TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC
MÔN HỌC: NGHIỆP VỤ NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
ĐỀ TÀI BẢO LÃNH TẠI CÁC NHTM VIỆT NAM GVHD: PGS.TS: TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG
LỚP: NH Đêm 1 – Khóa 22 – Nhóm 7
DSN: Cao Nữ Nguyệt Anh
Lê Thị Phương Thảo
Mai Nguyễn Huyền Trang
Đỗ Thị Liễu Mi
Tháng 2 năm 2014
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
KẾT LUẬN 33
TÀI LIỆU THAM KHẢO 33
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây nền kinh tế Việt Nam đang có những bước phát
triển đáng kinh ngạc. Các hoạt động trao đổi hàng hóa thương mại, dịch vụ không
chỉ diễn ra trong phạm vi lãnh thổ mà còn vươn ra tầm quốc tế. Hòa chung vào xu
thế đó, hệ thống các NHTM cũng không ngừng phát triển và mở rộng. Hiện nay so
với qui mô của nền kinh tế, Việt Nam có số lượng khá nhiều các ngân hàng. Trong
bối cảnh này thì sự cạnh tranh là tất yếu mà lĩnh vực cạnh tranh gay gắt nhất chính
là lĩnh vực tín dụng truyền thống. Chính vì vậy các ngân hàng đã và đang phát triển
rất nhiều các sản phẩm tín dụng mới từ lĩnh vực này và bảo lãnh cũng không phải là
ngoại lệ khi là thị trường mà rất nhiều ngân hàng nhắm vào.
Do đó việc sử dụng bảo lãnh ngân hàng đang bùng nổ mạnh mẽ đem lại thu
nhập đem lại đáng kể thu nhập cho các ngân hàng đồng thời cũng đóng vai trò xúc
tác cho các hợp đồng kinh tế được kí kết dễ dàng. Có thể chắc chắn các giao dịch
thương mại lớn có yếu tố nước ngoài tham gia thì đi kèm các hợp đồng kinh tế phải
bắt buộc có thêm hợp đồng bảo lãnh của ngân hàng để tạo thêm sự tin tưởng tuyệt
đối của bạn hàng.
Xuất phát từ những vấn đề trên nhóm nghiên cứu chọn đề tài “ Bảo lãnh tại
các ngân hàng thương mại Việt Nam”.
Từ những năm 90 đến nay hệ thống văn bản pháp luật về bảo lãnh ngân hàng
được xây dựng khá chi tiết và từng bước hoàn chỉnh. Bảo lãnh ngân hàng với tư
cách là một nghiệp vụ cấp tín dụng của các ngân hàng đã được quy định tại Quy chế
về nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân hàng ban hành theo Quyết định số 196/QĐ-
NH14 ngày 16/9/1994 của Thống đốc ngân hàng nhà nước.
Khoản 18 Điều 4 Luật các TCTD số 47/2010/QH12 được ban hành ngày
16/06/2010 một lần nữa khẳng định:
"Bảo lãnh ngân hàng là hình thức cấp tín dụng theo đó TCTD cam kết với
bên nhận bảo lãnh về việc TCTD sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách
hàng khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ đã cam
kết; khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho TCTD theo thỏa thuận".
Như vậy, khái niệm "bảo lãnh ngân hàng" theo định nghĩa tại các văn bản
trích dẫn trên đây về cơ bản đều thể hiện bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn
bản của một bên thứ ba ngoài quan hệ hợp đồng giữa hai bên. Cam kết bằng văn bản
ở đây được hiểu là văn bản bảo lãnh của TCTD, bao gồm Thư bảo lãnh và Hợp
đồng bảo lãnh.
1.1.2 Đặc điểm bảo lãnh ngân hàng:
Bảo lãnh ngân hàng là mối quan hệ đa phương, với sự tham gia của nhiều chủ
thể: Hoạt động bảo lãnh ngân hàng phải có sự tham gia của ít nhất ba chủ thể, đó là
bên được bảo lãnh, bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh. Do đó, hoạt động bảo lãnh
không chỉ đơn thuần là quan hệ giữa bên được bảo lãnh với ngân hàng bảo lãnh mà
còn bao hàm mối quan hệ giữa ngân hàng bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh. Trong
quan hệ đa phương này, quan hệ giữa bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh bao
giờ cũng là quan hệ gốc, làm phát sinh nghĩa vụ được bảo lãnh. Trên cơ sở này sẽ
xuất hiện thêm hai quan hệ nữa giữa bên được bảo lãnh với ngân hàng bảo lãnh và giữa ngân hàng bảo lãnh với bên nhận bảo lãnh.
Bảo lãnh ngân hàng mang tính độc lập: Mặc dù bảo lãnh ngân hàng là quan hệ
đa phương, các quan hệ có mối liên hệ nhau, tuy nhiên chúng lại độc lập nhau. Sự
cho NH là chính xác và rõ ràng. NH phát hành sẽ không chịu trách nhiệm về những
chỉ thị phát hành sai, không chính xác, không rõ ràng.
