Dự báo thống kê tiền tệ: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện công tác dự
báo, thống kê tiền tệ theo quy định của pháp luật.
- Vụ Hợp tác quốc tế: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện chức năng quản lý Nhà
nước về hợp tác và hội nhập quốc tế thuộc phạm vi quản lý của NHNN theo quy định
của pháp luật.
- Vụ Kiểm toán nội bộ: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện kiểm toán nội bộ hoạt
động của các đơn vị thuộc NHNN.
- Vụ Pháp chế: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện quản lý Nhà nước bằng pháp
luật và tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa trong ngành ngân hàng.
- Vụ Tài chính- Kế toán: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện công tác tài chính,
kế toán, đầu tư xây dựng cơ bản của NHNN và quản lý Nhà nước về kế toán, đầu tư xây
dựng cơ bản của ngành Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
- Vụ Tổ chức cán bộ: Tham mưu, giúp Thống đốc, ban cán sự Đảng NHNN thực
hiện công tác tổ chức, biên chế, quản lý, sử dụng cán bộ, công chức, viên chức; chế độ
tiền lương và các chế độ khác thuộc phạm vi quản lý của NHNN theo quy định của
pháp luật.
- Vụ Thi đua khen thưởng: Tham mưu, giúp Thống đốc quản lý Nhà nước về công
tác thi đua, khen thưởng trong ngành Ngân hàng theo quy định của pháp luật.
- Văn phòng: Tham mưu, giúp Thống đốc chỉ đạo và điều hành hoạt động ngân
hàng; thực hiện công tác cải cách hành chính của NHNN; quản lý hoạt động thông tin,
tuyên truyền, báo chí, văn thư, lưu trữ của ngành Ngân hàng theo quy định của pháp
luật; thực hiện công tác hành chính, lễ tân, văn thư, lưu trữ tại trụ sở chính NHNN.
- Cục Công nghệ tin học: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện nhiệm vụ quản lý
Nhà nước chuyên ngành về lĩnh vực công nghệ tin học trong phạm vi toàn ngành Ngân
hàng.
- Cục Phát hành và kho quỹ: Tham mưu, giúp Thống đốc thực hiện chức năng quản

định của NHNN và của pháp luật.
- Thời báo ngân hàng: Đơn vị sự nghiệp Nhà nước thuộc NHNN; là cơ quan ngôn
luận, diễn đàn xã hội và là công cụ tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương của
Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và hoạt động của ngành Ngân hàng theo quy
định của NHNN và của pháp luật.
- Tạp chí ngân hàng: Đơn vị sự nghiệp Nhà nước thuộc NHNN; là cơ quan ngôn
luận và diễn đàn về lý luận, nghiệp vụ, khoa học và công nghệ ngân hàng; có chức năng
tuyên truyền, phổ biến đường lối chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà
Giảng viên hướng dẫn: TS. HOÀNG ĐỨC Trang 5
PHÂN BIỆT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG HAI CẤP Ở NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
nước, hoạt động ngân hàng và những thành tựu về khoa học, công nghệ của ngành
Ngân hàng và lĩnh vực liên quan theo quy định của NHNN và của pháp luật.
- Trường bồi dưỡng cán bộ ngân hàng: Đơn vị sự nghiệp có thu thuộc cơ cấu tổ
chức của NHNN, có chức năng đào tạo, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức, kỹ năng quản lý
Nhà nước và chuyên môn nghiệp vụ thuộc lĩnh vực ngân hàng phục vụ yêu cầu phát
triển và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức của NHNN và của
ngành ngân hàng theo quy hoạch, kế hoạch đã được Thống đốc phê duyệt.
1.3. Chức năng:
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (sau đây gọi tắt là Ngân hàng Nhà nước) là cơ quan
ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động
ngân hàng và chức năng Ngân hàng Trung ương của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa
Việt Nam; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc phạm vi quản lý của Ngân hàng
Nhà nước.
1.4. Các nghiệp vụ hoạt động chủ yếu:
1.4.1. Thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia:
Điều 15 Luật Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam quy định Ngân Hàng Nhà Nước trong
việc thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia:
- Chủ trì xây dựng chính sách tiền tệ quốc gia, kế hoạch cung ứng tiền tệ bỏ ra lưu
thông hàng năm trình Chính Phủ.
- Điều hành các công cụ chính sách tiền tệ quốc gia; Thực hiện việc đưa tiền ra lưu

