tiểu luận môn nghiệp vụ ngân hàng thương mại giải pháp gia tăng vốn tự có của các ngân hàng thương mại - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
LỚP CAO HỌC NGÂN HÀNG ĐÊM 4 – K 21
*
VẤN ĐỀ 2:
GIẢI PHÁP GIA TĂNG VỐN TỰ CÓ
CỦA CÁC NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
Giảng viên: PGS.TS Hoàng Đức
Nhóm thực hiện: 1. Trần Phương Linh
2. Trần Văn Lợi
3. Nguyễn Thị Kim Ngọc
4. Lê Nguyễn Quốc Trung
Lớp - Khóa: NH Đêm 4 – K21
Vấn đề 2: Giải pháp gia tăng vốn tự có của các Ngân hàng thương mại
TP.Hồ Chí Minh, tháng 02 năm 2013
2
Vấn đề 2: Giải pháp gia tăng vốn tự có của các Ngân hàng thương mại
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU 4
6.1.1.Hệ số giới hạn huy động vốn: 9
6.1.2.Hệ số tỷ lệ giữa vốn tự có so với tổng tài sản có: 9
6.1.3.Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu: (CAR) 10
7.1.Tăng vốn điều lệ 16
7.2.Tăng lợi nhuận giữ lại 17
7.3.Tăng nợ bằng cách phát hành trái phiếu 18
7.4.Sáp nhập, mua lại ngân hàng 20
7.5.Một số phương thức khác 20
8.1.Các tác nhân buộc các ngân hàng thương mại tăng vốn tự có 20
8.1.1.Nguyên nhân vĩ mô 20
8.1.2.Nguyên nhân vi mô 23
8.2.Những thuận lợi và khó khăn trong việc gia tăng vốn tự có hiện nay 25
8.2.1.Thuận lợi 25

NHTMCP trong nước.
Tuy nhiên cũng cần thấy rằng, mặc dầu vốn tự có bình quân của các NHTMCP có tăng
nhưng kết quả việc tăng vốn vẫn chưa đáp ứng hết được những mong đợi của các ngân
hàng. Việc tăng vốn tự có nhanh trong một khoảng thời gian ngắn mà không kèm theo
những thay đổi chưa chắc đã giúp các NHTMCP nâng cao vị thế và tạo ra
những ảnh
hưởng tốt đến các quyết định của thị trường, ngược lại có thể tạo thêm
nhiều nguy cơ
rủi ro tiềm ẩn lớn hơn.
Vì thế cần nghiên cứu các giải pháp tăng vốn tự có tại các NHTM nhằm tìm ra hướng đi
đúng cho các ngân hàng hiện nay.
4
Vấn đề 2: Giải pháp gia tăng vốn tự có của các Ngân hàng thương mại
1. Khái niệm
Vốn tự có gồm giá trị thực của vốn điều lệ của tổ chức tín dụng hoặc vốn được cấp của
chi nhánh ngân hàng nước ngoài và các quỹ dự trữ, một số tài sản nợ khác theo quy định
của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (Khoản 10, Điều 4, Luật các Tổ chức Tín dụng Việt
Nam 2010 số 47/2010/QH12 ngày 16/06/2010)
Về mặt kinh tế, vốn tự có là vốn riêng của ngân hàng do các chủ sở hữu đóng góp và nó
còn được tạo ra trong quá trình kinh doanh dưới dạng lợi nhuận giữ lại.
2. Cấu thành Vốn tự có
Theo thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010, vốn tự có bao gồm vốn tự có cấp
1 và vốn tự có cấp 2:
Vốn cấp 1 (Vốn tự có cơ bản): Là phần vốn tự có hình thành ban đầu và được bổ sung
trong quá trình hoạt động của ngân hang, đây là nguồn vốn tương đối ổn định, bao gồm:
- Vốn điều lệ;
- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ;
- Các quỹ dự phòng khác;
- Quỹ đầu tư và phát triển nghiệp vụ;
- Lợi nhuận không chia;

vốn, giới hạn cho vay và bảo lãnh …vì hoạt động của các ngân hàng thương mại phải
chịu sự chi phối của các quy định pháp luật dựa trên căn cứ là quy mô vốn tự có.