3 - Người xin bảo lãnh có thể phải ký quỹ thế chấp cầm cố tài sản của mình
theo yêu cầu của Ngân hàng để xin ngân hàng mở bảo lãnh. Ngân hàng sẽ xem xét
tình hình tài chính, tư cách pháp nhân, phương án kinh doanh để quyết định xem có
bảo lãnh hay không.
Theo những chỉ thị phát hành bảo lãnh của người được bảo lãnh, ngân hàng
phát hành sẽ phát hành thư bảo lãnh cho người thụ hưởng thông qua ngân hàng
thông báo cũng có thể phát hành bảo lãnh trực tiếp cho người thụ hưởng (3*).
4 - Ngân hàng thông báo khi nhận được bảo lãnh từ ngân hàng phát hành phải
kiểm tra tính chân thực của bảo lãnh sau đó thông báo cho người thụ hưởng. Ngân
hàng thông báo chỉ như là một đại lý của ngân hàng phát hành, thực hiện một nhiệm
vụ được uỷ thác bởi ngân hàng phát hành.
5 - Ngân hàng phát hành thực hiện bồi hoàn cho bên thụ hưởng khi có sự vi
phạm của bên được bảo lãnh.
Ví dụ: Navibank cam kết với Ngân hàng phát hành bảo lãnh trực tiếp cho
Doanh nghiệp, sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính cho Ngân hàng phát hành bảo lãnh
trong trường hợp Doanh nghiệp vi phạm các cam kết với Bên nhận bảo lãnh. Hồ sơ gồm: đề nghị phát hành bảo lãnh, hồ sơ pháp lý và tài chính, hồ sơ bảo lãnh (các loại
giấy tờ có liên quan đến từng loại bảo lãnh), hồ sơ tài sản bảo đảm.
* Bảo lãnh gián tiếp:
Là bảo lãnh mà trong đó ngân hàng bảo lãnh đã phát hành bảo lãnh theo chỉ
thị của một ngân hàng trung gian phục vụ cho người được bảo lãnh dựa trên một bảo
lãnh khác gọi là bảo lãnh đối ứng (đó là một cam kết của ngân hàng trung gian thanh
toán cho ngân hàng phát hành bảo lãnh (gọi là người thụ hưởng của bảo lãnh đối
ứng) khi mà ngân hàng phát hành thực hiện đúng những điều khoản được quy định
trong bảo lãnh đối ứng).
Trong bảo lãnh gián tiếp thì người thụ hưởng hoàn toàn không có quyền yêu
* Bảo lãnh được xác nhận:
Là bảo lãnh do tổ chức tín dụng phát hành cho bên nhận bảo lãnh về việc đảm
bảo khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng được xác nhận bảo
lãnh (bên được xác nhận bảo lãnh) đối với khách hàng.
Người thụ hưởng có thể muốn một ngân hàng trong nước của mình xác nhận
bảo lãnh do một ngân hàng nước ngoài phát hành và như vậy người thụ hưởng có
thể xuất trình những chứng từ theo yêu cầu của bảo lãnh đến ngân hàng xác nhận và
thanh toán.
thụ hưởng.
Nhưng lại có nhược điểm đối với người thụ hưởng đó là sự chậm trễ trong
việc trả tiền bồi thường cho người thụ hưởng khi có yêu cầu của người này, không
đảm bảo lợi ích cho người thụ hưởng.
* Bảo lãnh vô điều kiện:
Bảo lãnh vô điều kiện là loại bảo lãnh mà việc thanh toán sẽ được thực hiện
ngay khi ngân hàng nhận được yêu cầu đầu tiên bằng văn bản của người thụ hưởng
thông báo rằng người được bảo lãnh đã vi phạm hợp đồng. Xem yêu cầu này như
một mệnh lệnh thanh toán đơn giản không đòi hỏi phải có chứng từ kèm theo.
Bảo lãnh này có ưu điểm đối với người thụ hưởng đó là đảm bảo tuyệt đối
quyền lợi. Nhưng rất bất lợi cho người mở bảo lãnh khi có sự lạm dụng bảo lãnh qua
những yêu cầu không trung thực của người thụ hưởng.
1.2.3 Phân loại theo mục đích sử dụng:
* Bảo lãnh thực hiện hợp đồng:
Khái niệm: Bảo lãnh thực hiện hợp đồng là cam kết của ngân hàng về việc chi
trả tổn thất thay cho khách hàng nếu khách hàng không thực hiện đầy đủ hợp đồng
như cam kết, gây tổn thất cho bên thứ ba. Các hợp đồng được bảo lãnh như hợp
đồng cung cấp hàng hoá, xây dựng, thiết kế…
Mục đích: Trong trường hợp khách hàng vi phạm hợp đồng như cung cấp
không đúng hạn, không đúng chất lượng cam kết thì đều gây tổn thất cho bên thứ
ba. Và bảo lãnh ngân hàng một mặt bù đắp một phần tổn thất cho bên thứ ba (Đảm
bảo cho họ tránh được rủi ro) mặt khác thúc đẩy khách hành nghiêm chỉnh thực hiện
hợp đồng.