tiền gửi trong từng thời kỳ.
• Nghiệp vụ thị trường mở:
Nghiệp vụ thị trường mở là nghiệp vụ mua bán các chứng từ có giá ngắn hạn: tín phiếu
kho bạc, chứng chỉ tiền gửi, tín phiếu Ngân Hàng Nhà Nước…trên thị trường tiền tệ.
1.4.2. Phát hành tiền:
Khái niệm: Phát hành tiền là cung ứng tiền vào lưu thông làm phương tiện than toán
Điều 23 Luật Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam quy định: Ngân Hàng Nhà Nước Việt
Nam là cơ quan duy nhất phát hành tiền của Nước Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa Việt
Nam bao gồm tiền giấy và tiền kim loại.
Nghị định 87 (31/10/1998) về phát hành, thay thế thu hồi tiền giấy tiền kim loại. Ngân
Hàng Nhà Nước căn cứ tổng cung cầu tiền tệ trên thị trường của nền kinh tế để phát
hành.
Nội dung bao gồm:
Giảng viên hướng dẫn: TS. HOÀNG ĐỨC Trang 7
PHÂN BIỆT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG HAI CẤP Ở NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
• Tổ chức in, đúc, thiết kế mẫu
• Bảo quản tiền
• Vận chuyển tiền (sử dụng xe chuyên dùng, công an giám sát)
• Tiêu hủy tiền (rách, nát, …)
• Thu hồi thay thế tiền
1.4.3. Hoạt động tín dụng:
Mục đích nhằm thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, đảm bảo an toàn cho hệ thống tín
dụng.
Hoạt động tín dụng của Ngân Hàng Nhà Nước được thực hiện dưới các hình thức bảo
lãnh, tạm ứng cho ngân sách Nhà Nước, cho vay.
Bảo lãnh của Ngân Hàng Nhà Nước chỉ áp dụng cho tổ chức tín dụng vay vốn nước
ngoài theo chỉ định của thủ tướng chính phủ.
Tạm ứng cho ngân sách Nhà Nước để xử lý thiếu hụt tạm thời quỹ ngân sách Nhà Nước
theo quyết định của Thủ Tướng Chính Phủ.
Cho vay là hình thức hoạt động tín dụng của Ngân Hàng Nhà Nước, theo đó Ngân

có quy định này)
Hoạt động ngoại hối là hoạt động đầu tư, vay, cho vay, mua bán, bảo lãnh và các giao
dịch khác về ngoại hối
Nghị định 63/1998/NĐCP quy định ngoại hối chỉ được lưu hành thông qua hệ thống
ngân hàng, tổ chức và cá nhân được phép hoạt động ngoại hối
Điều 37 Luật Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam quy định toàn quyền quản lý hành chính
nhà nước của Ngân Hàng Nhà Nước về ngoại hối.
Xây dựng các dự án Luật, Pháp Lệnh về quản lý ngoại hối.
Cấp, thu hồi giấy phép hoạt động ngoại hối.
Kiểm soát ngoại hối của các tổ chức tín dụng
Quản lý ngoại hối bằng nghiệp vụ:
Nhà nước giao cho Ngân Hàng Trung Ương dự trữ ngoại hối, nhằm thực hiện chính
sách quan hệ quốc gia, đảm bảo khả năng thanh toán quốc tế, bảo toàn dự trữ ngoại hối
nhà nước.
Hoạt động ngoại hối của Ngân Hàng Nhà Nước thực hiện trên thị trường trong nước và
quốc tế.( điều 39 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam 1997).
1.4.6. Thanh tra ngân hàng:
Khái niệm:
Giảng viên hướng dẫn: TS. HOÀNG ĐỨC Trang 9
PHÂN BIỆT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG HAI CẤP Ở NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
Thanh tra ngân hàng là bộ phận của hoạt động quản lý nhà nước về Ngân Hàng. Do đó
hoạt động của thanh tra ngân hàng có đặc điểm của hoạt động thanh tra Nhà Nước
Đặc điểm:
Hoạt động thanh tra ngân hàng mang tính quyền lực nhà nước, do cơ quan nhà nước có
thẩm quyền thực hiện
Điều 50 Luật Ngân Hàng: thanh tra ngân hàng là thanh tra chuyên dùng, đứng đầu là
chánh thanh tra.
Thanh tra gắn liền với hoạt động quản lý nhà nước về Ngân Hàng. Thanh Tra chuyên
ngành có quyền thanh tra việc thực hiện chính sách pháp luật liên quan đến chức năng
quản lý Nhà nước của Ngân Hàng Nhà nước về tiền tệ ngân hàng.