- Ngoài ra, vốn tự có được hình thành từ những nguồn vốn hợp pháp được phép lưu
chuyển trên thị trường tài chính. Trong điều kiện hội nhập của nền kinh tế, vốn tự có của
ngân hàng sẽ mang tính quốc tế gắn liền với môi trường cạnh tranh cao khi mà các ngân
hàng thương mại đang mở rộng việc thu hút đầu tư thông qua thị trường tài chính bằng
các công cụ tài chính đa dạng
4. Chức năng Vốn tự có
Chức năng bảo vệ: Với chức năng bảo vệ, vốn tự có là lá chắn chống đỡ, bù đắp những
tổn thất trong hoạt động kinh doanh ngân hàng:
- Đảm bảo được khả năng thanh toán
6
Vấn đề 2: Giải pháp gia tăng vốn tự có của các Ngân hàng thương mại
- Đảm bảo khoản vốn dự trữ đủ để duy trì được khả năng trả nợ tránh rủi ro do thua
lỗ.
- Đảm bảo sự an toàn vốn của người gửi tiền.
- Trong trường hợp ngân hàng mất khả năng chi trả thì vốn tự có sẽ được sử dụng để
hoàn trả cho khách hàng.
Chức năng hoạt động:
- Tham gia vào việc hình thành nên tài sản cố định cho các ngân hàng hoạt động.
- Cung cấp năng lực tài chính cho sự tăng trưởng và phát triển của các hình thức
dịch vụ mới, cho những chương trình mới.
- Đầu tư các tài sản ngắn hạn và dài hạn như đầu tư vào cổ phiếu, trái phiếu công ty,
trái phiếu chính phủ,…là để đem lại lợi nhuận cho ngân hàng cũng đồngthời nhằm duy trì
mức vốn khả dụng cho ngân hàng
Tuy nhiên, do vốn tự có chiếm tỷ trọng không lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh nên
lợi nhuận mà nó mang lại cũng không cao. Vì vậy chức năng hoạt đông ở đây cũng chỉ là
thứ yếu.
Chức năng điều chỉnh: Vốn tự có xác lập các giới hạn cho hoạt động kinhdoanh ngân
hàng.

bị buộc phải đóng cửa. Vốn chủ sở hữu là sự chống đỡ thua lỗ cuối cùng.
Vì vậy, để chống đỡ lại những rủi ro ngày càng cao gây ra từ nhiều nguồn kác nhau, ngân
hàng cần phải nắm giữ nhiều vốn hơn. Khi ngân hàng tăng vốn điều lệ sẽ làm cho năng
lực tài chính của bản thân ngân hàng tăng lên, các rủi ro của khách hàng và của chính
ngân hàng trong quá trình hoạt động kinh doanh được đảm bảo. Tăng vốn tự có còn giúp
cho quy mô vốn của ngân hàng tăng lên, đáp ứng được những yêu cầu về mặt quản lý của
Chính Phủ và NHNN khi mà vấn đề kiểm soát hoạt động ngân hàng ngày càng trở nên
chặt chẽ hơn nhằm đáp ứng cho yêu cầu hội nhập của nền kinh tế đất nước. Bên cạnh đó,
tăng vốn tự có góp phầnlàm cho quy mô của các ngân hàng tăng lên, giúp ngân hàng triển
khai thêm nhiều nghiệp vụ kinh doanh mới và gia tăng khả năng cạnh tranh của ngân
hàng so với các ngân hàng nước ngoài. Như vậy, tăng năng lực tài chính thông qua tăng
vốn tự có mang ý nghĩa rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng.
8
Vấn đề 2: Giải pháp gia tăng vốn tự có của các Ngân hàng thương mại
6. Tỷ lệ an toàn vốn tự có trong hoạt động kinh doanh của NHTM
6.1. Tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu.
6.1.1. Hệ số giới hạn huy động vốn:
Tổng nguồn vốn huy động: Tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm,
kỳ phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi để huy động vốn, các khoản tiền giữ hộ và đợi
thanh toán, tiền gửi của kho bạc nhà nước (nếu có), tiền gửi của các TCTD ở nước ngoài.
Vốn tự có của Ngân hàng gồm: vốn điều lệ và quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ, quỹ đầu tư
phát triển nghiệp vụ, lợi nhuận không chia.(Vốn cấp 1).
Hệ số này đưa ra không phải để quy định mức VTC tối thiểu, mà để khống chế mức huy
động vốn cho phù hợp với độ lớn của vốn tự có.