Trị giá của bảo lãnh: tùy theo loại hình và quy mô hợp đồng, giá trị bảo lãnh
thực hiện hợp đồngtừ 10 – 15 % tổng giá trị hợp đồng. Trường hợp đặc biệt, mức
bảo lãnh thực hiện hợp đồng có thể yêu cầu trên 15% nhưng phải được người có
thẩm quyền quyết định đầu tư chấp thuận. Tuy nhiên số tiền bảo lãnh có thể giảm
dần theo tiến độ thực hiện hợp đồng.
Thời hạn hiệu lực: thư bảo lãnh có giá trị cho đến ngày hoàn thành hợp đồng.
Thời hạn hiệu lực được xác định cụ thể theo thoả thuận giữa hai bên. Thời hạn sẽ bắt
Thời hạn hiệu lực: Là thời hạn hoàn trả tín dụng đã thoả thuận, tốt nhất quy
định khoảng 10 ngày kể từ ngày nợ đến hạn.
* Bảo lãnh dự thầu:
- Khái niệm: Là cam kết của ngân hàng với chủ đầu tư (hay chủ thầu) về việc
trả tiền phạt thay cho bên dự thầu nếu bên dự thầu vi phạm các quy định trong hợp
đồng dự thầu.
- Mục đích: Đảo bảo cho việc người dự thầu không rút lui, không ký hợp đồng
hay thay đổi ý định đã được trúng thầu. Nếu người dự thầu đã trúng thầu nhưng
không ký hợp đồng thì chủ thầu (người thụ hưởng) sẽ rút dần thanh toán từ bảo lãnh
để trang trải cho chi phí đấu thầu, thiệt hại do chậm tiến độ thi công hay chi phí để
tổ chức lại một cuộc đấu thầu khác.
- Trị giá của bảo lãnh: Thông thường có giá trị từ 1- 5% giá trị hợp đồng đấu
thầu.
- Thời hạn hiệu lực: Thời hạn hiệu lực của bảo lãnh sẽ chỉ chấm dứt khi bên
được bảo lãnh (người tham gia dự thầu) không trúng thầu hoặc sau khi ký kết hợp
đồng hoặc chấp nhận ký kết hợp đồng nếu bên được bảo lãnh trúng thầu.
* Bảo lãnh đảm bảo hoàn trả tiền ứng trước:
- Khái niệm: là cam kết của ngân hàng về việc sẽ hoàn trả tiền ứng trước cho bên mua người hưởng bảo lãnh) nếu bên cung cấp (người được bảo lãnh) không trả
hoặc trả không đầy đủ.
- Mục đích: Đảm bảo cho bên yêu cầu bảo lãnh sẽ nhận lại số tiền trước kia đã
đặt cọc cho bên được bảo lãnh để giúp thực hiện hợp đồng như đã thoả thuận, nhưng
thực tế không thực hiện được. Bảo lãnh tiền ứng trước thường được sử dụng trong
các hợp đồng mua bán máy móc thiết bị hoặc các hợp đồng có giá trị lớn.
- Trị giá của bảo lãnh: Số tiền bảo lãnh bằng số tiền đặt cọc (kể cả tiền lãi)
được tính từ ngày nhận được số tiền đặt cọc tới ngày giao hàng cuối cùng cộng thêm
một số ngày để người thụ hưởng làm thủ tục đòi tiền. Bảo lãnh loại này cũng có một
số điều khoản quy định giảm giá trị bảo lãnh tương ứng với số lượng hàng hoá được
ngân hàng để khỏi ảnh hưởng tới nguồn tài chính của người bán. Như vậy, bảo lãnh
miễn khấu trừ giá trị hợp đồng cho phép người bán nhận được tổng số tiền thanh
toán nhưng phải cam kết với người mua rằng số tiền bảo lãnh sẽ được hoàn trả cho
người mua trong trường hợp người bán không thực hiện nghĩa vụ hoặc vi phạm các
điều kiện của hợp đồng. - Trị giá bảo lãnh: Thường từ 5 – 10% giá trị hợp đồng.
- Thời hạn hiệu lực: Do hai bên thoả thuận với nhau.
* Bảo lãnh đối ứng:
Là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng (Bên phát hành bảo lãnh đối
ứng) phát hành cho một tổ chức tín dụng khác (bên bảo lãnh) về việc đề nghị bên
bảo lãnh thực hiện bảo lãnh cho các nghĩa vụ của khách hàng của bên phát hành bảo
lãnh đối ứng với bên nhận bảo lãnh. Trường hợp, khách hàng vi phạm các cam kết
với bên nhận bảo lãnh, bên bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh thì bên phát
hành bảo lãnh đối ứng phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh đối ứng cho bên bảo lãnh.