dung thường xuyên là nhận tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng
dịch vụ thanh toán.
Như vậy ngân hàng thương mại là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc
nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn
nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát
triển kinh tế.
Từ đó có thể nói bản chất của ngân hàng thương mại được thể hiện qua các điểm sau:
- Ngân hàng thương mại là một tổ chức kinh tế.
- Ngân hàng thương mại hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực tiền tệ tín dụng và
dịch vụ ngân hàng.
Phân biệt NHTM và TCTD phi ngân hàng
NHTM TCTD phi ngân hàng
- Là tổ chức tín dụng
- Thực hiện toàn bộ hoạt động ngân
hàng
- Là tổ chức nhận tiền gửi (deposit
institution)
- Cung cấp dịch vụ thanh toán
- Là tổ chức tín dụng
- Được thực hiện một số hoạt động
ngân hàng
- Là tổ chức không nhận tiền gửi
(nondeposit institution)
- Không cung cấp dịch vụ thanh
toán
Giảng viên hướng dẫn: TS. HOÀNG ĐỨC Trang 11
PHÂN BIỆT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG HAI CẤP Ở NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
2.2. Phân loại Ngân hàng thương mại:
2.2.1. Dựa vào hình thức sở hữu :
a. Ngân hàng thương mại Quốc doanh (State owned Commercial bank): Là ngân

- INDOVINA BANK LIMITTED
- NH Việt Nga
- SHINHANVINA BANK
- VID PUBLIC BANK
- VINASIAM BANK
- …
d. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài: là ngân hàng được thành lập theo pháp luật
nước ngoài, được phép mở chi nhánh tại Việt Nam, hoạt động theo pháp luật Việt Nam
- CITY BANK
- BANGKOK BANK
- SHINHAN BANK
- DEUSTCH BANK
e. NHTM 100% vốn nước ngoài: là NHTM được thành lập tại VN với 100% vốn điều
lệ thuộc sở hữu nước ngoài; trong đó phải có một NH nước ngoài sở hữu trên 50% vốn
điều lệ (NH mẹ). NHTM 100% vốn nước ngoài được thành lập dưới hình thức công ty
TNHH một thành viên hoặc từ hai thành viên trở lên, là pháp nhân VN, có trụ sở chính
tại VN.
- NH TNHH một thành viên ANZ
- NH TNHH một thành viên Standard Chartered
- NH TNHH một thành viên HSBC
- NH TNHH một thành viên Shinhan
- NH TNHH một thành viên Hongleong
2.2.2. Dựa vào chiến lược kinh doanh:
a. Ngân hàng bán buôn: là loại NH chỉ giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối
tượng khách hàng doanh nghiệp chứ không giao dịch với khách hàng cá nhân.
b. Ngân hàng bán lẻ: là loại NH giao dịch và cung ứng dịch vụ cho đối tượng
khách hàng cá nhân.
c. Ngân hàng vừa bán buôn vừa bán lẻ: là loại NH giao dịch và cung ứng dịch
vụ cho cả khách hàng doanh nghiệp lẫn khách hàng cá nhân.
Giảng viên hướng dẫn: TS. HOÀNG ĐỨC Trang 13

Giảng viên hướng dẫn: TS. HOÀNG ĐỨC Trang 14
PHÂN BIỆT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG HAI CẤP Ở NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản chất của ngân NHTM. Với mục
tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho sự tồn tại và phát triển của
mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính đặc thù của mình đã vô hình
chung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức
năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân
hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được khách hàng
sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài khoản tiền gửi
thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền giao dịch, được họ sử
dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng này, hệ thống NHTM đã
làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế, đáp ứng nhu cầu thanh toán,
chi trả của xã hội. Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc
của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với nhtm. do vậy ngân hàng trung ương có
thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh tế lớn.
2.4. Các nghiệp vụ của ngân hàng thương mại:
2.4.1. Nghiệp vụ nguồn vốn (Tài sản Nợ - NGUỒN VỐN) của ngân hàng thương
mại:
Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân
hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được phép
sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các
nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh
tế.
Thành phần nguồn vốn của ngân hàng thương mại gồm:
– Vốn điều lệ (Statutory Capital)
– Các quỹ dự trữ (Reserve funds)
– Vốn huy động (Mobilized Capital)
– Vốn đi vay (Bonowed Capital)
– Vốn tiếp nhận (Trust capital)