Ý nghĩa: nhằm mục đích giới hạn mức huy động vốn của Ngân hàng để tránh tình trạng
khi Ngân hàng huy động vốn quá nhiều vượt quá mức bảo vệ của vốn tự có làm cho ngân
hàng có thể mất khả năng chi trả.
Ở góc độ khác, một số quốc gia còn dùng hệ số này để bảo hộ các ngân hàng trong nước
đối với thị trường tiền gửi trong giai đoạn đầu của hội nhập kinh tế quốc tế (Theo công
văn số 1210/NHNN-CNH của NHNN, các chi nhánh Ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

Tài sản “Có” tương ứng của cam kết ngoại bảng xác định theo mức độ rủi ro được tính
bằng tích số giữa giá trị của cam kết ngoại bảng và hệ số chuyển đổi quy định tại Khoản
6.3 và hệ số rủi ro quy định tại Khoản 6.4 Điều này.
5.1. Tài sản “Có” có hệ số rủi ro bằng 0% gồm:
a) Tiền mặt;
b) Vàng;
c) Tiền gửi tại Ngân hàng Chính sách xã hội theo quy định về tín dụng đối với người
nghèo và các đối tượng chính sách khác;
d) Các khoản phải đòi bằng Đồng Việt Nam đối với Chính phủ Việt Nam, Ngân hàng
Nhà nước hoặc được Chính phủ Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước bảo lãnh;
10
Vấn đề 2: Giải pháp gia tăng vốn tự có của các Ngân hàng thương mại
đ) Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu giấy tờ có giá do chính tổ chức tín dụng phát
hành;
e) Các khoản phải đòi bằng Đồng Việt Nam được bảo đảm bằng giấy tờ có giá do chính
tổ chức tín dụng phát hành; Các khoản phải đòi được bảo đảm hoàn toàn bằng tiền mặt,
sổ tiết kiệm, tiền ký quỹ, giấy tờ có giá do Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước phát hành;
g) Các khoản phải đòi đối với Chính phủ Trung ương, Ngân hàng Trung ương các nước
thuộc OECD;
h) Các khoản phải đòi được bảo đảm bằng chứng khoán của Chính phủ Trung ương các
nước thuộc OECD hoặc được bảo lãnh thanh toán bởi Chính phủ Trung ương các nước
thuộc OECD.
5.2. Tài sản “Có” có hệ số rủi ro bằng 20% gồm:
a) Các khoản phải đòi đối với tổ chức tín dụng khác ở trong nước và nước ngoài, bao gồm
các khoản phải đòi bằng ngoại tệ;
b) Các khoản phải đòi đối với Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
các khoản phải đòi bằng ngoại tệ đối với Chính phủ Việt Nam, Ngân hàng Nhà nước;
c) Các khoản phải đòi bằng ngoại tệ được bảo đảm bằng giấy tờ có giá do chính tổ chức
tín dụng phát hành. Các khoản phải đòi được bảo đảm bằng giấy tờ có giá do tổ chức tín
dụng khác thành lập tại Việt Nam phát hành;

trừ trường hợp cho vay bằng đồng bản tệ và nguồn cho vay cũng bằng đồng bản tệ của
các nước đó.
d) Các khoản đầu tư máy móc, thiết bị, tài sản cố định và bất động sản khác theo quy định
của pháp luật.
đ) Các khoản phải đòi khác ngoài các khoản phải đòi quy định tại Khoản 5.1, Khoản 5.2,
Khoản 5.3, Khoản 5.4, Khoản 5.5 và Khoản 5.6 Điều này.
5.5. Tài sản “Có” có hệ số rủi ro bằng 150% gồm các khoản cho vay các công ty con,
công ty liên doanh, công ty liên kết của tổ chức tín dụng, trừ các khoản phải đòi quy định
tại Khoản 5.6 Điều này.
12
Vấn đề 2: Giải pháp gia tăng vốn tự có của các Ngân hàng thương mại
5.6. Tài sản “Có” có hệ số rủi ro bằng 250% gồm:
a) Các khoản cho vay để đầu tư chứng khoán;
b) Các khoản cho vay các công ty chứng khoán;
c) Các khoản cho vay nhằm mục đích kinh doanh bất động sản.
6.2. Giới hạn tín dụng:
Theo thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010
Điều 8. Giới hạn cho vay, bảo lãnh, chiết khấu giấy tờ có giá
1. Dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng bao gồm dư nợ cho vay theo hợp đồng tín dụng; số
dư nợ tổ chức tín dụng ủy thác cho tổ chức tín dụng khác cho vay; số dư các khoản tổ
chức tín dụng đã trả thay do thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối với khách hàng.
Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng không được vượt quá
15% vốn tự có của tổ chức tín dụng.
2. Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một khách hàng
không được vượt quá 25% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trong đó tổng dư nợ cho vay
đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định tại Khoản 1 Điều này.
3. Tổng dư nợ cho vay của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách hàng có liên quan
không được vượt quá 50% vốn tự có của tổ chức tín dụng, trong đó tổng dư nợ cho vay
đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định tại Khoản 1 Điều này.
4. Tổng dư nợ cho vay và số dư bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với một nhóm khách

8. Tổ chức tín dụng không được cho vay không có bảo đảm để đầu tư, kinh doanh chứng
khoán.
9. Tổng dư nợ cho vay và chiết khấu giấy tờ có giá đối với tất cả khách hàng nhằm đầu
tư, kinh doanh chứng khoán không vượt quá 20% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng.
10. Trường hợp nhu cầu vốn của một khách hàng vượt quá giới hạn cho vay quy định tại
Khoản 1, Khoản 2, Khoản 3, Khoản 4 và Khoản 5 Điều này, tổ chức tín dụng, chi nhánh
ngân hàng nước ngoài được cấp tín dụng hợp vốn theo quy định của Ngân hàng nhà nước.
11. Trong trường hợp đặc biệt, để thực hiện nhiệm vụ kinh tế - xã hội mà khả năng hợp
vốn của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài chưa đáp ứng được yêu
14
Vấn đề 2: Giải pháp gia tăng vốn tự có của các Ngân hàng thương mại
cầu vay vốn, thuê tài chính của một khách hàng thì Thủ tướng Chính phủ có thể quyết
định cụ thể mức cho vay, cho thuê tài chính đối với từng trường hợp cụ thể.
Điều 9. Giới hạn cho thuê tài chính
1. Tổng dư nợ cho thuê tài chính đối với một khách hàng không được vượt quá 30% vốn
tự có của công ty cho thuê tài chính.
2. Tổng dư nợ cho thuê tài chính đối với một nhóm khách hàng có liên quan không được
vượt quá 50% vốn tự có của công ty cho thuê tài chính, trong đó mức cho thuê tài chính
đối với một khách hàng không được vượt quá tỷ lệ quy định tại Khoản 1 Điều này.
6.3. Giới hạn góp vốn, mua cổ phần.
Theo thông tư số 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010.
Điều 15. Nguồn vốn để góp vốn, mua cổ phần
Tổ chức tín dụng chỉ được dùng vốn điều lệ và quỹ dự trữ để góp vốn, mua cổ phần theo
quy định tại Thông tư này.
Điều 16. Giới hạn góp vốn, mua cổ phần
1. Mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng trong một doanh nghiệp, quỹ đầu tư,
dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác không được vượt quá 11% vốn điều lệ của doanh
nghiệp, quỹ đầu tư, dự án đầu tư, tổ chức tín dụng khác đó, trừ trường hợp góp vốn, mua
cổ phần thành lập công ty trực thuộc theo quy định của pháp luật.
Tổng mức góp vốn, mua cổ phần của tổ chức tín dụng và các công ty con, công ty liên

- Phương pháp này làm tăng qui mô vốn nên cũng làm tăng khả năng vay nợ của
NH trong tương lai.
 Nhược điểm:
- Chi phí phát hành cao và có thể làm loãng quyền sở hữu NH; làm giảm mức cổ tức
trên mỗi cổ phiếu (EPS); làm giảm khả năng tận dụng tỷ lệ đòn bẩy tài chính NH
đã có.
Riêng đối với việc phát hành cổ phiếu ưu đãi vĩnh viễn thì có đặc điểm sau:
Tỷ lệ đòn bẩy tài chính =
Vốn cơ bản
Tổng tài sản
- Ưu điểm: Không phải hoàn trả vốn và không làm phân tán quyền kiểm soát NH,
tăng khả năng vày nợ của NH trong tương lãi.
16
Vấn đề 2: Giải pháp gia tăng vốn tự có của các Ngân hàng thương mại
- Nhược điểm: cổ tức phải trả cho các cổ đông là gánh nặng tài chính trong những
năm NH bị thua lỗ; chi phí phát hành cao; giảm mức cổ tức trên mỗi cổ phiếu.