* Xác nhận bảo lãnh:
Là một bảo lãnh ngân hàng do tổ chức tín dụng (bên xác nhận bảo lãnh) phát
hành cho bên nhận bảo lãnh về việc bảo đảm khả năng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
của tổ chức tín dụng được xác nhận bảo lãnh (bên được xác nhận bảo lãnh) đối với
khách hàng. Trường hợp bên được xác nhận bảo lãnh không thực hiện hoặc thực
hiện không đầy đủ nghĩa vụ của mình đã cam kết với bên nhận bảo lãnh thì bên xác
nhận bảo lãnh sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên được xác nhận bảo lãnh.
1.2.4 Các loại bảo lãnh khác:
* Thư tín dụng dự phòng (L/C):
- Khái niệm: Là một loại tín dụng chứng từ hoặc một thoả thuận tương tự
trong số đó ngân hàng phát hành thể hiện cam kết trách nhiệm đối với bên thụ
hưởng trong việc: Trả lại khoản tiền bên mở tín dụng đã vay hoặc được ứng trước
thanh toán bất kỳ cam kết nhận nợ nào của bên mở hoặc thanh toán mọi thiệt hại mà
bên mở gây ra do việc không thực hiện cam kết đối với bên thụ hưởng.
xuyên về thuế, lệ phí, bảo lãnh thuế của các DN từ các địa phương trên cả nước,
thực hiện việc xét ân hạn thuế, giải tỏa cưỡng chế và thông quan hàng hóa nhanh
chóng, chính xác. Việc ký kết thỏa thuận này cũng góp phần hình thành một cơ chế,
thủ tục hành chính đơn giản, thống nhất, công khai, minh bạch cho người nộp thuế.
* Bảo lãnh hối phiếu:
- Khái niệm: Là một cam kết của ngân hàng trả tiền cho người thụ hưởng khi
hối phiếu của họ đáo hạn mà người được bảo lãnh không thực hiện được đầy đủ các
nghĩa vụ tài chính của họ như đã quy định trên hối phiếu. Khi phát hành bảo lãnh
hối phiếu ngân hàng chịu trách nhiệm như trách nhiệm của người được bảo lãnh đối
với người nhận bảo lãnh về các nghĩa vụ tài chính trên hối phiếu.
* Bảo lãnh phát hành chứng khoán:
- Bảo lãnh phát hành chứng khoán là việc bên bảo lãnh giúp tổ chức phát hành
thực hiện các thủ tục trước khi phát hành chứng khoán (chuẩn bị hồ sơ xin phép phát
hành, định giá chứng khoán) và tổ chức phân phối chứng khoán.
1.3 Vai trò của bảo lãnh ngân hàng:
Bảo lãnh ngân hàng là công cụ tiện ích được sử dụng rộng rãi để trợ giúp các
giao dịch kinh tế, hỗ trợ cho các hợp đồng thương mại mà các giao dịch phi thương
mại, tài chính. Qua đó, bảo lãnh ngân hàng giúp đáp ứng nhu cầu về vốn của nền
kinh tế để phát triển đất nước
Bảo lãnh không chỉ là một động lực tạo sự phát triển ngân hàng mà còn có
vai trò quan trong đối với doanh nghiệp. Đối với doanh nghiệp, bảo lãnh giúp thúc
đẩy cạnh tranh, mở rộng sản xuất, nâng cao hiệu quả hoạt động doanh nghiệp, giúp
doanh nghiệp giảm thiểu rủi ro và đảm bảo lợi ích kinh tế do vi phạm hợp đồng gây
ra.
Đối với ngân hàng, bảo lãnh ngân hàng đem lại lợi ích trực tiếp cho ngân
hàng thông qua chi phí bảo lãnh, phí này đóng góp vào lợi nhuận của ngân hàng, nó
chiếm tỷ trong không nhỏ trong tổng phí dịch vụ của ngân hàng hiện nay. Ngoài ra,
bảo lãnh ngân hàng góp phần không nhỏ trong việc mở rộng mối quan hệ của ngân
hàng với khách hàng.
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động bảo lãnh ngân hàng:
quan đến nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng, làm phát sinh những tranh chấp kinh tế ảnh
hưởng trực tiếp đến hoạt động ngân hàng.
Ba là, yếu kém trong năng lực phân tích, thẩm định khách hàng dẫn đến việc
ngân hàng bị lừa đảo, mất vốn do phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh trong khi bên
được bảo lãnh mất khả năng thanh toán.
Điều này dẫn đến việc người quản lý không hình dung được hết các rủi ro.
Một số trường hợp cấp bảo lãnh cho khách hàng chỉ dựa vào uy tín khách hàng mà
thiếu sót trong khâu thẩm định các yếu tố khác khi cấp bảo lãnh.