b. Vốn huy động:
Đây là nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng thương mại, thực chất là tài sản bằng tiền
của các chủ sở hữu chủ mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhưng phải có nghĩa
vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu. Nguồn vốn huy động là nguồn tài
nguyên to lớn nhất
 Nguồn hình thành
 Nhận tiền gửi
Giảng viên hướng dẫn: TS. HOÀNG ĐỨC Trang 16
PHÂN BIỆT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG HAI CẤP Ở NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
- Tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân
- Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
 Phát hành giấy tờ có giá: kỳ phiếu, trái phiếu
 Các khoản tiền gửi khác
 Đặc điểm vốn huy động
 Nguồn vốn không ổn định
 Nguồn vốn chiếm tỷ trọng lớn nhất
 Mục đích sử dụng
 Thiết lập dự trữ
 Cấp tín dụng
c. Vốn đi vay:
Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại.
Thuộc loại này bao gồm:
 Vốn vay trong nước:
 Vay ngân hàng trung ương: NHTW sẽ tiếp vốn cho ngân hàng thương mại thông
qua biện pháp chiết khấu, tái chiết khấu nếu các hồ sơ tín dụng cùng các chứng
từ xin tái chiết khấu có chất lượng. Làm như vậy, NHTW sẽ trở thành chỗ dựa
và là người cho vay cuối cùng đối với ngân hàng thương mại
 Vay các ngân hàng thương mại khác thông qua thị trường liên ngân hàng
(Interbank Market)

mà bằng chứng khoán, nghĩa là các chứng khoán ngắn hạn có thể bán để chuyển
thành tiền một cách thuận lợi. Thuộc loại này gồm:
- Tín phiếu kho bạc
- Hối phiếu đã chấp nhận
- Các giấy nợ ngắn hạn khác
Gọi là dự trữ thứ cấp bởi nó chỉ được sử dụng khi các khoản mục dự trữ sơ cấp bị cạn
kiệt. Khi quản lý dự trữ bắt buộc, ngân hàng TW có thể áp dụng 1 trong 3 phương pháp.
 Phương pháp phong toả: Theo đó toàn bộ mức dự trữ bắt buộc phải gửi vào một
tài khoản tại ngân hàng TW và sẽ bị phong toả để đảm bảo thực hiện đúng mức
dự trữ.
 Phương pháp bán phong toả: Theo đó một phần của mức dự trữ bắt buộc sẽ được
quản lý và phong toả tại một tài khoản riêng ở NHTW.
Giảng viên hướng dẫn: TS. HOÀNG ĐỨC Trang 18
PHÂN BIỆT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG HAI CẤP Ở NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
 Phương pháp không phong toả: theo phương pháp này tiền dự trữ được tính và
thực hiện hàng ngày trên cơ sở số dư thực tế về tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi
có kỳ hạn. Toàn bộ mức dự trữ sẽ không bị phong toả, nó có thể tồn tại dưới
hình thức tiền mặt hay tiền gửi ngân hàng TW hay dưới dạng chứng khoán ngắn
hạn là tuỳ NH thương mại, tuy nhiên đến cuối mỗi tháng, NHTW sẽ kiểm tra
việc thực hiện dự trữ bắt buộc, nếu các NHTM không thực hiện đúng sẽ bị phạt
(cảnh cáo, phạt tiền nếu tái phạm)
b. Cấp tín dụng: (Credits):
Số nguồn vốn còn lại sau khi để dành một phần dự trữ, các ngân hàng thương mại có
thể dùng để cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân bao gồm:
 Cho vay (Loans):
Là tín dụng nghiệp vụ của ngân hàng thương mại. Trong đó ngân hàng thương mại sẽ
cho người đi vay, vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng. Khi
đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi. Ngân hàng kiểm soát được người đi
vay, kiểm soát được quá trình sử dụng vốn. Người đi vay có ý thức trả nợ cho nên bắt
buộc họ phải quan tâm đến việc sử dụng làm sao có hiệu quả để hoàn trả nợ vay. Trong