7.1.2. Phát hành trái phiếu chuyển đổi
Trái phiếu chuyển đổi là hình thức gọi vốn lai giữa cổ phần thường và nợ. Trái phiếu
chuyển đổi ấn định một khoản thời gian khoản nợ với lãi suất cố định được chuyển sang
cổ phần. Nó trả lãi suất rẻ hơn so với vốn huy động vì cho phép trái chủ trở thành cổ đông
trong tương lai, nhưng lại hấp dẫn về lãi suất hơn cổ đông vì mang rủi ro chuyển đổi.
 Ưu điểm: chi phí thấp và không làm phân tán quyền kiểm soát của NH. Đây là
phương pháp hiệu quả vì trái phiếu này được các nhà đầu tư ưa chuộng trên thị
trường.
 Nhược điểm: Phải hoàn trả cho người mua trái phiếu khi hết hạn, lãi trả cho trái
phiếu là gánh nặng cho NH về tài chính, tăng chi phi hoạt động, làm giảm khả
năng đi vay về sau của NH.
7.2. Tăng lợi nhuận giữ lại
Sau mỗi kỳ kinh doanh, số lợi nhuận thu được sau khi nộp thuế cho nhà nước được phân
chia một phần cho các chủ sở hữu dưới dạng cổ tức, một phần được giữ lại tại ngân hàng

có thể rơi vào tay các cổ đông mới, họ sẽ được dự phần chia lợi nhuận trong tương lai và
tham gia bỏ phiếu đối với các chính sách của ngân hàng).
 Nhược điểm:
Chỉ áp dụng với các ngân hàng lớn, làm ăn có lãi liên tục và đều đặn. Hình thức này
không thể áp dụng thường xuyên vì có ảnh hưởng đến quyền lợi của cổ đông. Tăng vốn từ
bên trong có nhiều bất lợi về thuế và chịu ảnh hưởng nặng nề bởi sự thay đổi lãi suất và
những điều kiện kinh tế mà ngân hàng không thể kiểm soát trực tiếp. Sự tăng trưởng lợi
nhuận ngân hàng trong những năm gần đây đã bị giảm sút so vời trước, buộc nhiều ngân
hàng phải phát hành cổ phiếu và giấy nợ không đảm bảo - nguồn vốn bên ngoài - để phụ
thêm vào nguồn vốn tạo ra từ bên trong.
7.3. Tăng nợ bằng cách phát hành trái phiếu
Trái phiếu ngân hàng là chứng chỉ vay vốn do các ngân hàng phát hành, thể hiện nghĩa vụ
và sự cam kết của ngân hàng về thanh toán số lợi tức tiền vay cho người nắm giữ trái
phiếu vào những thời hạn đã xác định và hoàn trả khoản vay ban đầu khi trái phiếu đáo
hạn.
Tăng vốn bằng cách phát hành trái phiếu dài hạn:
18
Vấn đề 2: Giải pháp gia tăng vốn tự có của các Ngân hàng thương mại
Đây là biện pháp hiệu quả để tăng cường năng lực tài chính của ngân hàng đáp ứng
những nhu cầu trước mắt, nhưng về bản chất đây chỉ là tăng vốn tự có trên danh nghĩa,
còn về lâu dài sẽ là một gánh nặng nợ nần, đồng thời chi phí vốn cao sẽ làm suy giảm
mức lợi nhuận của ngân hàng.
Tăng vốn bằng phát hành trái phiếu chuyển đổi:
Trái phiếu chuyển đổi là trái phiếu có thể chuyển thành cổ phiếu thường vào một thời
điểm xác định trong tương lai.
Loại trái phiếu này vừa có đặc điểm của trái phiếu là được trả một mức lãi suất cố định,
nhưng mặt khác lại có khả năng chuyển đổi thành cổ phiếu thường của ngân hàng và đây
cũng chính là điểm hấp dẫn của trái phiếu chuyển đổi.
 Một số lợi điểm khi phát hành trái phiếu:
• Lãi suất( hay lợi tức) phải trả cho trái phiếu thường được cố định trước và được

Ngân hàng Đệ Nhất, Ngân hàng Tín nghĩa và Ngân hàng TMCP Sài Gòn lấy tên là
Ngân hàng TMCP Sài Gòn (SCB), và mới đây nhất là SHB mua lại HBB.