Bên cạnh đó cũng có một số trường hợp ngân hàng lấy nhiều lý do khác nhau
để không thanh toán nghĩa vụ bảo lãnh, trong đó có lý do như người phát hành cam
kết bảo lãnh không đủ thẩm quyền. Trường hợp hai là ngân hàng phát hành chứng
thư bảo lãnh vô điều kiện không hủy ngang nhưng nhưng lại kèm theo câu là bên
nhận bảo lãnh phải gửi hồ sơ chứng minh vi phạm kèm theo văn bản yêu cầu thanh
toán nghĩa vụ bảo lãnh. Việc này thường xảy ra với các ngân hàng quản trị kém về
nghiệp vụ cấp bảo lãnh, dẫn đến chỉ cần bên được bảo lãnh cho rằng mình chưa vi
phạm nghĩa vụ trong giao dịch được bảo lãnh và yêu cầu ngân hàng không được
thanh toán cho bên nhận bảo lãnh là ngân hàng sẽ vô cùng khó xử. Bởi suy cho
cùng, vi phạm hay không vi phạm chỉ có tòa án mới có thẩm quyền phán quyết cuối
cùng, nên ngân hàng không thanh toán cho bên nhận bảo lãnh thì cũng khó giải quyết thõa đáng, mà thanh toán thì cũng khó đòi lại được tiền từ bên được bảo lãnh.
Ví dụ trong trường hợp bên nhận bảo lãnh bán gạo cho bên được bảo lãnh, khi
hàng đã giao, bên nhận bảo lãnh yêu cầu thanh toán tiền nhưng bên bảo lãnh lại cho
rằng gạo giao có chất lượng thấp nên chỉ thanh toán khi bên nhận bảo lãnh đổi hàng,
khiến xảy ra tranh chấp và ngân hàng cấp bảo lãnh trong trường hợp này sẽ rất khó
xử lý việc thanh toán hay không thanh toán nghĩa vụ bảo lãnh.
1.5.2 Rủi ro đối với bên được bảo lãnh:
Rủi ro đến từ bên được bảo lãnh chủ yếu do cố ý hoặc vô ý không tuân thủ
quy định trong bảo lãnh ngân hàng. Người đứng ra ký tên trên hợp đồng bảo lãnh
dụng các dịch vụ mới. Bảo lãnh ngân hàng là một nghiệp vụ được các NHTM Việt
Nam quan tâm phát triển trong thời gian qua. Phát triển nghiệp vụ này không những
góp phần đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ của ngân hàng mà còn thỏa mãn nhu
cầu đa dạng hóa về bảo lãnh của doanh nghiệp, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở
rộng hoạt động kinh tế-thương mại.
2.1 Các rủi ro thường gặp trong hoạt động bảo lãnh tại Việt Nam:
2.2.1 Rủi ro đối với ngân hàng bảo lãnh:
a) Rủi ro phát sinh trong nội bộ ngân hàng:
- Nhân viên ngân hàng tiếp tay cho bên được bảo lãnh:
Ví dụ: Trường hợp tranh chấp về bảo lãnh xảy ra giữa Agribank và các DN
như công ty CP Gang thép Thái Nguyên CN. Hà Nội (17.2 tỷ), công ty TNHH TM
Tràng An (40 tỷ) công ty CP Thép Việt Nhật (30 tỷ) và chi nhánh công ty TNHH
thiết bị nặng Tất Hồng (22 tỷ) có liên quan đến Công ty Tân Hồng. Theo đó, chi
nhánh Agribank Hồng Hà đã cấp bảo lãnh cho Công ty Tân Hồng khi tham gia mua
hàng hóa của một số DN này. Tuy nhiên, sau đó Công ty Tân Hồng không thực hiện
nghĩa vụ thanh toán và phía Agribank cũng từ chối thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh. Cụ
thể:
- Agribank chi nhánh Hồng Hà đã phát hành bảo lãnh thanh toán trị giá 40 tỉ
đồng cho hợp đồng mua bán bột giấy giữa Công ty CP xuất nhập khẩu Tân Hồng và
Công ty TNHH thương mại Tràng An từ ngày 12/8 - 14/12/2011. Theo đó, do đã qua
thời hạn thanh toán, nhưng phía Công ty CP xuất nhập khẩu Tân Hồng không trả nợ
được. Phía Công ty TNHH thương mại Tràng An đã nhiều lần đề nghị Agribank chi
nhánh Hồng Hà thanh toán theo đúng bảo lãnh đã làm, nhưng vẫn chưa nhận được
tiền thanh toán theo đúng cam kết.
- Cũng với hình thức phát hành bảo lãnh thanh toán cho chính Công ty CP xuất
nhập khẩu Tân Hồng, Agribank chi nhánh Hồng Hà đã trở thành “con nợ” của Công
ty CP gang thép Thái Nguyên chi nhánh Hà Nội với số tiền 17,2 tỉ đồng (chưa bao
gồm lãi suất).
- Còn với Chi nhánh Công ty TNHH thiết bị nặng Tất Hồng, Agribank CN
Hồng Hà đã phát hành bảo lãnh thanh toán cho hợp đồng mua bán thiết bị máy móc
hồ sơ, không theo dõi trên hệ thống sổ sách, không thu phí và cũng không có tài
sản bảo đảm cho công ty Tân Hồng.