nhờ hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động ngân hàng sẽ được phân tán, mặt
khác đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì mức độ rủi ro sẽ rất thấp
d. Tài sản Có khác:
Những khoản mục còn lại của tài sản Có trong đó chủ yếu là tài sản cố định nhằm: Xây
dựng hoặc mua thêm nhà cửa để làm trụ sở văn phòng, trang thiết bị, máy móc, phương
tiện vận chuyển, xây dựng hệ thống kho quỹ…ngoài ra còn các khỏan phải thu, các
khoản khác…
2.4.3. Nghiệp vụ trung gian:
Những dịch vụ ngân hàng ngày càng phát triển vừa cho phép hỗ trợ đáng kể cho nghiệp
vụ khai thác nguồn vốn, mở rộng các nghiệp vụ đầu tư, vừa tạo ra thu nhập cho ngân
hàng bằng các khoản tiền hoa hồng, lệ phí… có vị trí xứng đáng trong giai đoạn phát
triển hiện nay của ngân hàng thương mại. Các hoạt động này gồm:
 Các dịch vụ thanh toán thu chi hộ cho khách hàng (chuyển tiền, thu hộ séc, dịch
vụ cung cấp thẻ tín dụng, thẻ thanh toán )
 Nhận bảo quản các tài sản quí giá, các giấy tờ chứng thư quan trọng của công
chúng
 Bảo quản, mua bán hộ chứng khoán theo uỷ nhiệm của khách hàng
 Kinh doanh mua bán ngoại tệ, vàng bạc đá quí
 Tư vấn tài chính, giúp đỡ các công ty, xí nghiệp phát hành cổ phiếu, trái phiếu…
Giảng viên hướng dẫn: TS. HOÀNG ĐỨC Trang 20
PHÂN BIỆT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG HAI CẤP Ở NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
3. MỐI QUAN HỆ GIỮA NHTW VỚI NHTM TRONG NỀN KINH TẾ:
3.1. Mối quan hệ tương hỗ:
3.1.1. Thanh toán chứng khoán khi đến hạn:
NHTW là ngân hàng của chính phủ có nghĩa vụ cung cấp các dịch vụ hoặc làm đại lý tư
vấn cho chính phủ. Dịch vụ mà NHTW cung cấp thường xuyên và có hiệu quả cho
chính phủ là đại lý trong việc phát hành chứng khoán chính phủ. Khi chính phủ có nhu
cầu bù đắp thâm hụt ngân sách. NHTW thực hiện một dich vụ đại lý toàn phần cho các
hoạt động phát hành chứng khoán Chính phủ. Sau đó phân phối chứng khoán trúng thầu
và nhận tiền vào kho bạc nhà nước. Cuối cùng việc tổ chức thanh toán chứng khoán khi

sút này làm tăng lãi suất liên ngân hàng, từ đó gây ảnh hưởng đến các mức lãi suất dài
hạn và khối lượng tiền cung ứng
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là cầu nối trực tiếp giữa 2 hệ thống ngân hàng, được NHTW sử
dụng như một phương tiện quản lý trực tiếp hoạt động ngân hàng thương mại và gián
tiếp đến mức lãi suất tiền gửi của khách hàng. Làm tăng hoặc giảm lượng tiền lưu
thông phù hợp tình hình kinh tế trong một thời gian nhất định.
3.1.3. Thông qua tỷ lệ dự trữ dư thừa của hệ thống thương mại:
Thường các ngân hàng dự trữ trong NHTW một lượng tiền lớn hơn lượng tiền dự trữ
bắt buộc đó là lượng tiền dư thừa. Tỷ lệ tiền dư thừa tăng lên do các nhu cầu cần thiết
cho hoạt động kinh tế giảm, dự trữ để tạo tiền giảm. Để đáp ứng được thay đổi này,
ngân hàng thực hiện việc thu hồi các khoản vay hoặc bán bớt chứng khoán nắm giữ.
Với ảnh hưởng trong toàn bộ hệ thống, hành động này sẽ làm giảm lượng tiền gửi và
tiền cung ứng ra nền kinh tế. Lượng tiền sẽ ảnh hưởng đến NHTW buộc NHTW phải
tác động vào để làm tăng lượng tiền cung ứng cho các ngân hàng thương mại thông qua
dự trữ bắt buộc. Lượng tiền dư thừa này cùng với lượng tiền dự trữ được đem ra sử
dụng cho hoạt động đầu tư kinh doanh đem lại lợi nhuận cho NHTW hay trợ giúp các
ngân hàng gặp khó khăn.
3.1.4. Hoạt động của ngân hàng thương mại:
NHTM hoạt động có hiệu quả luôn tìm ra những dịch vụ mới phù hợp nhu cầu của
khách hàng. Trong tình hình hiện nay việc thanh toán, chuyển khoản, vay vốn trong hệ
thống NHTM rất thuận tiện nhanh gọn. Cùng sự trợ giúp bằng hành lang pháp lý cũng
như quyền lực của NHTW, NHTM dần tạo được uy tín, lòng tin đối với khách hàng và
kích thích họ tham gia vào hoạt động ngân hàng, gửi số tiền nhàn rỗi. Số vốn huy
động đó được đầu tư tham gia vào quá trình sản xuất triệt để kinh doanh sinh lời cho
NHTM. Về phía NHTW, lượng nhàn rỗi được huy động trong công chúng ngày càng
nhiều, giúp NHTW thực hiện tốt chức năng lưu thông tiền tệ, tránh đươc tối thiểu
lượng tiền cần phát hành để bù đắp cho thâm hụt trong thời gian nhất định.
NHTM là ngân hàng mọi hoạt động đều dưới sự quản lý, điều khiển và chi phối của
NHTW. Dưới sự bảo hộ này, NHTM cùng với NHTW tích cự tham gia vào việc thực
hiện tốt mục tiêu chung của nền kinh tế tiền.