- Quy mô vốn điều lệ của ngân hàng TMCP được sáp nhập, hợp nhất tăng lên bằng
vốn điều lệ của hai ngân hàng trước; Bộ máy nhân sự Hội đồng quản trị, Ban điều
hành được củng cố kiện toàn và tăng cường nhằm đảm nhận vai trò và sứ mệnh
mới với quy mô hoạt động mới
7.5. Một số phương thức khác
Các NH thương mại còn có thể tăng vốn tự có bằng cách bán tất cả hoặc một phần
phương tiện văn phòng của mình và thuê lại từ người chủ mới để phục vụ cho hoạt động
kinh doanh. Với những giao dịch như vậy, NH thường thu về những dòng tiền mặt lớn
(có thể tái đầu tư với lãi suất hiện tại) và củng cố sức mạnh về vốn. Thành công lớn nhất
của những giao dịch bán-thuê lại này xảy ra khi lạm phát và tăng trưởng kinh tế đạt mức
cao vì nó làm tăng giá trị thị trường của tài sản so với giá trị sổ sách được ghi nhận trong
các báo cáo tài chính.
8. Những thuận lợi và khó khăn trong việc gia tăng vốn tự có hiện nay
8.1. Các tác nhân buộc các ngân hàng thương mại tăng vốn tự có
8.1.1. Nguyên nhân vĩ mô
 Tình hình kinh tế xã hội
20
Vấn đề 2: Giải pháp gia tăng vốn tự có của các Ngân hàng thương mại
Đây là yếu tố khách quan đối với các ngân hàng thương mại, yếu tố này ảnh hưởng chung
đến việc huy động và khơi thông nguồn vốn của cả nền kinh tế trong đó có nguồn vốn tự
có của ngân hàng thương mại. Cụ thể trong một nền kinh tế phát triển nguồn tiền gửi, tiền
tiết kiệm gửi vào các ngân hàng thương mại ngày càng nhiều, mặt khác ở tình trạng tăng
trưởng, người dân cần nhiều vốn để đầu tư mở rộng quy mô, trang thiết bị do đó các ngân
hàng phải huy động nhiều vốn và càng có điều kiện để huy động do tích luỹ được nhiều
hơn. Ngoài ra với một nền kinh tế phát triển thì công nghệ ngân hàng được hiện đại hóa,
người dân có thói quen sử dụng những lợi ích do các ngân hàng thương mại cung ứng,
các nghiệp vụ thanh toán chủ yếu qua ngân hàng, ngân hàng thu được càng nhiều khoản
vốn, chiếm dụng được vốn trong thanh toán.

quỹ dự phòng rủi ro và các loại quỹ khác của ngân hàng thương mại không đủ năng lực
tài chính xóa hết các món nợ xấu và các rủi ro khác. Khi đó thanh tra của các tổ chức tín
dụng từ ngân hàng Nhà nước có quyền yêu cầu ngân hàng thương mại dùng vốn điều lệ
để xóa hết những món nợ xấu và các rủi ro khác. Nhưng nếu ngân hàng thương mại dùng
vốn điều lệ xóa nợ xấu và các rủi ro khác hết 50%, mà trong một thời gian ngắn ngân
hàng thương mại không có khả năng tăng vốn điều lệ, ngân hàng Nhà nước được quyền
tuyên bố ngân hàng thương mại ấy đã phá sản.
Ngoài ra, ngân hàng Nhà nước Việt Nam còn quy định vốn điều lệ của ngân hàng thương
mại cổ phần sau khi trừ đi 70 tỷ đồng cho bảng hiệu (tên ngân hàng thương mại cổ phần),
hiệu số còn lại, cứ 20 tỷ đồng vốn điều lệ, ngân hàng thương mại ấy mới được thành lập
một chi nhánh. Theo Quyết định 888/2005/QĐ- ngân hàng Nhà nước, ngày 16/6/2006 của
Thống đốc ngân hàng Nhà nước, thì một trong số các điều kiện để mở chi nhánh của Tổ
chức tín dụng là số vốn điều lệ hiện có trừ đi số vốn pháp đinh tối thiểu, thì mỗi chi nhánh
bình quân phải có 20 tỷ đồng. Do đó, Tổ chức tín dụng muốn phát triển kinh doanh, mở
rộng địa bàn và chiếm lĩnh thị phần thì thường xuyên phải thành lập thêm chi nhánh mới,
tất nhiên phải tăng thêm vốn điều lệ.