- Rủi ro xuất phát từ sự yếu kém trong năng lực phân tích, thẩm định khách
hàng dẫn đến việc ngân hàng bị lừa đảo, mất vốn do phải thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh
trong khi bên được bảo lãnh mất khả năng thanh toán.
Ví dụ: Trường hợp xảy ra vào tháng 1/2010, khách hàng tại một Ngân hàng
thương mại cổ phần đã sử dụng hợp đồng kinh tế giả mạo để yêu cầu Ngân hàng này
phát hành thư bảo lãnh. Do năng lực thẩm định và phân tích khách hàng của cán bộ
ngân hàng chưa tốt, việc kiểm tra phê duyệt của lãnh đạo ngân hàng cũng có vấn đề
nên khách hàng đã lừa đảo chiếm đoạt được 3 tỷ đồng trong tổng số tiền 12 tỷ đồng
mà Ngân hàng này đã thực hiện nghĩa vụ thay cho khách hàng. Tuy số tiền bị mất
không lớn nhưng sự việc chỉ được phát hiện sau khi khách hàng đã chiếm đoạt được
số tiền của ngân hàng và cơ quan an ninh vào cuộc.
Qua trường hợp này có thể thấy rằng việc thiếu thận trọng, thiếu kiến
thức và kỹ năng trong thẩm định khách hàng và kiểm soát lỏng lẻo của đội ngũ
cán bộ ngân hàng sẽ để lại những hệ lụy không những về tài sản mà còn về danh
tiếng của ngân hàng thực hiện bảo lãnh.
b) Rủi ro đến từ bên bảo lãnh:
Đây là nguy cơ phổ biến đối với các ngân hàng vì việc đánh giá khách hàng-
bên bảo lãnh hiện nay gặp rất nhiều khó khăn.
- Bên được bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh "bắt tay", chủ động làm giả con dấu,
chữ kí, hóa đơn, hợp đồng mua bán để ngân hàng thực hiện nghĩa vụ bảo lãnh./hợp
đồng bảo lãnh (trong trường hợp bảo lãnh vay vốn)
- Rủi ro không thu hồi được tiền do bên bảo lãnh phá sản: Có nhiều nguyên
nhân dẫn đến phá sản của bên bảo lãnh trong đó có nguyên nhân về trình độ nguồn
nhân lực trong thực hiện giao kết hợp đồng, khả năng quản trị điều hành, tầm nhìn
GVHD: PGS.TS. TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
19
là một điều mà ngân hàng hoàn toàn không ngờ trước. Và các cam kết bảo lãnh của
DVD trở thành vô giá trị, gây thiệt hại lớn cho ngân hàng.
Ví dụ 2: Trường hợp bảo lãnh của một số ngân hàng thương mại lớn trong
nước đối với Tập đoàn công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin). Trong các năm
2005 và 2006 để Tập đoàn này thực hiện hàng loạt các hợp đồng đóng tàu xuất khẩu
sang Anh, Nhật cho các đối tác nước ngoài. Những yếu kém và sai phạm trong quản
trị điều hành của Ban lãnh đạo Tập đoàn này là một trong những nguyên nhân dẫn
đến việc không thực hiện đóng một số con tàu theo đúng hạn vào các năm 2008,
2009, do đó, các ngân hàng bảo lãnh phải thực hiện nghĩa vụ trả thay cho Vinashin,
Vinashin đã nhận nợ bắt buộc đối với các ngân hàng nhưng cho đến nay vẫn chưa
thực hiện được nghĩa vụ hoàn trả cho các ngân hàng thương mại trong khi khoản vay
bắt buộc đã quá hạn.
- Rủi ro do chứng thư bảo lãnh bị làm giả chữ ký, con dấu giả mạo người có
thẩm quyền của bên ngân hàng phát hành bảo lãnh:
Nguyên nhân của trường hợp này là do ngân hàng thụ hưởng bảo lãnh chủ
GVHD: PGS.TS. TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
20 quan, làm tắt quy trình, không xác nhận lại với ngân hàng bạn về chứng thư bảo lãnh.
Thường có 2 trường hợp xảy ra:
- Ngân hàng cho vay và nhận bảo lãnh thanh toán từ ngân hàng nhưng chữ ký
và con dấu của ngân hàng bạn lại bị làm giả.