bắt buộc. NHTW ấn định tỷ lệ đó khi tăng khi giảm tuỳ theo tình hình.
- Những quyền lực khác của NHTW đối với NHTM:
+ NHTW đư ợc giao quyền xét đơn xin thành lập các ngân hàng, chế tài các vụ vi phạm
luật lệ ngân hàng.
Giảng viên hướng dẫn: TS. HOÀNG ĐỨC Trang 23
PHÂN BIỆT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG HAI CẤP Ở NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM
+ NHTW có nhiệm vụ kiểm soát, thanh tra các ngân hàng trung gian, nhằm giúp cho hệ
thống ngân hàng hoạt động trên căn bản thanh khiết, từ đó bảo vệ quyền lợi của người
gửi tiền và quyền lợi chung của xã hội và nền kinh tế.
+ NHTW ấn định các lãi xuất, lệ phí hoa hồng áp dụng cho các ngân hàng trung gian,
quy định các thể lệ điều hành các nghiêp vụ,
3.2.2. Thông qua các khả năng khác của ngân hàng Trung ương:
- NHTW cấp tín dụng cho các ngân hàng trung gian dưới nhiều hình thức như cho vay,
mua bán, chiết khấu, tái chiết khấu đối với giấy tờ có giá trị của NHTM
- Cung cấp những tiện nghi ngân hàng cho các NHTM.
- Giúp các NHTM trong việc thanh toán những món nợ với nhau mà không phải di
chuyển tiền bạc bằng cách thiết lập phòng giao hoán tại trụ sở của mình.
3.3. Kết luận về mối quan hệ giữa ngân hàng Trung ương và ngân hàng thương
mại:
Trong sự phát triển của nền kinh tế hiện nay sự liên kết giữa 2 hệ thống NHTW và
NHTM ngày càng quan trọng hơn. Mối liên hệ chặt chẽ bổ sung hỗ trợ nhau, cùng giúp
nhau thực hiện tốt chức năng của mình đem lại hiệu quả lợi nhuận cao. Góp phần làm
vững mạnh hệ thống ngân hàng, tạo uy tín cho những người tham gia, kích thích công
chúng gửi tiền nhàn rỗi vào hệ thống ngân hàng. Tăng cường lưu thông tiền tệ, đẩy
nhanh quá trình tái sản xuất thúc đẩy nền kinh tế tiền tệ.
Đăc biệt đối với Việt Nam là một nước xã hội chủ nghĩa, sự phụ thuộc của NHTW vào
chính phủ càng cao. Vai trò điều tiết chính sách tiền tệ để ổn định giá cả, hạn chế lạm
phát trong nền kinh tế rất quan trọng. Nên việc tìm hiểu mối quan hệ giữa 2 hệ thống
NHTW và NHTM trong nền kinh tế thị trường là cần thiết. Để đưa hệ thống NHTM nói
riêng cũng như các ngân hàng khác hoạt động theo một định hướng thống nhất theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status