 Các yếu tố khác
Trong xu thế phát triển chung của nền kinh tế, những doanh nghiệp lớn kinh doanh có
hiệu quả thường có xu hướng mở rộng lĩnh vực kinh doanh, mở rộng quy mô đầu tư. Do
đó, việc tăng vốn của các ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho doanh nghiệp. Hơn
nữa, dư nợ cho vay và đầu tư tăng cao nên để đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu, vốn tự
có cũng tăng cao là điều tất yếu. Trong vốn tự có, vốn điều lệ chiếm tỷ trọng rất lớn, do
đó, nếu vốn điều lệ nhỏ, ngân hàng thương mại không thể cho những tập đoàn kinh tế và
doanh nghiệp lớn vay, như vậy, các ngân hàng thương mại muốn mở rộng khối lượng giá
22
Vấn đề 2: Giải pháp gia tăng vốn tự có của các Ngân hàng thương mại
trị tín dụng và bảo lãnh cho khách hàng, buộc các ngân hàng thương mại phải tăng vốn tự
có.
Lạm phát: Lạm phát làm tăng giá trị tài sản của ngân hàng nhưng đồng thời cũng làm
tăng các khoản nợ, làm giảm giá trị vốn bằng tiền của ngân hàng và kết quả là vốn tự có

động vốn… của ngân hàng Nhà nước đã tác động đến các ngân hàng thương mại cổ phần,
buộc ngân hàng phải tăng vốn tự có để có thể đáp ứng nhu cầu vay (ngày càng tăng) của
các khách hàng lớn nhằm giữ chân những khách hàng lâu năm thân thiết và làm ăn có
hiệu quả. Theo các ngân hàng thương mại cổ phần, áp lực tăng vốn điều lệ nhằm phục vụ
cho nhu cầu sử dụng vốn điều lệ cho vay trung dài hạn, đầu tư vào những dự án hiệu quả
của ngân hàng. Điều này giúp ngân hàng giảm tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn, nhất là vốn
huy động để cho vay trung dài hạn.
 Mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh
Khi hoạt động ngân hàng ngày càng mở rộng, quy mô càng lớn, ngân hàng cũng cần mở
thêm nhiều trụ sở, chi nhánh mới, đứng trước yêu cầu này, các ngân hàng thương mại cổ
phần phải tăng vốn tự có để đáp ứng được những quy định của ngân hàng Nhà nước và
đầu tư vào việc mở rộng trụ sở, chi nhánh mới trong khi chi phí hoạt động của ngân hàng
ngày càng gia tăng như chi phí tiền lương, đất đai, trang thiết bị… đã làm giảm lợi nhuận
của ngân hàng, mà lợi nhuận lại là nguồn chủ yếu để tăng vốn tự có hàng năm của ngân
hàng.
 Triển khai thêm nhiều nghiệp vụ kinh doanh mới, đa dạng hóa dịch vụ
Do hoạt động của ngân hàng ngày càng mở rộng, qui mô của ngân hàng ngày càng lớn,
ngân hàng không chỉ cần mở thêm nhiều trụ sở chi nhánh mới mà còn đòi hỏi thực hiện
thêm nhiều nghiệp vụ kinh doanh mới, đa dạng hóa dịch vụ ngân hàng. Từ đó đòi hỏi vốn
tự có phải tăng lên tương ứng với hoạt động kinh doanh mới.
Bên cạnh đó, chúng ta còn nhận thấy rằng thách thức lớn nhất đối với các ngân hàng
thương mại Việt Nam nằm ở nội lực của chính các ngân hàng, với quy mô vốn nhỏ,
nguồn nhân lực hạn chế, trình độ công nghệ còn chậm tiến so với các nước trong khu vực.
Sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại đang diễn ra rất sôi động về số lượng mở
chi nhánh hoặc phòng giao dịch, nhưng, dịch vụ ngân hàng còn nghèo nàn, nhất là dịch
vụ thanh toán không dùng tiền mặt, chưa đáp ứng được yêu cầu của nền kinh tế thị
trường. Theo các chuyên gia ngân hàng, sự cạnh tranh giữa các ngân hàng thương mại
24
Vấn đề 2: Giải pháp gia tăng vốn tự có của các Ngân hàng thương mại
trong nước với các chi nhánh ngân hàng nước ngoài, các "ngân hàng con" của họ trong


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status