- Trường hợp mặc dù chữ ký thật, con dấu thật nhưng thực tế người ký và con
dấu đóng tại thời điểm cá nhân đó lại không có đủ thẩm quyền ký
2.2.2 Rủi ro đối với bên nhận bảo lãnh:
a) Rủi ro đến từ điều kiện thanh toán không khả thi:
Thực tế đã phát sinh một số chứng thư bảo lãnh yêu cầu bên nhận bảo lãnh
phải gửi hồ sơ chứng minh bên được bảo lãnh vi phạm nghĩa vụ. Điều khoản như
trên thường dẫn đến bế tắc cho cả 3 bên: Bên bảo lãnh- ngân hàng, bên được bảo
Một hợp đồng do chủ tịch HĐQT ký vẫn có thể vô hiệu nếu như không được người
đại diện theo pháp luật ủy quyền. Hai là, thẩm quyền tối cao về quyết định của CTCP
là HĐQT. Luật Doanh nghiệp quy định, những hợp đồng giao dịch vượt quá 50%
GVHD: PGS.TS. TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
21 tổng tài sản đều phải được HĐQT thông qua. Tuy nhiên, trên thực tế các vấn đề
thuộc về phân quyền nội bộ trong Ngân hàng như trên thì người tham gia tham gia
giao dịch mà cụ thể là bên nhận bảo lãnh thường không biết được hoặc bỏ qua,
không xem xét đến. Do đó, bên phát hành bảo lãnh có quyền viện dẫn pháp luật để từ
chối bảo lãnh khi phát sinh nghĩa vụ.
Rủi ro người ký phát không đúng thẩm quyền thường rơi vào trường hợp người
ký không phải là đại diện theo pháp luật, không được người đại diện ủy quyền, phân
cấp hoặc giao dịch có giá trị quá lớn. Và việc ký kết không đúng thẩm quyền thường
xuất phát từ dấu hiệu cố ý làm trái để thu lợi bất chính đối với cán bộ ngân hàng.
c) Chứng thư bảo lãnh giả ( bị làm giả chữ ký, con dấu giả mạo người có thẩm
quyền của bên phát hành bảo lãnh)
Ngân hàng cho vay và nhận bảo lãnh thanh toán từ ngân hàng, nhưng chữ ký,
con dấu của ngân hàng bạn bị làm giả. Người ký không có thật, dấu chưa từng đóng.
Cũng có trường hợp, chữ ký thật, con dấu thật, nhưng thực tế người ký và con dấu
đóng tại thời điểm cá nhân đó không có thẩm quyền ký. Nguyên nhân của các trường
hợp này đều do ngân hàng nhận bảo lãnh chủ quan, làm tắt quy trình, không xác
nhận lại với ngân hàng bạn về chứng thư bảo lãnh được làm trước.
Ví dụ: Việc làm giả chứng thư bảo lãnh của ngân hàng bắt đầu được dư luận
chú ý sau sự kiện 2 chứng thư bảo lãnh của Ngân hàng HSBC bị làm giả. Lợi dụng
việc quản lý con dấu của Ngân hàng HSBC sơ hở một nhân viên của ngân hàng này
đã lấy dấu đóng lên phôi giấy có biểu tượng HSBC rồi liên hệ với những doanh
nghiệp có nhu cầu xin chứng thư bảo lãnh để lừa đảo. Do cần tiền, nhiều doanh
nghiệp đã chấp nhận chi 4% để có được chứng thư bảo lãnh này. Cơ quan điều tra đã
có sự đánh giá, kiểm soát thường xuyên của bên được bảo lãnh, đòi hỏi đội ngũ lãnh
đạo điều hành của bên được bảo lãnh phải có tầm nhìn sâu rộng, và xây dựng được
những kế hoạch dự phòng cần thiết.
e) Khủng hoảng tài chính tiền tệ, suy thoái kinh tế: Đây cũng là một trong
những nguyên nhân dẫn tới rủi ro trong hoạt động bảo lãnh khi bên được bảo lãnh
không thực hiện được nghĩa vụ cam kết.
Ví dụ: Cụ thể trong cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ giai đoạn 2007-2009
vừa qua là một ví dụ ảnh hưởng từ các yếu tố vĩ mô đến nhiều khách hàng của các
ngân hàng thương mại. Việc hủy hợp đồng giao kết của các công ty nước ngoài (bên
thụ hưởng) làm đình trệ hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty trong nước
(bên được bảo lãnh); hay suy thoái kinh tế làm các chi phí hoạt động để thực hiện
giao kết hợp đồng của bên được bảo lãnh gia tăng dẫn tới khó khăn trong thực hiện
hợp đồng đúng hạn trong khi việc thỏa thuận với bên thụ hưởng để gia hạn việc thực
hiện hợp đồng trở nên khắt khe hơn. Đây là lý do mà ngân hàng bảo lãnh phải thực
hiện nghĩa vụ thay cho bên được bảo lãnh. Tiếp đó, suy thoái kinh tế khiến bên được
bảo lãnh khó khăn cả trong việc trả nợ ngân hàng bảo lãnh sau khi nhận nợ bắt buộc
từ ngân hàng này.
2.2 Đánh giá kết quả hoạt động bảo lãnh của các ngân hàng trong hệ thống
NHTM Việt Nam:
Kết quả hoạt động bảo lãnh của NHTM Việt Nam cho thấy nghiệp vụ này đã
có sự phát triển trong thời gian qua. Cụ thể:
2.2.1 Đa dạng về chủng loại:
Hiện nay, ở Việt Nam các loại hình dịch vụ bảo lãnh ở các ngân hàng tương
đối phát triển. Tủy theo nhu cầu của khách hàng, các NHTM rất linh hoạt trong việc
phát hành các loại hình bảo lãnh. Tuy nhiên tùy thuộc vào qui mô vốn mà từng ngân
hàng áp dụng đầy đủ hoặc một trong số các loại hình như nói ở trên. Một số dịch vụ
bảo lãnh của các ngân hàng:
Ngân hàng Các loại bảo lãnh
Vietcombank
Bảo lãnh vay vốn
Bảo lãnh đối ứng
Các loại bảo lãnh khác theo yêu cầu
khách hàng
Agribank
Bảo lãnh vay vốn
Bảo lãnh dự thầu
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Bảo lãnh thanh toán
Bảo lãnh hoàn trả tiền ứng trước
Bảo lãnh đối ứng
Bảo lãnh bảo đảm chất lượng sản phẩm
Đồng bảo lãnh
Bảo lãnh khác
Xác nhận bảo lãnh
ACB
Bảo lãnh vay vốn
Bảo lãnh thanh toán
Bảo lãnh dự thầu
Bảo lãnh thực hiện hợp đồng
Bảo lãnh bảo hành
Bảo lãnh hoàn thanh toán
Bảo lãnh thanh toán thuế
Các loại bảo lãnh khác
Vietinbank
ngày một tăng. Điều này thể hiện ở: doanh thu tăng trưởng nhanh qua các năm; số vụ
bảo lãnh tăng cao; qui mô bảo lãnh tăng; tỷ trọng doanh thu từ hoạt động bảo lãnh
của các ngân hàng đều tăng.
Xu hướng nền kinh tế là việc chứng khoán hóa các khoản nợ, các doanh nghiệp
ưa thích việc chứng khoán hóa các khoản nợ, các doanh nghiệp ưa thích việc tài trợ
vốn thông qua thị trường chứng khoán bằng việc phát hành chứng khoán nợ và
chứng khoán vốn. Do đây là kênh huy động vốn trung và dài hjan với chi phí thấp
nên được doanh nghiệp ưa chuộng hơn vay ngân hàng. Theo luật Việt Nam chỉ có
hai tổ chức được bảo lãnh phát hành chứng khoán ra công chúng là NHTM và công
ty chứng khoán được cấp phép hoạt động bảo lãnh.
Và một nguyên nhân không kém phần quan trọng thúc đẩy hoạt động bảo lãnh
gia tăng nhanh chóng trong những năm gần đây là việc cả ngân hàng và khách hàng
đểu ý thức được mặt trài của sự tăng trường, toàn cầu hóa nền kinh tế thế giời đó là
hiệu ứng domino của các nền kinh tế trước những biến động kinh tế như: suy thoai,
khủng hoảng, lạm phát… (mà thực tế là từ năm 2008 đến nay kinh tế thế giới đang
phải gánh chịu) làm tăng nhu cầu về các phương tiện hạn chế rủi ro trong đó có hoạt
động bảo lãnh ngân hàng.
2.2.4 Mức độ an toàn được nâng cao:
Cùng với việc mở rộng qui mô kinh doanh, các NH cũng ngày càng chú trọng
đến mức độ an toàn. Mức độ an toàn được thể hiện ở số vụ ngân hàng phải trả thay
khách hàng là không nhiều, nhiều ngân hàng con số này giảm dù qui mô tăng. Cá
biệt tại nhiều chi nhánh ngân hàng chưa phải thực hiện nghĩa vụ tài chính cho khách
hàng lần nao, nhu tại nhiều chi nhánh của BIDV, Vietcombank…Bên cạnh đó phải
GVHD: PGS.TS. TRẦM THỊ XUÂN HƯƠNG Nhóm 7 – Lớp NH Đêm1 –K2
25 kể đến số hợp đồng bảo lãnh kí quĩ 100% là khá nhiều, với các hợp đồng này thì mức
độ an toàn rất cao.
Điều này có được là do công tác thẩm định khách hàng trong hoạt động bảo
các ngân hàng.
Hoạt động bảo lãnh kéo theo việc phát triển các hoạt động khác của ngân hàng như:
kinh doanh ngoại tệ, tư vấn, thanh toán….
2.2.6 Chất lượng bảo lãnh ngày càng tăng cao:
Chất lượng bảo lãnh ngày càng tăng cao đặc biệt là trong những năm gần đây
không những tăng nhanh về doanh số cung như thu nhập mà số lượng khách hàng
tham gia hoạt động ngày một tăng.
Các ngân hàng đang chú trọng tới việc mở rộng đối tượng khách hàng. Phí thu
từ bảo lãnh ngày càng tăng góp phần đáng kể vào nguồn thu phí dịch vụ của ngân
hàng.
Trên bình diện kinh tế, nhiều doanh nghiệp nhờ có bảo lãnh mà giải quyết